LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực tập tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã
nhận được nhiều sự giúp đỡ của các tập thể, cá nhân trong và ngoài trường.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Tài nguyên và
Môi trường và các thầy cô Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội đã tạo mọi
điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành quá trình thực tập tốt nghiệp.
Đặc biệt tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Ngô Thế Ân và thầy Cao
Trường Sơn là hai người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện
đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn Chi cục Bảo vệ Môi trường – Sở Tài nguyên và
môi trường tỉnh Tuyên Quang đã giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này
Cuối cùng tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè, những
người đã khích lệ tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp.
Tôi xin cam đoan những kết quả trong báo cáo này là sự thật.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 30 tháng 04 năm 2012
Sv. Nguyễn Thị Thuỳ Dung
i
MỤC LỤC
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Đặc trưng nguồn thải của một số nhà máy. Error: Reference source not
found
Bảng 2.2. Thành phần nước thải sinh hoạt khu dân cư Error: Reference source
not found
Bảng 4.1. Kết quả tính toán số lượng chất thải tỉnh Tuyên Quang năm 2011 Error:
Hình 2.3.Nước cần thiết cho thuỷ điện Error: Reference source not found
Hình 2.4 Dầu tràn ra biển trên cảng Đại Liên Error: Reference source not found
Hình 2.5 Rác thải trên sông Error: Reference source not found
Hình 2.6 Thuốc BVTV dùng trong quá trình canh tác Error: Reference source not
found
Hình 2.7 Sự phát triển của vi khuẩn và tảo làm càng làm tăng độ đục của nước
Error: Reference source not found
Hình 2.8 Bờ biển Barrow, Alaska trở thành một nơi chứa rác. Error: Reference
source not found
Hình 4.1. Biểu đồ biến động nhiệt độ và lượng mưa trung bình tại tỉnh Tuyên
Quang…………………………………………………………………….……….24
Hình 4.2. Biểu đồ cơ cấu kinh tế tỉnh Tuyên Quang năm 2011 Error: Reference
source not found
Hình 4.3. Một số thông số ô nhiễm nước thải chăn nuôi của trại bò Error: Reference
source not found
Hình 4.4. Nước thải sinh hoạt thải ra khu vực suối Chả Error: Reference source not
found
Hình 4.5. Hàm lượng BOD
5
và COD trong các mẫu phân tích nước sông Lô Error:
Reference source not found
Hình 4.6. Hàm lượng BOD
5
, COD trong các mẫu phân tích ở sông Gâm Error:
Reference source not found
vi
Hình 4.7. Hàm lượng Colifomrs trong các mẫu phân tích ở sông Gâm Error:
Reference source not found
nhiều thành công đáng khích lệ. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển đó thì mặt trái
của nó là vô số những hậu quả, trong đó ô nhiễm nước đang là một vấn đề thời
sự, một thực trạng đáng lo ngại vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quả của sự hủy
hoại môi trường tự nhiên, hủy hoại con người.
Việc khai thác nguồn tài nguyên trên địa bàn tỉnh phát triển khá nhanh
nhưng chưa được quy hoạch đồng bộ, vấn đề xử lý chất thải từ các khu vực công
nghiệp, đô thị, du lịch chưa được thực hiện nghiêm túc nên đã xuất hiện tình
trạng ô nhiễm nguồn nước một số khu vực.
1
Với tính cấp thiết của vấn đề trên chúng tôi tiến hành lựa chọn đề tài:”Đánh
giá hiện trạng chất lượng môi trường nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang”
nhằm cung cấp thêm một số thông tin thiết yếu giúp cho nhà quản lý môi trường
có những chiến lược quản lý chất lượng môi trường nước tỉnh mình một cách
hiệu quả và ổn định lâu dài.
1.2 Mục đích, yêu cầu
1.1.1 Mục đích
Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước trên địa bàn tỉnh Tuyên
Quang.
1.1.2 Yêu cầu
- Các nội dung nghiên cứu phải đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu của đề
tài đặt ra.
- Các số liệu, thông tin phải đảm bảo tính chính xác, trung thực và khoa
học.
2
Phần II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Nước và vai trò tài nguyên nước.
môi trường nước đóng vai trò quan trọng. Nước tham gia vào vai trò tái sinh thế
giới hữu cơ
( tham gia quá trình quang hợp). Trong quá trình trao đổi chất nước đóng vai trò
trung tâm, những phản ứng lý hóa học diễn ra với sự tham gia bắt buộc của
nước, nước là dung môi của nhiều chất và đóng vai trò dẫn đường cho các muối
đi vào cơ thể.
