Bài 4: Vệ sinh môi trường không khí và ô nhiễm không khí (20 tiết)
Bộ môn SKMT_YTB
MỤC TIÊU:
1. Định nghĩa môi trường không khí, mô tả được vai trò của không khí đối với
sự sống con người và sinh vật.
2. Liệt kê được các chỉ số đánh giá vệ sinh trong môi trường không khí, tiêu
chuẩn chất lượng môi trường không khí cho phép ngưỡng tối đa của một số
chất khí.
3. Định nghĩa được thế nào là ô nhiễm không khí, nêu khái quát về lịch sử của
sự ô nhiễm không khí.
4. Nêu được các nguồn gây ô nhiễm, các tác nhân gây ô nhiễm, và quá trình
gây ô nhiễm, các tác hại của ô nhiễm không khí.
5. Đề xuất được các biện pháp bảo vệ và khống chế sự ô nhiễm môi trường
không khí.
NỘI DUNG:
1. Định nghĩa môi trường không khí, cấu trúc khí quyển
1.1. Định nghĩa môi trường không khí, cấu trúc khí quyển
1.1.1. Định nghĩa môi trường không khí
Các yếu tố vật lý của không khí
Các yếu tố vật lý của không khí bao gồm: các dạng bức xạ, nhiệt độ, độ ẩm,
tốc độ chuyển động của không khí, áp suất khí quyển, diện tích khí quyển.
• Các dạng bức xạ
Đó là các bức xạ mặt trời, bức xạ hồng ngoại, ánh sáng nhìn thấy, bức xạ vô
tuyến, bức xạ ion hoá, tia Rơnghen, tia Gama Tất cả các bức xạ trên hợp thành
phổ các bức xạ điện từ hay ánh sáng (theo nghĩa rộng), đó là những sóng điện từ
có bước sóng khác nhau.
Về phương diện sinh học chúng ta có thể phân loại như sau:
+ Bức xạ nhiệt: bức xạ vô tuyến, tia hồng ngoại.
+ Bức xạ kích thích: tia tử ngoại, ánh sáng nhìn thấy.
+ Bức xạ ion hoá: tia Rơnghen, tia Gama.
+ Bức xạ mặt trời: Nguồn năng lượng nhiệt và ánh sáng chiếu trên trái đất là
không khí có thể giữ được ở một nhiệt độ nhất định hay là
sức trương của hơi nước bão hoà tính bằng mmHg ở nhiệt độ nhất định. Độ ẩm tối
đa tăng theo tỷ lệ thuận với nhiệt độ không khí.
* Độ ẩm tương đối (Humidité relative) (Hr): là tỷ lệ phần trăm giữa độ ẩm
tuyệt đối và độ ẩm tối đa:
Ha
Hr (%) = × 100
Hm
• Sự chuyển động của không khí
Nguyên nhân có sự chuyển động của không khí là do mặt trời hun nóng mặt
trái đất không đều gây ra sự khác nhau giữa nhiệt độ và áp lực trên mặt đất, tạo ra
sự chuyển động của các luồng không khí gọi là gió.
Gió ở nước ta có hai loại: gió mùa và gió địa phương. Do sự tự quay của trái
đất, do chuyển động và đối lưu của không khí nên gió mang tính chất cục bộ và
địa phương.
• Áp suất của khí quyển
Ở nhiệt độ 0
0
C và độ cao ngang mặt nước biển, áp suất của không khí là
760mmHg (1 Atmotphe = 101,2 milibar).
Trong ngày sự dao động của áp suất không đáng kể, trong năm sự dao động
này khoảng 20 - 30 milibar.
• Nhiệt độ hiệu lực
Nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió cùng phối hợp tác động trên cơ thể theo những
tổ hợp khác nhau về mức độ, cơ thể đáp ứng lại không phải riêng biệt với từng
yếu tố mà là tổng hợp cả ba yếu tố trên bằng một cảm giác nhiệt nào đó. Người ta
dùng đơn vị để đánh giá tổng hợp cả ba yếu tố trên đó là nhiệt độ hiệu lực.
