BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
***
NGUYỄN THANH CẢNH ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG
MÔI TRƯỜNG ĐẤT PHÈN TRỒNG LÚA
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2014BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
***
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực, chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Nội dung đề tài này là
những kết quả nghiên cứu, những ý tưởng khoa học được tổng hợp từ công
trình nghiên cứu, các công tác thực địa, phân tích do tôi trực tiếp tham gia thực
hiện.
Tôi xin cam đoan, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ
rõ nguồn gốc ./.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thanh Cảnh Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu: 2
1.3. Yêu cầu: 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
1.1 Quá trình hình thành đất 3
1.2 Quá trình hình thành đất phèn 3
1.3 Những nguyên nhân chính dẫn đến nhiễm mặn, chua và chua mặn đất 5
1.4 Tính chất của đất phèn 6
1.4.1 Phân loại đất phèn 6
1.4.2 Tính chất thổ nhưỡng, nông hóa của đất phèn 8
1.4.3 Chỉ thị sinh học trên đất phèn 13
1.5 Các kết quả nghiên cứu về đất phèn trên thế giới 16
1.6 Các kết quả nghiên cứu về đất phèn ở Việt Nam 19
1.7. Sử dụng và cải tạo đất phèn 23
1.7.1. Sử dụng đất phèn 23
1.7.2. Cải tạo đất phèn 23
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 27
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
2.2. Nội dung nghiên cứu 27
2.3. Phương pháp nghiên cứu 27
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội vùng nghiên cứu 32
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
3.1.1. Ví trí địa lý, địa hình vùng đồng bằng sông Cửu Long 32
3.1.2. Khí tượng thủy văn 33
3.2 Điều tra đánh giá tình hình sử dụng đất phèn trong sản xuất nông
nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long 37
Page vi
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Đồ thị 3.1. pHH2O tại các điểm quan trắc đất phèn năm 2013 42
Đồ thị 3.2. Diễn biến pHH2O các điểm đất phèn năm 200-2013 ( a: tầng 1,
b: tầng 2, c: tầng 3, d: tầng 4) 43
Đồ thị 3.3. Al3+ tại các điểm quan trắc đất phèn năm 2013 44
Đồ thị 3.4. Diễn biến hàm lượng Al
3+
các điểm đất phèn năm 2009– 2013
(a: tầng 1, b: tầng 2, c: tầng 3, d: tầng 4) 45
Đồ thị 3.5. Sắt trao đổi (Fe td) tại các điểm quan trắc đất phèn năm 2013 47
Đồ thị 3.6. Diễn biến hàm lượng Fetd các điểm đất phèn năm 2009 – 2013
(a: tầng 1, b: tầng 2, c: tầng 3, d: tầng 4) 47
Đồ thị 3.7. Lưu huỳnh ht (SO42- ht) tại các điểm quan trắc đất phèn năm
2013 48
Đồ thị 3.8. Diễn biến hàm lượng SO
4 ht
các điểm đất phèn năm 2009-2013
(a: tầng 1, b: tầng 2, c: tầng 3, d: tầng 4) 49
Đồ thị 3.9. Lưu huỳnh tổng số(Sts) tại các điểm quan trắc năm 2013 50
Đồ thị 3.10. Diễn biến hàm lượng Sts tại các điểm quan trắc năm 2009-2013 50
Đồ thị 3.11. Hàm lượng lân dễ tiêu tại các điểm quan trắc năm 2013 52
Đồ thị 3.12. Diễn biến hàm lượng P
2
O
5
dt tại các điểm quan trắc năm 2009-
2013 (a: tầng 1, b: tầng 2, c: tầng 3, d: tầng 4) 52
5
ts : Lân tổng số
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đất phèn là loại đất khá phổ biến ở các vùng đất bằng phẳng ven biển nước
ta, đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Ở Việt Nam, sự hình thành