Trong khu dân cư, nước phục vụ cho mục đích sinh hoạt, nâng cao đời
sống tinh thần cho dân .
Đối với cây trồng nước là nhu cầu thiết yếu, đồng thời còn có vai trò điều
tiết các chế độ nhiệt, ánh sáng, chất dinh dưỡng, vi sinh vật, độ thoáng khí trong
đất…
Nước có vai trò cực kỳ quan trọng, do đó bảo vệ nguồn nước là rất cần
thiết cho cuộc sống con người hôm nay và mai sau.Hình 2.1. Nước cần cho SX nông nhiệp Hình 2.2. Nước cần cho GTVT
4Hình 2.3.Nước cần thiết cho thuỷ điện
2.2 Ô nhiễm môi trường nước
Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý - hoá
học - sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho
nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật, làm giảm độ đa dạng sinh
vật trong nước [11].
Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng ô
nhiễm môi trường nước như : sự gia tăng dân số; mặt trái của quá trình công
nghiệp hoá; hiện đại hoá; cơ sở hạ tầng yếu kém; lạc hậu; nhận thức của người
dân về vấn đề môi trường còn chưa cao… Đáng chú ý là sự bất cập trong hoạt
vô cơ hay hữu cơ tồn tại dưới dạng không hòa tan, keo và hòa tan. Thành phần
nồng độ chất bẩn tùy thuộc vào từng loại nước thải. Căn cứ vào nguồn gốc của
nguồn nước thải mà người ta phân loại như sau:
2.2.2.1 Ô nhiễm nước do hoạt động công nghiệp.
Nước thải loại này không có đặc điểm chung mà phụ thuộc vào các quy
trình công nghệ của từng loại sản phẩm. Nước thải từ các cơ sở chế biến nông
sản, thực phẩm và thủy sản (đường, sữa, bột tôm cá, rượu, bia,…) có nhiều chất
hữu cơ dễ bị phân hủy; nước thải của các xí nghiệp làm acquy có nồng độ axit
và chì cao,…
6
Bảng 2.1. Đặc trưng nguồn thải của một số nhà máy[11]
Đặc trưng nguồn thải
Nhà máy
giấy
Chứa nhiều Glucid dễ dậy men gây mùi khó chịu.
Nhà máy chế
biến thực
phẩm
Chứa nhiều protein, khi thải ra ngoiaf protein nhanh chóng bị
phân hủy ra acid amin, acid béo, H
2
S…. có tính độc, mùi khó
chịu.
Nhà máy bia Có hàm lượng hữu cơ cao, thường có màu xám đen và khi thải ra
môi trường gây ô nhiễm nặng do tốc độ phân hủy hữu cơ nhanh.
Sản xuất ắc
quy
Chất thải nguy hại, chứa một lượng lớn acid và nhiều chất rắn lơ
7
MPN/100ml.
7
Hàm lượng các chất gây ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt phụ thuộc vào
điều kiện sống, chất lượng bữa ăn, lượng nước sử dụng, hệ thống tiếp nhận nước
thải, đặc điểm nước thải của từng vùng dân cư chúng ta có thể tham khảo theo bảng
sau:
. Bảng 2.2. Thành phần nước thải sinh hoạt khu dân cư [2]
Chỉ tiêu Đơn vị Trong khoảng Trung bình
Tổng chất rắn (TS) mg/l 350-1.200 720
Chất rắn hoà tan (TDS) mg/l 250-850 500
Chất rắn lơ lửng (SS) mg/l 100-350 220
BOD
5
mg/l
110-400 220
Tổng Nitơ mg/l 20-85 40
Nitơ hữu cơ mg/l 8-35 15
Nitơ Amoni mg/l 12-50 25
Nitơ Nitrit mg/l 0-0,1 0,05
Nitơ Nitrat mg/l 0,1-0,4 0,2
Clorua mg/l 30-100 50
Độ kiềm
mgCaCO
3
/l
50-200 100
Trong hoạt động khoáng sản, nước được sử dụng với khối lượng lớn cho
hầu hết công đoạn sản xuất. Quá trình sản xuất, tháo khô mỏ, đổ thải, v.v , đã
gây những tác động tiêu cực tới nguồn nước sản xuất nông nghiệp ở khu vực
xung quanh khai trường. Sự phá vỡ cấu trúc của đất đá chứa quặng khi tiến
hành đào bới và khoan nổ sẽ thúc đẩy các quá trình hoà tan, rửa lũa các thành
phần chứa trong quặng và đất đá, quá trình tháo khô mỏ, đổ các chất thải vào
nguồn nước, chất thải rắn, bụi thải không được quản lý, xử lý chặt chẽ, tham gia
vào thành phần nước mưa, nước chảy tràn cung cấp cho nguồn nước tự nhiên,
9
là những tác động hoá học làm thay đổi tính chất vật lý và thành phần hoá học
của nguồn nước xung quanh các khu mỏ.