Nhiệt độ hiệu lực là sự tác động của các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm và tốc độ gió
trên cơ thể con người.
Người ta ký hiệu nhiệt độ hiệu lực là Tc ( Temperatue concequan)
trung bình cứ lên cao 100 m thì nhiệt độ hạ xuống 0,60C. Ở miền vĩ độ trung bình
thì giới hạn trên của tầng đối lưu có nhiệt độ từ: -500C đến - 600C.
Trong tầng đối lưu hơi nước bốc lên từ mặt đất, trong những điều kiện
nhất định có thể ngưng kết thành mây, sương, tuyết, đá,
Lớp đối lưu giới hạn là lớp trung gian giữa tầng bình lưu và tầng đối lưu ở
lớp này nhiệt độ ổn định, không hạ thấp xuống nữa.
• Tầng bình lưu (tầng tinh khí)
Tầng này dầy khoảng 70 - 80 Km, chia làm 3 lớp:
- Lớp dưới (lớp đẳng nhiệt): Tính từ tầng đối lưu giới hạn cho đến 30 - 35
km, nhiệt độ trong lớp này khoảng: - 55
0
C.
- Lớp trung bình (lớp nóng): ở lớp này nhiệt độ bắt đầu tăng lên và khi lên
tới 60 km thì nhiệt độ đạt tới 65
0
C - 75
0
C. Nhiệt độ tăng ở đây là do Ozôn hấp thụ
bức xạ tử ngoại.
- Lớp trên (lớp lạnh): Từ 60 - 80 km, ở lớp này nhiệt độ giảm đi rất nhanh
theo độ cao. Không khí ở tầng này chỉ chuyển động theo chiều ngang.
• Tầng điện ly
Là vùng không khí rất loãng nằm trên tầng bình lưu. Tầng này có khả năng
dẫn điện mạnh do sự tác động của tia cực tím và các phân tử ion hoá.
1.1.3. Thành phần hóa học của không khí
• So sánh giữa khí trời và khí thở.
Các chất CO
2
(%) O
2
+ Oxy (O
2
)
Oxy là yếu tố cần thiết cho các hoạt động sống của con người và sinh vật
nói chung. Bình thường cứ 1 giờ người ta tiêu thụ 25 lit khí oxy và thải ra 22 lit
khí CO
2
, song lượng oxy của không khí gần như không thay đổi do oxy được đền
bù từ các phần xanh của thực vật. Oxy của không khí chỉ giảm đi ở những nơi
đông người và khi lên cao.
+ Cacbonic (CO
2
)
Cacbonic chiếm 0,03 - 0,04 %. Nguồn gốc của khí này là do quá trình thở
ra của con người và động vật, quá trình thối rữa và phân giải các chất hữu cơ, quá
trình đốt cháy các nhiên liệu, do bốc lên từ hầm mỏ, núi lửa, suối khoáng
Thảo mộc, mây, mưa, tuyết, đá, mặt biển và đại dương là những yếu tố
làm cân bằng lượng cacbonic trong không khí.
Cacbonic có vai trò trong điều hoà hô hấp: Khi tăng nồng độ khí này thì kích
thích trung tâm hô hấp và ngược lại.
+ Nitơ (N
2
)
Ni tơ là yếu tố cần thiết cho cây cối. Trong không khí Ni tơ là thành phần
chính chiếm 78% thể tích không khí.
+ Ozôn (O
3
)
Trong không khí Ozôn được hình thành nhờ các tác dụng của hiện tượng
phóng điện trong không trung. Lượng khí này trong không khí thường rất thấp: 0,2
Không khí là một trong những yếu tố quan trọng của ngoại cảnh. Mối liên
quan giữa không khí và con người thể hiện như sau:
Thành phần vật lý và hoá học của không khí cần duy trì ở mức độ nhất định.
Nếu các yếu tố đó thấp hơn hoặc cao hơn mức bình thường đều không có lợi cho
sức khoẻ.
Không khí cung cấp oxy cho cơ thể tham gia chuyển hoá, duy truỳ sự sống.
Không khí ảnh hưởng đến cân bằng nhiệt và các chức phận sinh lý khác.
Thành phần lý học của không khí có ảnh hưởng đến khí hậu và thời tiết của
địa phương, khu vực.
Khí hậu và thời tiết
Khí hậu là chế độ thời tiết trong nhiều năm và phụ thuộc vào bức xạ mặt
trời, tính chất của đất (nhẵn, có cỏ, bụi rậm, rừng cây ), và sự chuyển động của
không khí. Khí hậu là tất cả các thời tiết thấy ở một nơi. Khí hậu bền hơn thời tiết,
thay đổi rất chậm qua hàng thế kỷ.
Thời tiết là tình trạng lý học của không khí, nó phụ thuộc vào một số yếu tố
như: nhiệt độ, độ ẩm và sự chuyển động của không khí, mưa, Thời tiết thường
không bền và có thể thay đổi nhiều lần trong ngày.
Đặc điểm của khí hậu thời tiết Việt nam là nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm,
mưa nhiều và thay đổi đột ngột. Do đặc điểm của khí hậu nước ta nên từ tháng 5
đến tháng 10 có phong trào phòng chống các bệnh mùa hè vì thời tiết nóng ẩm là
yếu tố kích thích côn trùng phát triển như ruồi, nhặng con người rất dễ mắc các
bệnh đường tiêu hoá như ỉa chảy, giun sán. Mặt khác do nhiệt độ về mùa hè tăng
cao nên cần chú ý phòng chống say nóng nơi sản xuất và say nắng khi làm việc
ngoài trời. Thời gian từ tháng 11 đến tháng 4 do thời tiết lạnh và khô tạo điều kiện
thuận lợi cho các bệnh đường hô hấp, tim mạch, khớp, còi xương, chấy rận phát
triển nên phải giữ ấm cho cơ thể đặc biệt là trẻ nhỏ, người già, người ốm và những
người làm việc ở ngoài trời trong những ngày nhiệt độ môi trường xuống quá thấp.
Cơ thể con người có những phản xạ có điều kiện để thích nghi với điều kiện
khí hậu nơi mình sinh sống. Sự thích nghi đó còn phụ thuộc vào điều kiện xã hội
và sinh hoạt của từng nơi.
3
- H
2
S
2.2. Tiêu chuẩn chất lượng môi trường không khí cho phép
2.2.1. Tiêu chuẩn các chất theo quy chuẩn Quốc gia 2009
+ Đánh giá ô nhiễm không khí dựa theo tiêu chuẩn chất lượng không khí
xung quanh TCVN 5937/2005 (quy chuẩn Quốc Gia 2009). Bao gồm các chỉ tiêu
như sau:
. CO: 30.000µg/m
3
(trong 1 giờ)
. H
2
S: 42 µg/m
3
(TB/trong 1 giờ)
. NH
3
: 200µg/m
3
(TB/trong 1 giờ)
. SO
2
: 350µg/m
3
(TB/trong 1 giờ)
. Pb: 1,5 µg/m
3
(TB/trong 24 giờ)
- WHO (1969) đề nghị áp dụng mức độ cho phép các chất độc trong không khí như:
Chất độc
Nồng độ tối đa cho phép trong không
khí (mg/m
3
)
HCl 5-7
Phosgen (Cacbon oxy clorua) 0,4-0,5
H
2
S 10-15
SO
2
10-13
H
2
SO
4
và SO
3
1
O
3
0,1-0,2
NH
3
20-35
As 0,2-0,3
Nitro benzen 20-35
Dinitro benzen 3-5
2
/năm mg/m
3
Khu vực trong sạch < 100 0,25 0,01
Ô nhiễm nhẹ < 130 1,00 0,023
Ô nhiễm vừa < 200 2,00 0,03
Ô nhiễm nặng < 300 3,00 0,04
Ô nhiễm quá nặng < 500 4,00 0,08
Ô nhiễm rất nặng < 700
≥ 5,00 và hơn ≥ 0,08
3. Ô nhiễm không khí
3.1. Định nghĩa ô nhiễm không khí
- Hầu hết chúng ta đã có lần phải tiếp xúc với môi trường không khí bị ô
nhiễm, có người đã phải nhiều lần hoặc khá thường xuyên tiếp xúc với môi trường
không khí ô nhiễm.
- Khi chúng ta đứng trên bờ biển của thành phố New york hoặc thành phố
Los Anggeles thì sẽ thấy những đám mây màu nâu đỏ bao phủ trên bầu trời
thành phố và thấy chúng trôi từ từ về phía bờ biển.
- Nếu ngồi trên những ngôi nhà chọc trời ở các thành phố công nghiệp như
Denver, Los Anggeles, Sanfrancisco sẽ nhìn thấy những đám khói đen bao phủ
quanh ta.
Tất cả những điều đó là biểu hiện của ô nhiễm không khí.
- Trước đây, ngưòi ta coi hình ảnh của ống khói của nhà máy nhả vào không
khí là hình ảnh của sự tiến bộ và phát triển thì ngày nay những ống khói đó là biểu
hiện của sự ô nhiễm không khí.
Ô nhiễm không khí là trong không khí có mặt một chất lạ hoặc có một sự
biến đổi quan trọng trong thàmh phần không khí gây ra tác động có hại hoặc một
sự khó chịu: mùi khó chịu hoặc giảm tầm nhìn xa do bụi
- Chất ô nhiễm không khí là một chất có trong khí quyển nhưng ở nồng độ
cao hơn bình thường hoặc chất đó bình thường không có trong không khí.
2
, NO
2
, CO, HF và một số hoá chất khác.
Ô nhiễm môi trường không khí ở nhiều làng nghề đã tới mức báo động, một
số bài báo đã đánh giá một cách đáng lo ngại là "sống giàu, nhưng chết mòn" đối
với làng tái chế nilông Minh Khai (Như Quỳnh, Hưng Yên); "hít khói ăn tiền" ở
xã Chỉ Đạo (Văn Lâm, Hưng Yên) - tái chế chì, hay là "những làn khói độc" ở
làng gốm Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội). Ở rất nhiều làng nghề, đặc biệt là các làng
nghề ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ, đang kêu cứu về ô nhiễm môi trường không khí.
Nguồn ô nhiễm không khí từ sinh hoạt đun nấu của nhân dân. Ở nông thôn
nước ta thường đun nấu bằng củi, rơm, cỏ, lá cây và một tỷ lệ nhỏ đun nấu bằng
than. Nhân dân ở thành phố thường đun nấu bằng than, dầu hoả, củi, điện và khí tự
nhiên (gas). Đun nấu bằng than và dầu hoả sẽ thải ra một lượng chất thải ô nhiễm
đáng kể, đặc biệt nó là nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi trường không khí
trong nhà, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người dân. Trong những năm gần
đây, nhiều gia đình trong đô thị đó sử dụng bếp gas thay cho bếp đun bằng than
hay dầu hoả.
Ô nhiễm không khí SO
2
, NO
2
và CO. Nồng độ trung bình 1 giờ, cũng như
trung bình ngày của các khí trên trong không khí ở gần hầu hết các đô thị Việt
Nam đều nhỏ hơn hoặc xấp xỉ trị số tiêu chuẩn cho phép, tức là chưa bị ô nhiễm
khí SO
2
, NO
2
và CO.
, NH
3
… đều là những loại khí chính gây hiệu
ứng nhà kính; trong khi đó ước tính ở Hà Nội có khoảng 1 triệu tấn/năm chất thải
rắn được thải ra môi trường. Chỉ một phần nhỏ của chất thải rắn được ủ để làm
phân bón, một phần được dùng trực tiếp tưới cho hoa màu và nuôi cá. Chất thải
lỏng bao gồm nước tiểu, nước tắm cho vật nuôi, nước rửa chuồng đa phần đều
chảy trực tiếp ra hệ thống cống thoát nước chung trong khu dân cư.
Tổ chức Nông lương Liên Hiệp Quốc (FAO) cho thấy ngành chăn nuôi đó
và đang gây ra những vấn đề môi trường nghiêm trọng như thoái hoá đất, biến đổi
khí hậu và ô nhiễm không khí, thiếu nước và ô nhiễm nước, mất đa dạng sinh học.
Trong đó, ngành chăn nuôi phải chịu trách nhiệm về 18% trong tổng lượng phát
thải khí nhà kính của toàn cầu, cao hơn cả ngành giao thông vận tải. Lượng phát
thải CO
2
từ chăn nuôi chiếm 9% toàn cầu, chủ yếu là do hoạt động chuyển đổi
mục đích sử dụng đất - đặc biệt là phá rừng để mở rộng các khu chăn nuôi và các
vùng trồng cây thức ăn gia súc.
+ Ở Việt Nam những vùng bị coi là ô nhiễm nặng như: Dệt 8/3, cơ khí Mai
động, xí nghiệp hoá chất Ba Nhất (Bạch Mai), khu công nghiệp Thượng Đình, nhà
máy hoá chất Việt Trì, khu công nghiệp Biên Hoà
- Nồng độ SO
2
ở Mai động Minh Khai (Nhà máy dệt 8/3 và nhà máy cơ
khí Mai Động) tăng gấp 8- 16 lần tiêu chuẩn cho phép.
- Bụi không khí của nhà máy xi măng Hải Phòng, khu dân cư tăng gấp3-4
lần so với tiêu chuẩn cho phép.
- Khu dân cư quanh nhà máy hoá chất, nhà máy đường, nhà máy giấy thành
phố Việt Trì: Bụi tăng gấp 7-10 tiêu chuẩn cho phép, SO
2
- Các chất thải phóng xạ
- Các chất lơ lửng: bụi rắn, bụi lỏng, vi sinh vật
- Nhiệt độ
- Tiếng ồn
+ Các chất gây ô nhiễm không khí thường ở các dạng:
- Rắn: bụi, muội
- Sương
- Khí
Các chất ô nhiễm nhân tạo đều từ ba nguồn sau:
+ Nguồn ô nhiễm công nghiệp
- Ống khói từ các nhà máy xí nghiệp thải vào môi trường không khí nhiều
chất độc hại.
- Từ các quá trình công nghệ sản xuất do bốc hơi, dò rỉ, thất thoát trên dây
chuyền sản suất, trên đường ống dẫn tải
- Các chất thải do các quá trình công nghệ này có đặc điểm là nồng độ cao,
tập trung trong khoảng không gian nhỏ. Ví dụ: nhà máy nhiệt điện, nhà máy hoá
chất, nhà máy luyện kim, ngành công nghiệp
+ Nguồn ô nhiễm do giao thông vận tải
Nguồn này nảy sinh ra 2/3 là khí Cacbonic, ngoài ra còn có khí
Hydrocacbon, Nitơ oxyt.
Đặc điểm của nguồn này là ô nhiễm thấp chủ yếu ở hai bên đường.
+ Nguồn ô nhiễm do sinh hoạt của con người gây ra, nguồn này chủ yếu do
bếp đun, lò sưởi sử dụng các nhiên liệu như than, củi, dầu hoả và khí đốt.
Đặc điểm của nguồn này nhỏ mang tính chất cục bộ.
3.3.2. Yếu tố ảnh hưởng đến khuyếch tán ô nhiễm không khí
- Yếu tố khí tượng: nhiệt độ, độ ẩm, gió
- Địa hình: đồng bằng, đồi núi, nhà, các cônng trình xây dựng
Muốn đánh giá mức độ ô nhiễm không khí, kiểm tra, kiểm soát và dự báo
cũng như phòng ngừa ô nhiễm không khí cần phải xác định được nồng độ mỗi
chất gây ô nhiễm trong môi trường không khí.
Clo, mỗi nguyên tử Clo được giải phóng ra sẽ phản ứng dây chuyền với hàng trăm
ngàn phân tử Ozôn và chuyển Ozôn thành Oxy. Chính vì vậy nguồn Ozôn trong
tầng bình lưu bị giảm, làm cho ánh sáng mặt trời chiếu xuống trái đất nhiều hơn do
vậy nhiệt độ trái đất tăng, bức xạ tử ngoại chiếu xuống trái đất cũng tăng.
- Sự phát triển của ngành hàng không, máy bay ở độ cao 16- 24 km thì các
động cơ của máy bay làm suy giảm tầng Ozôn.
+ Hậu quả của ô nhiễm nhiệt: do suy gảm tầng Ozôn dẫn đến:
- Nhiệt độ trái đất tăng: làm tan các tảng băng gây lụt lội và thay đổi thời tiết
-Bức xạ tử ngoại xuống trái đất cũng tăng: làm huỷ hoại sinh vật trên trái đất,
ảnh hưởng đến sức khoẻ con người
- Theo tính toán lý thuyết người ta thấy cứ giảm bức xạ mặt trời xuống mặt
đất 1% thì nhiệt độ trung bình của không khí mặt đất giảm đi 1,5
0
C.
• Sunfuarơ Andehyt (SO
2
)
- Khí Sunfuarơ Andehyt có trong không khí là do đốt cháy các nhiên liệu có
chứa lưu huỳnh. Chất này có nồng độ cao trong không khí của các điểm dân cư,
mỏ than, dầu mazut
- Hàng năm trên thế giới thải ra trên 140 triệu tấn Sunfuarơ Andehyt
và người ta dự tính những năm 2000 sẽ là trên 300 triệu tấn.
- Các nhà khoa học đã làm các thí nghiệm và cho biết Sunfuarơ Andehyt có
nồng độ thấp cũng có thể gây co thắt các loại cơ thẳng của phế quản, ở nồng độ
cao gây tăng tiết chất nhày ở thành đường hô hấp trên.
Tuy nhiên sức đề kháng của cơ thể tăng lên khi chịu tác dụng lâu dài của
chất này
- Sunfuarơ Andehyt trong không khí sẽ kết hợp với Oxy tạo thành Andehyt
sufuaric, chất này gặp nước trong không khí tạo thành axit sunfuaric
SO
- Chì được sản sinh ra khi đốt cháy các loại xăng có pha chì (Tetraetyl
chì), cứ 1lit xăng có 0,8ml Tetraetyl chì.
- Sự có mặt của chì trong không khí điểm dân cư thường rất ít, mà chì
chủ yếu xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá
- Chì có khả năng gây nhiễm độc tích luỹ - nhiễm độc mạn tính.
• Hợp chất Flo
- Nguồn đưa Flo vào trong không khí là các quá trình tự nhiên, đốt
nhiên liệu: than,
- Flo có thể gây tổn thương phần hở của cơ thể như da và niêm mạc, tuy
nhiên chúng ta còn biết rất ít ảnh hưởng của chất này đối với cơ thể.
Các hoá chất khác
- Thuốc bảo vệ thực vật có chứa Clo dùng phun trừ sâu, diệt cỏ, kích
thích cây trồng, diệt côn trùng có cánh,
- Hydrocacbua thơm đa vòng: dùng trong thí nghiệm gây ung thư trên
động vật.
- Chất đồng vị phóng xạ: do mất đi lớp đất và vỏ bề mặt bao phủ tự
nhiên, các vụ nổ vũ khí hạt nhân, sử dụng các đồng vị phóng xạ vào trong nghiên
cứu khoa học, điều trị, công nghiệp, nông nghiệp,
3.4. Tác hại của ô nhiễm không khí
3.4.1. Các chất độc gây bệnh lý đối với con người
* Các chất độc gây hại với sức khỏe
- Aldehyt: chất này phân ly từ các chất dầu mỡ và glyxerin. Aldehyt gây
buồn phiền, cáu gắt, ảnh hưởng đến cơ quan hô hấp
- Amoniac: từ quá trình sản xuất đạm, sơn, chất nổ. Amoniac gây viêm
đường hô hấp
- Arsin (AsH
3
): Do sử dụng que hàn sắt, thép chất này gây giảm hồng
cầu, độc với thận, da.
- Oxyt Cacbon (CO): Giảm bớt khả năng lưu chuyển oxy máu
Hen Nặng hơn do kích thích phổi
Cơ địa dị ứng của phổi,
và dị ứng đường thở
.Viêm phế quản
mãn tính
Ho trầm trọng hơn, nhiều đờm
(tần xuất xuất hiện triệu trứng
tăng) liên quan tới các chất ô
nhiễm
Hút thuốc bệnh nghề
nghiệp
Chết
Bụi siêu nhỏ làm tăng tỷ lệ tử
vong do các bệnh tim mạch và
phổi, người ta chưa biết cơ chế.
Có tiền sử bệnh tim mạch
và phổi
Đau nhức mắt
Ảnh hưởng đặc thù của các chất
oxit hóa quan, có thể là andehit
hay peroxyacety nitrates, bụi mịn
Tính nhạy cảm
Đau đầu
Lượng CO đủ để tạo ra một lượng
HbCO cao hơn 10% trong máu
Hút thuốc có thể cũng
làm tăng HbCO nhưng
khộng đủ để dẫn tới.
Ngộ độc chì Làm yếu cơ thể người bệnh Ở gần nguồn ô nhiễm
Tác hại phổ biến nhất của ô nhiễm không khí là gây ra những triệu chứng về
đặ biệt là các andehit.
Mối liên quan giữa ung thư với các thành phần hữu cơ gây ô nhiễm không
khí đã thu hút được nhiều sự quan tâm, nhưng hiện nay các nhà khoa học vẫn chưa
chứng minh được rằng liệu các chất hữu cơ gây ô nhiễm xung quanh có thực sự
liên quan với bệnh ung thư hay không. Có rất ít bằng chứng cho thấy ô nhiễm
không khí trong cộng đồng là nguyên nhân chính gây ung thư, ngoại trừ một số
trường hợp đặc biệt. Ví dụ về ung thư liên quan với ô nhiễm không khí trong cộng
đồng do sự phát thải chất ô nhiễm tại một số điểm như từ các lò nấu kim loại
không đảm bảo chất lượng, giải phóng ra asen gây ung thư phổi. Đồng thời cũng
có một số bằng chứng đáng tin cậy cho thấy chất ô nhiễm không khí trong nhà
(radon) và tại nơi làm việc (amiang) có liên quan với ung thư phổi. Khói thuốc lá
có khả năng gây ung thư cao hơn asen, radon hay amiang trong không khí, nguy
cơ ung thư tăng lên nhiều lần nếu phơi nhiễm với những độc chất này.
Tích tụ chì gây ảnh hưởng tiêu cực lên hệ thần kinh trung ương và có thể làm
giảm khả năng hấp thu của trẻ em. Ở nhiều nước trên thế giới, do chì có trong
xăng dầu nên phơi nhiễm với chì chủ yếu là do ô nhiễm không khí. Thậm chí ở các
nơi cấm sử dụng xăng pha chì thì vẫn còn chì trong môi trường.
Có một số tài liệu cho thấy nhiều trường hợp tử vong do nhiều nguyên nhân
khác nhau có liên quan đến phơi nhiễm các hạt ô nhiễm không khí cỡ nhỏ (các hạt
mịn) trong thời gian ngắn. Ô nhiễm không khí có liên quan với tỷ lệ tử vong cao
và thường xảy ra với người bị rối loạn đường hô hấp hoặc tim mạch. Kết quả của
những nghiên cứu gần đây cho thấy mối tương quan giũa nồng độ các hạt ô nhiễm
không khí trong môi trường đô thị và tỷ lệ tử vong từ nhiều nguyên nhân khác
nhau bao gồm cả các bệnh liên quan tới phổi. Những kết quả này thật bất ngờ vì
nồng độ nghiên cứu thấp hơn nhiều so với nồng độ mà trước đấy đã được chững
minh là có liên quan với việc gia tăng tỷ lệ tử vong. Lý do về những kết quả mới
này có thể là do việc áp dụng thống kê quần thể trên một diện tích rộng và phương
pháp đo đạc phơi nhiễm, như PM
2,5
chính xác hơn so với những phương pháp sử