đất phèn là kết quả của sự tích tụ Pyrit trong điều kiện ngập nước, ở đất chứa nhiều
chất hữu cơ, sunphat, sắt, nhôm. Đất phèn được hình thành ở vùng nước lợ hoặc ở
vùng biển cũ và có sự tham gia của vi sinh vật trải qua nhiều giai đoạn. Đối với
vùng đất phèn, trong đất tồn tại nhiều độc tố gây hại như các hợp chất sunfua, H
2
S,
SO
4
2-
, Độ pH trong đất thấp là môi trường thuận lợi để hòa tan các ion, trao đổi với
các hợp chất muối sunfat, hydroxyt sắt, tạo điều kiện giải phóng một lượng lớn
Al
3+
trao đổi, H
+
và Fe
2+
/Fe
3+
vững nguồn tài nguyên đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp của khu vực đồng
bằng sông Cửu Long một cách bền vững.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu:
- Đánh giá được hiện trạng môi trường đất phèn trồng lúa năm 2009 & 2013
ở đồng bằng sông Cửu Long
- Xác định được nguyên nhân chính ảnh hưởng tới chất lượng đất phèn trồng
lúa ở đồng bằng sông Cửu Long
- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ và khai thác đất phèn ở đồng bằng
sông Cửu Long
1.3. Yêu cầu:
- Phân tích, đánh giá một cách khoa học chất lượng môi trường đất phèn
trồng lúa vùng đồng bằng sông Cửu Long
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Quá trình hình thành đất
Đất hay thổ nhưỡng là lớp ngoài cùng của vỏ Trái Đất bị biến đổi do sự tác
động của các yếu tố tự nhiên và nhân tạo. Các thành phần chính của đất là chất
khoáng, nước, không khí, mùn và các loại sinh vật từ vi sinh vật cho đến côn trùng,
chân đốt…
Sự hình thành đất là một quá trình lâu dài và phức tạp, có thể chia các quá
trình hình thành đất thành ba nhóm: Quá trình phong hóa, quá trình tích lũy và biến
đổi chất hữu cơ trong đất, quá trình di chuyển khoáng chất và vật liệu hữu cơ trong
đất. Tham gia vào sự hình thành đất có các yếu tố: Đá gốc, sinh vật, chế độ khí hậu,
địa hình, thời gian. Các yếu tố trên đây tương tác phức tạp với nhau tạo nên sự đa
dạng của các loại đất trên bề mặt thạch quyển. Bên cạnh quá trình hình thành đất,
một lượng lưu huỳnh khá lớn. Những trầm tích hiện đại phát triển trong môi trường
như vậy thường được các nhà địa chất xếp vào trầm tích đầm lầy, đầm lầy – biển,
biển – đầm lầm hoặc ít hơn là sông – đầm lầm, tuổi Holocene (b,bm,mb,ab QIV).
Lưu huỳnh tích lũy trong khối vật liệu trầm tích nói trên, kết hợp với sắt hòa
tan ( Fe
2+
) thường rất sẵn trong điều kiện ngập nước, tạo ra Pyrite (FeS
2
). Ngoài ra,
về sau và cho đến nay, ở những vùng rừng ngập mặn (mangrove forests), quá trình
bồi đắp phù sa và sự phát triển của các loài thực vật chịu mặn vẫn còn tiếp diễn, sự
hấp thu và tích lũy lưu huỳnh, sự phân hủy xác bã thực vật chịu mặn, cũng vẫn còn
xảy ra, giải phóng thêm lưu huỳnh bổ sung cho nguồn mẫu chất.
Khi lượng lưu huỳnh tích lũy trong khối vật liệu trầm tích đạt tới mức đủ
nhiều, theo quy định của FAO, khi hàm lượng lưu huỳnh tổng số ≥ 0,75% và lượng
CaCO
3
trong khối vật liệu, tính theo đương lượng là < 3 lần so với lượng Pyrite,
khối vật liệu đó được gọi là vật liệu đất giàu Pyrite hoặc vật liệu đất phèn ( sulfidic
soil materianls). Chúng là một loại vật liệu thường không thuần thục, có các tông
màu tối, xám đen, xám nâu tối hoặc xám xanh, tùy vào lượng hữu cơ, natri, kali và
một số nguyên tố khác đi kèm.
Vật liệu đất giàu Pyrite thường ít chua, pH
H2O
thường > 4,0 ; thậm chí lên
đến 6,0 hoặc 7,0 tùy thuộc vào độ mặn và ít gây độc cho cây trồng, vì vậy đất hình
thành từ khối vật liệu này được gọi là đất phèn tiềm tàng ( Potential acid sulphate
soils). Lớp đất có chứa vật liệu đạt tiêu chuẩn vừa nêu, được gọi là lớp phèn tiềm
tàng ( sulfidic layer).
Khi đất phèn tiềm tàng thoát thủy, mức thủy cấp xuống dưới lớp phèn tiềm
2
O
FeS
2
+ H
2
O + 7/2O
2
Fe
2+
+ 2SO
4
2-
+ 2H
+
Fe
+
+ 15H
2
O + 2O
2
6Fe(OH)
3
+ 12H
2
O
3Fe(OH)
3
+ K
đất, các ion nhôm hòa tan, sắt hóa trị 2 tác động xấu tới sinh trưởng và phát triển
của cây. Khi mưa xuống, các hợp chất chứa lưu huỳnh và sắt, nhôm hòa tan theo
nước mưa rửa trôi xuống kênh mương gây chua nước và tác hại tới thủy sản. Độ pH
trong đất thấp là môi trường thuận lợi để hòa tan các ion, trao đổi với các hợp chất
muối sunfat, hydroxyt sắt, tạo điều kiện giải phóng một lượng lớn Al
3+
trao đổi,
H
+
và Fe
2+
/Fe
3+
di động ra khỏi phức hệ hấp phụ dễ gây ngộ độc cho cây trồng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
1.4 Tính chất của đất phèn
1.4.1 Phân loại đất phèn
Hệ thống phân loại đất của Việt Nam được xây dựng từ hơn 30 năm trước,
cơ bản dựa theo trường phái phân loại phát sinh học của Liên Bang Nga, đồng thời
chú ý tới các đặc điểm và tính chất tác động trực tiếp đến nông nghiệp ( nhất là thực
vật). Khoa học đất phát triển đã thúc đẩy công tác nghiên cứu về đất nói chung và
phân loại đất nói riêng ở nước ta.
Phân loại đất phèn: là loại đất có tầng sinh phèn ( sulfidic horizon) hoặc tầng
phèn ( sulfidic horizon) trong vòng 0 – 120 cm của cột đất. Đất phèn được chia làm
2 loại chính:
+ Đất phèn tiềm tàng (Sp): Là loại đất có tầng sinh phèn, là tầng tích sét hoặc
hữu cơ ngập nước, thường ở trạng thái yếm khí có chứa SO
3
2
(SO4)
3
)tạo thành, ít
nhôm và sunphat nhôm. Mức độ độc hại loại phèn này ít hơn so với phèn nhôm.
Trên mặt nước ở ruông, ở kênh thường có một lớp váng vàng . Váng vàng này dính
vào tay chân khi làm ruộng, thường gây ngứa và dễ gây mục quần áo.
- Phèn lạnh : Chủ yếu do sunphat Nhôm(Al
2
(SO4)
3
) tạo nên, loại này độc
hại hơn phèn nóng. Nước trên ruộng và trong kênh mương ở khu vực đất phèn này
trong suốt (nhìn thấy đáy kênh mương). ở những vùng này, trong vụ hè thu, nếu
không đủ nước tưới dễ bị xi phèn gây chết lúa và cây cối. Các loại động thực vật rất
khó sống và phát triển ở vùng này.
- Phèn đỏ : Một số vùng ở miền tây gọi là phèn đỏ, về bản chất phèn đỏ cũng
như phèn nóng, do Sunphát Sắt và Oxyt sắt ngâm nước gây nên. Nước trên ruộng
thường có váng vàng đỏ ánh trên mặt. Mức độ độc hại không cao.
- Phèn trắng : Về bản chất phèn trắng giống như phèn lạnh, do Sunphát
nhôm gây nên. Ở những vùng phèn nhiều và thiếu nước vào cuối mùa khô, muối
Al2(SO4)3 bốc lên mặt và kết tinh thành những hạt muối tròn có đường kính vài
milimét dính với nhau thành từng cụm, khi ẩm thì nhờn trơn, khi khô thì dòn, nhẹ,
dễ vỡ, dễ tan vào nước.Ở những vùng đất phèn xuất hiện loại muối này trên mặt đất
vào cuối mùa khô tức là đã đạt đến đỉnh cao của sự độc hại, vào những trận mưa
đầu mùa nếu lượng mưa không đủ lớn để rửa trôi và đưa muối này ra những kênh
lớn hoặc thấm xuống tầng sâu mà đọng lại ở một số vùng trũng, thấp thì nước rất
trong, nhưng rất độc hại. Trâu bò, lợn gà uống phải nước này dễ bị chướng bụng và
có thể dẫn đến tử vong.
- Phèn đen : Những vùng phèn có tầng hữu cơ lẫn lộn với hợp chất phèn
* Tính trương co của đất phèn:
Tính co trương của đất phèn rất lớn do thành phần khoáng sét cao và do tỉ lệ
hữu cơ lớn. Khi khoáng sét mất nước sẽ co lại do khoảng cách giữa các lớp alumin
silicat bị thu hẹp lại. Mặt khác, khi xác thực vật ( hữu cơ) mất nước cũng teo lại, đã
làm cho tỉ lệ co của đất này lớn.
*) Nhiệt độ đất phèn:
Nhiệt độ có liên quan đến độ ẩm đất, đến độ hòa tan không khí đến hoạt
động hệ vi sinh vật và liên quan đến đặc tính phèn của đất. Nghĩa là nhiệt độ đất có
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
liên quan đến quá trình hóa lý, hóa sinh học của đất nói chung và đất phèn nói riêng.
Ví dụ: vi sinh vật cần một nhiệt độ thích hợp là 25 – 30
0
C để sống và hoạt động.
Việc sử dụng đất phèn phải lưu ý đến thực vật che phủ. Bởi vì sự chênh lệch
nhiệt độ sẽ làm bốc phèn, bốc mặn lên mặt đất, làm đất hóa phèn nhanh chóng và
gây hại cây trồng.
*) Tỷ trọng đất phèn:
Nói đến tỷ trọng đất tức là nói đến trọng lượng tính bằng g/cm
3
đất khô kiệt
mà các hạt đất xếp sít vào nhau,không có khe hở. Tỷ trọng có liên quan đến thành
phần sét cát và chất hữu cơ trong đất. Kasinky đánh giá đất trồng với mức tỷ trọng
như sau :
2,5 – 2,66 g/cm
3
: Đất có mùn trung bình
2,5 g/cm
3
Rất giàu mùn: >8%
Giàu mùn: (2 ÷ 8%)
Mùn trung bình: 1-2%
Rất nghèo mùn < 1%.
Thông thường tầng mặt có hàm lượng mùn cao hơn các tầng dưới. Bởi vì đất
phèn ở vùng trũng thường nhận sự rửa trôi các vùng khác đến và bản thân những
cây cỏ sống trên bề mặt của đất, chết đi, phân giải thành mùn và không bị rửa trôi.
Nếu mùn humic tăng tức là đất tốt và tỉ số giữa humic và fulvonic cao biểu hiện
chất lượng mùn tốt.
*) Đạm trong đất phèn:
Thông thường khi đất giàu chất hữu cơ và mùn thì sẽ giàu đạm. Bởi vì đạm
là sản phẫm phân giải của chất hữu cơ. Đất phèn nghèo đạm dễ tiêu, có nơi chỉ có
vài chục ppm thậm chí chỉ có vệt. Vì vậy việc bón đạm cho đất phèn là quan trọng.
*) Lân trong đất phèn:
Lân trong đất phèn có nhiều dạng: lân hữu cơ, lân vô cơ , lân hữu – vô cơ
hay lân dạng hòa tan. Ví dụ lân ở dạng PO
4
3-
lân là lân trong liên kết của chất hữu
cơ. Đó là lân trong thân thể vi sinh vật ở rễ cây, những hợp chất hữu cơ đang phân
giải và mùn. Những đất phèn ít và mặn, do pH cao nên lân tổng số cao hơn và có
khi đến 0,1% trọng lượng đất khô. Tuy nhiên lượng lân dễ tiêu lại ít. Nguyên nhân
của sự rất nghèo lân ở đất phèn vì pH thấp độ hòa tan và tái tạo lân yếu. Mặt khác
lân vô cơ trong đất phèn thường tồn tại chủ yếu ở dạng photphatcanxi có khả năng
thủy phân. Nhưng trong đất phèn đã nghèo canxi mà trong khi đó một phần tạo
thành hydroxyl apatit là một chất kết tủa bền trong đất làm giảm lượng lân dễ tiêu
trong dung dịch đất. ngoài ra trong đất phèn còn gặp dạng Al
2
(OH)
3
2
O hoặc CaCl
2
trong đất phèn. Vai trò của canxi trong đất phèn được thể
hiện rất rõ nét qua việc trung hoà Axit ( H
2
SO
4
)
, được tạo ra trong quá trình Oxy
hoá như đã trình bày ở phần vai trò của vôi đối với sự hình thành đất phèn, ngoài ra
canxi còn có tác dụng làm tăng năng xuất và phẩm chất cây trồng. Nhưng cần lưu ý
rằng trong điều kiện yếm khí, giàu CO
2
thì CaCO
3
được tạo thành cacbont Canxi.
CaCO
3
+ CO
2
+ H
2
O → Ca (HCO
3
) 2 rất linh hoạt, dễ bị rửa trôi.
Đất càng nhiều phèn thì khả năng thiếu canxi càng rõ. Trừ đất phèn mặn có pH
tương đối cao hơn hoặc đất phèn tiềm tàng, thì lượng canxi có tăng nhưng không
nhiều. Khi canxi trong đất tăng, thì pH tăng, vi sinh vật hoạt động tốt và giảm được
phèn. Canxi cũng là chất dinh dưỡng của cây trồng nhất là những cây họ đậu.
3+
+ 3H
2
O Al(OH)
3
+ 3H
+
.
Lượng Mg
2+
trao đổi ở đất phèn thường cao hơn Ca
2+
khoảng 0,1- 17
lđl/100g. Cũng như canxi, magiê có ít ở đất phèn nhiều còn ở đất phèn mặn và phèn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
tiềm tàng ven biển, giàu manhê hơn. Magiê cần cho cây trồng, ở đất phèn không có
biểu hiện thiếu magiê.
*) Natri trong đất phèn:
Ta thấy natri trao đổi (Na
+
) trong các loại phèn không thiếu, trong đó ở đất
phèn tiềm tàng và phèn mặn khá cao. Về mùa khô Na
+
bốc lên mặt tạo thành một lớp
muối NaCl trên lớp bùn mỏng, khô cong, nứt nẻ nên mặt đất khô có nổi lên những
lấm tấm li ti trắng đục của muối NaCl.
Sự có mặt của Na
+
2
SO
4
→ Na
2
SO
4
+ HCl
Và phản ứng trực tiếp :
Na
2
SO
4
+ 2C → Na
2
S + 2CO
2
Na
2
S + 2H
2
CO
3
→ 2NaHCO
3
+ H
2
S
2NaHCO
3
+
hấp phụ xung quanh keo đất và có khả năng trao đổi.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
Mangan (Mn
2+
): Mangan có trong đất với các hoá trị khác nhau Mn
2+
,Mn
4+
, Mn
6+
và Mn
8+
. Điều đó dẫn đến sự có mặt phức tạp của Mangan trong các hợp
chất trong đất. Trong môi trường đất phèn Mangan thường ở dạng Mn
2+
, có hàm
lượng cao nhưng chưa gây độc cho cây trồng, nhưng khả năng di động của Mn
2+
khá lớn.
Mn
2+
- 2e → Mn
4+
Vi lượng khác trong đất phèn: Trong các mẫu phân tích các vi lượng trong
3+
, H2SO4, SO
4
2-
, HCl làm cho pH giảm.
Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng : pH tương quan nghịch với hàm lượng
của Al
3+
và Fe , SO4
2-
trong đất, pH là yếu tố dễ nhận biết và là yếu tố đầu tiên
đánh giá tính phèn của một loại đất phèn, nhưng không nói hết được bản chất của
đất phèn.
1.4.3 Chỉ thị sinh học trên đất phèn
- Thực vật chỉ thị:
Các quá trình phèn hóa trong đất khi gặp nước phèn sẽ loang ra làm ô nhiễm
nguồn nước. Nguồn nước trở nên giàu các chất độc dạng ion Al
3+
, Fe
3+
, SO
4
2-
và pH
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
thấp, mà hầu hết hết các vi sinh vật trong môi trường đó đều bị ngộ độc khi pH < 4.
Ví dụ rễ cây lúa có thể bị thối khi nồng độ Al
3+
Page 15
c) Thực vật chỉ thị vùng đất nhiều phèn:
- Năng ngọt ( Eleocharis Dulcis): nhiều nhất, phát triển tốt nhất ở pH thấp,
chỉ sống được ở mức độ phèn Al dưới 2000ppm, nếu quá ngưỡng này năng khô héo
chỉ còn gốc, cú gầy. Năng ngọt phát triển khi đất bị ngập nước và có độ ẩm cao, độ
ẩm của đất < 15% thì năng khó sống. Nếu ngập nước thường xuyên pH nâng dần
lên thì năng phát triển mạnh, thân lá thành năng ống. Trong cây năng tích lũy rất
cao SO
4
2-
0,6 – 0,9% trọng lượng khô và Al
3+
có thể lên đến 1500-1800ppm. Đặc
biệt trong rễ tích lũy cao gấp 2-3 lần so thân.
- Năng kim ( Eleocharis orchorostachyo): sống trong điều kiện phèn cao hơn
năng ngọt (Al
3+
từ 1500-2500ppm) trong điều kiện ngập phát triển yếu, với những
vùng than bùn bị đốt mất lớp mặt, phèn rất cao thì chỉ có loài này sống nổi. Năng
kim mọc rất sát mặt đất thành thảm, lá nhỏ, nhọn, ăn sâu bằng năng ngọt.
- Sậy ( Phragmites kakar): là cây chỉ thị tốt cho đất phèn và có giá trị trong
việc cải tạo và làm nguyên liệu sấy. Sậy mọc ở vùng cao hơn so với vùng nhiều
năng và có độ phèn thấp hơn vùng có năng kim.
d) Thực vật chỉ thị cho vùng phèn ít và trung bình:
- Năng ngọt: phát triển tốt vì pH = 4 - 4,5; rễ ăn sâu có khi đến 1m và rất khó
tiêu diệt.
- Cỏ ống: mọc rất tôt ở vùng đất phèn trung bình, phèn ít, ngập nước một
nửa, rất khó tiêu diệt.
- Lác ( Ciperus): mọc rất tốt trong ruộng có pH: 4 – 6,5 ; đất ngập nước
năng lượng từ phản ứng oxy hóa khử trong quá trình tạo phèn hay Thiobacillus
Femorxidans có vai trò xúc tác trong quá trình oxy hóa khử Fe
2+
thành Fe
3+
.
1.5 Các kết quả nghiên cứu về đất phèn trên thế giới
Theo ước tính hiện nay trên thế giới có khoảng 24 triệu ha đất phèn. Loại đất
này xuất hiện ở tất cả các lục địa, từ các vùng cực tới vùng nhiệt đới và từ vùng ven
biển đến các vùng nằm sâu trong lục địa. Đất phèn chủ yếu xuất hiện ở các vùng ven
biển nhiệt đới hay cận nhiệt đới, thuộc các nước Nhật Bản, Triều Tiên, Ấn Độ, Thái
Lan, Brunei, Việt Nam và một số đảo của Indonesia,… nhìn chung hầu hết các nước
Đông Nam Á có bờ biển đều có đất phèn.
Đến nay đã có nhiều tác giả, trường phái nghiên cứu về đất phèn:
Ngay từ năm 1735, Pecl đã phát hiện ra một loại khoáng làm cho đất rất chua và
được mang tên Argilla Vitrolacea. Người đầu tiên phát hiện ra đất phèn là Van