2.2.2.5 Ô nhiễm nước do các hoạt động giao thông vận tải
Hiện tượng khai thác mỏ dầu, vận chuyển ở biển và các chất thải bị nhiễm
xăng dầu là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước, ước tính
khoảng 1 tỷ tấn dầu được chở bằng giao thông đường biển mỗi năm. Một phần
của khối lượng này, khoảng 0,1 - 0,3% được ném ra biển một cách tương đối
hợp pháp: đó là sự rửa các tàu dầu bằng nước biển. Các tai nạn đắm tàu chở dầu
là tương đối thường xuyên. Ðã có 129 tai nạn tàu dầu từ 1973 - 1975, làm ô
nhiễm biển bởi 340.000 tấn dầu . Ước tính có khoảng 3.6 triệu tấn dầu thô thải
ra biển hàng năm . Một tấn dầu loang rộng 12 km2 trên mặt biển, do đó biển
luôn luôn có một lớp mỏng dầu trên mặt .Sự thải dầu nhớt xe tàu, hoặc là do vô
ý làm rơi vãi xăng dầu. Tốc độ thấm của xăng dầu lớn gấp 7 lần của nước, sẽ
làm các lớp nước ngầm bị nhiễm. Khoảng 1,6 triệu tấn hydrocarbon do các con
sông của các quốc gia kỹ nghệ hóa thải ra vùng bờ biển. [16]
Hình 2.4 Dầu tràn ra biển trên cảng Đại Liên
Qua đó, chúng ta thấy được ý thức của con người vẫn là nguyên nhân
chính dẫn đến sự ô nhiễm môi trường nước. Tài nguyên không phải là vô tận,
đối với sinh vật thủy sinh.
- Nhiễm độc thủy ngân (Hg): dưới dạng hợp chất rất độc đối với sinh vật
và người. Tai nạn ở vịnh Minamata ở Nhật Bản là một thí dụ đáng buồn, đã gây
11
tử vong cho hàng trăm Ô nhiễm nước và hậu quả của nó người và gây nhiễm
độc nặng hàng ngàn người khác…
Hình 2.5 Rác thải trên sông
2.3.3 Ô nhiễm do chất hữu cơ tổng hợp
Ô nhiễm này chủ yếu do hydrocarbon, nông dược, chất tẩy rửa
• Hydrocarbons (CxHy)
Sự ô nhiễm bởi các hydrocarbon là do các hiện tượng khai thác mỏ dầu,
vận chuyển ở biển và các chất thải bị nhiễm xăng dầu. Các vực nước ở đất liền
cũng bị nhiễm bẩn bởi hydrocarbon. Sự thải của các nhà máy lọc dầu, hay sự
thải dầu nhớt xe tàu, hoặc là do vô ý làm rơi vãi xăng dầu. Tốc độ thấm của
xăng dầu lớn gấp 7 lần của nước, sẽ làm các lớp nước ngầm bị nhiễm.
• Nông dược (Pesticides)
Các nông dược hiện đại đa số là các chất hữu cơ tổng hợp. Nguyên nhân
gây ô nhiễm là do các nhà máy thải các chất cặn bã ra sông hoặc sử dụng các
nông dược trong nông nghiệp, làm ô nhiễm nước mặt, nước ngầm và các vùng
cửa sông, bờ biển.
Sử dụng nông dược mang lại nhiều hiệu quả trong nông nghiệp, nhưng
hậu quả cho môi trường và sinh vật cũng rất đáng kể.
12
Hình 2.6 Thuốc BVTV dùng trong quá trình canh tác
2.3.4 Ô nhiễm bởi tác nhân vật lý
Các chất rắn không tan khi được thải vào nước làm tăng lượng chất lơ
2.4.2 Chất thải độc hại
2.4.2.1 Ðộc tố của ô nhiễm hoá học chính
Việc sử dụng nông dược để trừ dịch hại, nhất là phun thuốc bằng máy bay
làm ô nhiễm những vùng rộng lớn. Các chất này thường tồn tại lâu dài trong môi
trường, gây hại cho nhiều sinh vật có ích, đến sức khỏe con người. Một số dịch
hại có hiện tượng quen thuốc, phải dùng nhiều hơn và đa dạng hơn các thuốc trừ
sâu.
Ngoài ra các hợp chất hữu cơ khác cũng có nhiều tính độc hại. Nhiều chất
thải độc hại có chứa các hợp chất hữu cơ như phenol, thải vào nước làm chết vi
khuẩn, cá và các động vật khác, làm giảm O
2
tăng hoạt động vi khuẩn yếm khí,
tạo ra sản phẩm độc
14
2.4.2.2 Nông dược
Muối đồng, các chromates rất độc cho tảo với nồng độ nhỏ ở mức ppm.
Thuốc trừ cỏ rất độc với phiêu sinh thực vật. Thuốc trừ cỏ gốc urê (Monuron,
Diuron) cản ngăn sự tăng trưởng của Phytoflagellata ở nồng độ thấp ở mức ppb.
Ðáng ngạc nhiên là thuốc sát trùng cũng độc đối với phiêu sinh thực vật.
DDT và các thuốc trừ sâu khác ngăn cản quang hợp của phiêu sinh thực vật và
sự nẫy mầm của các tiếp hợp bào tử (zygospores) của tảo lục Chlorophyceae.
Các thuốc sát trùng thường có độc tố cao đối với động vật có xương sống
máu lạnh và các động vật không xương sống. Thuốc sát trùng thường đôcü hơn
thuốc diệt cỏ và thuốc trừ nấm trong lĩnh vực này.
Các nông dược sử dụng để trừ muỗi và xịt trong ruộng lúa có nồng độ sử
dụng cao hơn CL 50 nhiều lần.
Nông dược còn làm xáo trộn sự tạo phôi và phát triển hậu phôi của động
vật có xương sống thủy sinh. Lindane và Fenthion cản trở sự biến thái của nòng
Người dân ở cả nông thôn và thành thị đang phải đối mặt với nguy cơ mắc bệnh
do môi trường nước đang ngày một ô nhiễm trầm trọng [11].
2.5 Tình hình ô nhiễm nước trên thế giới và Việt Nam
2.5.1 Tình hình ô nhiễm nước trên thế giới
Trong thập niên 60, ô nhiễm nước lục địa và đại dương gia tăng với nhịp
độ đáng lo ngại. Tốc độ ô nhiễm nước phản ánh một cách chân thực tốc độ phát
triển kinh tế của các quốc gia. Xã hội càng phát triển thì càng xuất hiện nhiều
nguy cơ.
Từ các đại dương lớn trên thế giới, nơi chứa đựng hầu hết lượng nước trên
trái đất, nước luôn được lưu thông thường xuyên và sự ô nhiễm nếu xảy ra cũng
rất chỉ mang tính chất nhỏ bé nhưng nay cũng đang hứng chịu sự ô nhiễm nặng
nề, tùy từng đại dương mà mức độ ô nhiễm lại khác nhau. Nhiều vùng biển trên
thế giới đang bị ô nhiễm nghiêm trọng, đe dọa đến sự sống của các loài động vật
biển mà chủ yếu là nguồn ô nhiễm từ đất liền và giao thông vận tải biển gây nên.
16
Hình 2.8 Bờ biển Barrow, Alaska trở thành một nơi chứa rác
Anh Quốc chẳng hạn: Ðầu thế kỷ 19, sông Tamise rất sạch. Đến giữa thế
kỷ 20 nó trở thành ống cống lộ thiên. Các sông khác cũng có tình trạng tương tự
trước khi người ta đưa ra các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt [9]
Ở Hoa Kỳ tình trạng thảm thương do ô nhiễm nước cũng xảy ra ở bờ phía
đông, cũng như nhiều vùng khác. Vùng Ðại Hồ bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ
Erie, Ontario ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng [9].
Ở ngay tại Trung Quốc, hàng năm lượng chất thải và nước thải công
nghiệp thải ra ở các thành phố và thị trấn của Trung Quốc tăng từ 23,9 tỷ m
3
trong năm 1980 lên 73,1 tỷ m
3
trong năm 2006. Một lượng lớn nước thải chưa
Ví dụ: - Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh,
nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải
ước tính 500.000 m
3
/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt [16].
- Ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra chủ yếu từ các
cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than. Tổng lượng
nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sông
Cầu[16].
18
- Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt
nhuộm ở Bắc Ninh cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m
3
/ngày không qua
xử lý, gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực[11].
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội
và thành phố Hồ Chí Minh. Ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có
hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh,
mương). Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớn
các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng rác
thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được… là những nguồn quan
trọng gây ra ô nhiễm nước. Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ
ở các thành phố lớn là rất nặng.
Ở thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 -
400.000 m
3
/ngày; hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải,
chiếm 25% lượng nước thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải;