PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Môi trường đang trở thành một vấn đề nan giải mà xã hội quan tâm hiện
nay. Để giải quyết những vấn đề đó cần có những công trình nghiên cứu về xử lý
nhằm giảm thiểu ô nhiễm khi thải ra môi trường góp phần gìn giữ và bảo vệ môi
trường. Ở Việt Nam, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta trong
những năm gần đây phát triển rất nhanh. Dân số đã tăng lên nhanh chóng đặc
biệt là các khu vực đô thị, các thành phố lớn. Sự gia tăng dân số đã kéo theo việc
sử dụng nước phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất, lượng rác thải, khói bụi và tiếng
ồn ngày càng tăng. Ô nhiễm môi trường tại các đô thị đang trở thành một vấn
đề đáng quan tâm.
Thành phố Thái Nguyên, là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc
nói riêng, của vùng trung du miền núi Đông Bắc nói chung, là cửa ngõ giao lưu
kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ. Trải
qua lịch sử 48 năm hình thành và phát triển, bằng những cố gắng nỗ lực của
mình cùng với sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước Thành phố đã đạt
được những thành tựu rất đáng ghi nhận. Ngày 1/9/2010 Thủ tướng Chính phủ
ký Quyết định 1645/QĐ-TTg công nhận thành phố (TP) Thái Nguyên là đô
thị loại I trực thuộc tỉnh Thái Nguyên.
Thành phố Thái Nguyên là nơi đông dân cư và tập trung nhiều trường đại
học. Theo điều tra dân số 01/04/2009 dân số Thành phố Thái Nguyên là hơn 290
nghìn người, dân cư phân bố với mật độ khá cao 1.260 người/km². Tốc độ gia
tăng hàng năm là 0,7 %/năm. Sự gia tăng dân số cùng với tốc độ đô thị hóa
nhanh, đặc biệt là sự tập trung đông dân cư ở các khu trung tâm gây ra sự quá tải
cho môi trường. Những vấn đề vấn đề đang tập trung sự quan tâm chú ý của
nhân dân có thể kể tới đó là sự ô nhiễm môi trường do nước thải sinh hoạt từ các
hộ dân cư, các khu nhà ở, nhà trọ sinh viên, do rác thải từ các hoạt động sinh
1
hoạt và thương mại dịch vụ, tiếng ồn và khói bụi do các hoạt động giao thông,
các cơ sở sản xuất…..
+ Đánh giá được chất lượng môi trường trên địa bàn phường Thịnh Đán,
từ đó rút ra những nhận xét, kết luận làm cơ sở cho các biện pháp quản lý,
bảo vệ môi trường, những định hướng xây dựng phù hợp và đảm bảo sự
cân bằng giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường
+ Nâng cao nhận thức của người dân về vấn đề bảo vệ môi trường làm cơ
sở lý thuyết cho các nhà quản lý, các nhà đầu tư và nghiên cứu.
3
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở pháp lý
- Luật BVMT Việt Nam - Ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc Hội
Nước Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2020
- Quyết định số 104/2000/QĐ – TTg ngày 25/08/2000 của Thủ tướng
Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh
nông thôn đến năm 2020.
- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Y Tế số 08/2005/QĐ – BYT ngày
11/03/2005 về việc ban hành tiêu chuẩn vệ sinh đối với các loại nhà tiêu.
- Nghị định số 149/2004/NĐ – CP ngày 27/07/2004 của Chính phủ quy
định về việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải
vào nguồn nước.
- Thông tư của Bộ Y Tế số 15/2006/TT – BYT ngày 30/11/2006 hướng
dẫn việc kiểm tra vệ sinh nước sạch, nước ăn uống, nhà tiêu và hộ gia đình.
- Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5944-1995) Chất lượng nước - Tiêu chuẩn
chất lượng nước ngầm.
- Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5502:2003 nước cấp sinh hoạt – yêu cầu
chất lượng.
2.2. Cơ sở lý luận
Các khái niệm liên quan
doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác.
- Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy,
dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác.
- Quản lý chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm
5
thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải.
Phế liệu là sản phẩm, vật liệu bị loại ra từ quá trình sản xuất hoặc tiêu
dùng được thu hồi để dùng làm nguyên liệu sản xuất.
- Sức chịu tải của môi trường là giới hạn cho phép mà môi trường có thể
tiếp nhận và hấp thụ các chất gây ô nhiễm.
- Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về môi trường,
các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin phục vụ đánh giá
hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi
trường.
- Thông tin về môi trường bao gồm số liệu, dữ liệu về các thành phần môi
trường; về trữ lượng, giá trị sinh thái, giá trị kinh tế của các nguồn tài nguyên
thiên nhiên; về các tác động đối với môi trường; về chất thải; về mức độ môi
trường bị ô nhiễm, suy thoái và thông tin về các vấn đề môi trường khác.
- Đánh giá môi trường chiến lược là việc phân tích, dự báo các tác động
đến môi trường của dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển trước khi
phê duyệt nhằm bảo đảm phát triển bền vững.
- Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo các tác động đến
môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường
khi triển khai dự án đó.
- Bảo vệ môi trường phải gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế và bảo đảm
tiến bộ xã hội để phát triển bền vững đất nước; bảo vệ môi trường quốc gia phải
gắn với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu.
- Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội, quyền và trách nhiệm
của cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.
- Hoạt động bảo vệ môi trường phải thường xuyên, lấy phòng ngừa là
*Do hoạt động sản xuất nông nghiệp:
7
Ô nhiễm do hoạt động sản xuất nông nghiệp chủ yếu do đốt rừng làm rẫy,
làm cho khí CO
2
tăng lên, khí CH
4
tạo ra do sựu phân hủy chất hưu cơ từ các
trang trại chăn nuôi hoặc từ các đống rác xử lý không đúng kỹ thuật.
Bên cạnh đó ô nhiễm môi trường do các hoạt động sản xuất nông nghiệp
còn gây ra bởi các hoạt động phun thuốc bảo vệ thực vật bằng bình phun, vòi
phun, máy bay. Phân gia súc phân hủy, phân bón gây mùi hôi thối tạo điều kiện
cho các loại sinh vật truyền bệnh phát triển như ruồi, nhặng…
*Ô nhiễm không khí trong nhà :
đây là một trong những nguồn gây ô nhiễm ảnh hưởng trực tiếp đến con người,
nguồn gây ô nhiễm trong sinh hoạt chủ yếu là lò sưởi và bếp đun sử dụng các
nhiên liệu như than, củi dầu lửa, khí đốt….Nguồn gây ô nhiễm này tuy nhỏ
nhưng thường gây ô nhiễm cục bộ trong một không gian nhỏ nên có thể để lại
hậu quả lớn và lâu dài. Bên cạnh đó nguồn gây ô nhiễm trong nhà còn có thể kẻ
tới các khí sinh ra từ các nguồn thải sinh hoạt, khói thuốc lá, các hợp chất hữu
cơ bay hơi có nguồn gốc từ các loại sơn và các vật liệu xây dựng. Đặc biệt tại
các khu vực tập trung đông dân cư, diện tích sinh hoạt nhỏ hẹp mức độ ảnh
hưởng tới sức khỏe con người lại càng lớn.
2.3.1.2 Ô nhiễm đất:
Nguyên nhân chủ yếu của ô nhiễm đất là nông dược và phân hóa học
chúng tích lũy dần trong đất qua các mùa vụ. Thứ hai là
việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp đang gây ô nhiễm đất
nghiêm trọng, làm vỡ kết cấu đất, xói mòn đất…
Ô nhiễm đất do nông dược và phân hóa học.Ô nhiễm đất sảy ra chủ yếu ở
nông thôn. Trước hết là do sự bành trướng của kĩ thuật canh tác hiện đại. Nông
quá trình tích luỹ sinh học. Ngoài ra, con người cũng có thể bị ảnh hưởng bởi
cây trồng được tưới bằng nước ô nhiễm hoặc do đất bị nhiễm bẩn bởi các dòng
sông ô nhiễm dâng lên.
*Nước ngầm
Nước ngầm là nguồn nước nằm ở dưới bề mặt lớp đất sỏi và trong những
9
tầng địa chất thấm qua được. Nước ngầm là một nguồn rất quan trọng của nước
sạch, chiếm 97% lượng nước ngọt trên Trái đất. Khoảng 2 tỉ người, cả ở thành
phố và nông thôn đang phụ thuộc vào lượng nước này cho những nhu cầu sống
hằng ngày. Nhưng nguồn nước này giờ đây cũng đang bị ô nhiễm nghiêm trọng
do nhiều lý do khác nhau.
Ở đô thị, các nguồn gây ô nhiễm nước ngầm chính là các bãi chôn lấp rác
thải không hợp vệ sinh. Ngoài ra nước thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp,
khai thác khoáng sản đều có khả năng bị rò rỉ và ngấm vào tầng chứa nước nước
ngầm. Hoạt động sản xuất nông nghiệp với việc sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu
và phân bón cũng là nguồn đe doạ lớn đối với nguồn nước ngầm.
Các quá trình hình thành địa chất tự nhiên là nguồn giải phóng kim loại
nặng vào nước ngầm, trong đó phổ biến nhất là ô nhiễm Asen. Một nghiên cứu
mới đây cho thấy nguồn nước ngầm của nhiều quốc gia thuộc khu vực Nam Á
và Đông Nam Á có hàm lượng Asen rất cao. Cao nhất là Băng-la-đét. Hiện có
1/15 dân số nước này đang phải uống nước có hàm lượng Asen cao hơn 5 lần
mức cho phép của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).
Nước ngầm rất khó xử lý, do đó việc bảo vệ nguồn nước đó là cực kỳ
quan trọng. Một số biện pháp ngăn chặn cơ bản là tăng cường kiểm soát đối với
việc xả thải, xây dựng hệ thống thoát nước hợp vệ sinh. Tuy nhiên, cho đến nay
ở các nước đang phát triển các biện pháp này được tiến hành rất chậm chạp,
trong khi hệ thống nước ngầm đang ngày càng bị nhiễm bẩn nghiêm trọng.
2.4. Thực trạng môi trường trên Thế giới và Việt Nam
2. 4.1. Thực trạng môi trường trên Thế giới
không được kiểm soát, mỏ than hoặc các nhà máy sản xuất vũ khí hạt nhân chưa
được lọc sạch. Ô nhiễm môi trường ở những thành phố này gây ảnh hưởng
nghiêm trọng tới sức khoẻ người dân và gia tăng nạn nghèo đói. Những nơi bị
11
ảnh hưởng nặng nề nhất của ô nhiễm môi trường là nơi con người sinh sống có
tuổi thọ thấp nhất, trẻ sơ sinh bị khuyết tật, tỉ lệ hen trẻ em trên 90% và chậm
phát triển trí tuệ.
Nghiên cứu do các cơ quan của Liên hiệp quốc tiến hành cho thấy khoảng
20% trường hợp chết sớm trên toàn thế giới là do các nhân tố ô nhiễm môi
trường gây nên.
*Tại Chernobyl, báo cáo ước tính 5,5 triệu người vẫn bị đe doạ bởi vật
liệu phóng xạ tiếp tục thấm vào mạch nước ngầm và đất cách đây 20 năm sau
thảm hoạ nổ nhà máy điện hạt nhân.
*Người dân ở Lâm Phần, trung tâm tỉnh Sơn Tây, nơi chuyên khai thác
than của Trung Quốc, thường bị viêm phế quản, viêm phổi, ung thư phổi do chất
lượng không khí kém.
*Khoảng 300.000 người ở Dzherzhinsk (thuộc Nga), một khu vực sản
xuất vũ khí hoá học trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, tuổi thọ chỉ bằng một nửa
so với dân của các nước giàu nhất. Tuổi thọ của đàn ông ở Dzherzhinsk là 47 và
của phụ nữ là 42.
Trên thực tế, Viện Blacksmith đã tham gia các chương trình khắc phục
tình trạng gây ô nhiễm môi trường ở 5 trong số 10 thành phố nói trên có môi
trường bị ô nhiễm. Trước hết là lắp đặt các nhà máy lọc nước, đồng thời tiến
hành giáo dục mọi người, đặc biệt là trẻ em, tích cực tham gia các hoạt động bảo
vệ môi trường, thực hiện các biện pháp khắc phục có hiệu quả tình trạng ô
nhiễm nói trên trong điều kiện có thể.
Theo cảnh báo của Viện Blacksmith, ngoài 10 thành phố trên bị coi là ô
nhiễm nhất thế giới, còn có 25 thành phố khác trên toàn cầu cần sớm triển khai
nhanh các hoạt động bảo vệ môi trường.
*Ô nhiễm nước:
và chiếu sáng. Hơn 50% dân số thế giới dùng năng lượng để đun nấu theo cách
13
này, hầu hết họ đều sống ở các nước nghèo.
Trong khi đa số người dân ở các nước có thu nhập cao đã chuyển sang
dùng các sản phẩm từ dầu mỏ và điện để đun nấu, thì ở các nước đang phát triển
như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Châu Phi cận Sahara, tới 80% các gia đình
ở thành phố và hơn 90% các hộ dân ở nông thôn vẫn đun nấu bằng các nguồn
nhiên liệu truyền thống này.
Nhiên liệu sinh học được đốt chủ yếu bằng các bếp thô sơ, do đó chúng
thường không được đốt cháy hoàn toàn. Điều này vừa gây ra sự lãng phí nguyên
liệu vừa gây ô nhiễm không khí. Cùng với hệ thống thông gió không đảm bảo đã
làm cho hàm lượng bụi và khói độc trong nhà cao, rất có hại cho sức khoẻ con
người. Trong đó những người bị ảnh hưởng nhiều nhất là phụ nữ - những người
thường xuyên nấu ăn và trẻ nhỏ thường xuyên được địu trên lưng mẹ.
Sự đốt cháy nguyên liệu sinh học tạo thành các hạt. Các hạt với đương
kính nhỏ hơn 10 micro (PM10) và đặc biệt nhỏ hơn 2.5 micro (PM2.5) có thể
xuyên sâu vào phổi. Cục Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) đã khuyến cáo rằng
hàm lượng trung bình 24giờ của PM10 không nên vượt quá 150 µg/m3. Trong
khi đó, nếu đun nấu với nguyên liêu sinh học truyền thống hàm lượng PM10
trong không khí trong nhà có thể đạt từ 300 đến 3000 µg/m3, cao gấp hơn 20 lần
lượng cho phép. Thậm chí vào thời điểm đun nấu con số này có thể lên tới
30.000 µg/m3, gấp 200 lần hàm lượng cho phép.
IAP gây ra 3 triệu ca tử vong mỗi năm và là nguyên nhân cho 4% căn
bệnh trên toàn thế giới, tập trung chủ yếu ở các nước có thu nhập thấp.
Hàng trăm, nhiều chương trình đã được thực hiện trên toàn thế giới để
giảm thiểu mối đe doạ bởi IAP. Phần lớn chúng đều tập trung vào việc giới thiệu
những loại bếp sử dụng nhiên liệu hiệu quả hơn. Tuy nhiên, trong những năm tới
những nỗ lực này cần được bổ sung bằng những cách tiếp cận toàn diện hơn bao
gồm cải thiện hệ thống lưu thông gió, thay đổi cách sống và một loạt các giải
pháp truyền thông khác.
số tiêu chuẩn cho phép đối với nguồn nước mặt loại B, chỉ số E Côli vượt tiêu
15
chuẩn cho phép hàng trăm lần. Ngoài các chất ô nhiễm hữu cơ trên, môi trường
nước mặt đô thị ở một số nơi còn bị ô nhiễm kim loại nặng và chất độ hại như là
chì, thuỷ ngân, asen, clor, phenol...
* Môi trường nước
Về ô nhiễm không khí, ngoài tác động của sản xuất công nghiệp, hoạt
động giao thông vận tải cũng là nguồn thải rất quan trọng. Chỉ tính riêng ở thành
phố Hồ Chí Minh, hàng năm các phương tiện vận tải trên địa bàn thành phố tiêu
thụ khoảng 210.000 tấn xăng và 190.000 tấn dầu Dizel. Như vậy đã thải vào
không khí khoảng 1100 tấn bụi, 25 tấn chì, 4200 tấn CO2, 4500 tấn NO2,
116000 tấn CO, 1,2 triệu tấn CO2, 13200 tấn Hydrocacbon và 156 tấn Aldehyt.
Chính vì thế, tại nhiều khu vực trong các đô thị có nồng độ các chất ô nhiễm lên
khá cao. Tại Hà Nội, vào nhưng năm 1996-1997 ô nhiễm trầm trọng đã xảy ra ở
xung quanh các nhà máy thuộc khu công nghiệp Thượng Đình với đường kính
khu vực ô nhiễm khoảng 1700 mét và nồng độ bụi lớn hơn tiêu chuẩn cho phép
khoảng 2-4 lần; xung quanh các nhà máy thuộc khu công nghiệp Minh Khai –
Mai Động, khu vực ô nhiễm có đường kính khoảng 2500 mét và nồng độ bụi
cũng cao hơn tiêu chuẩn cho phép 2-3 lần. Cũng tại khu công nghiệp Thượng
Đình, kết quả đo đạc các năm 1997-1998 cho thấy nồng độ SO2 trong không khí
vượt tiêu chuẩn cho phép 2-4 lần.
Năm 1990 Việt Nam mới có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ, đến năm 2000 đã
tăng tới 694 đô thị các loại, trong đó có 4 thành phố trực thuộc Trương ương, 20
thành phố trực thuộc tỉnh, 62 thị xã và 563 thị trấn. Dân số đô thị Việt Nam năm
1990 là khoảng 13 triệu người (chiếm tỷ lệ 20%), năm 1995 tỷ lệ dân số đô thị
chiếm 20,75%, năm 2000 chiếm 25%, dự báo đến năm 2010 tỷ lệ dân số đô thị ở
Việt Nam chiếm 33%, năm 2020 chiếm 45%. Sự phát triển các đô thị cùng với
việc gia tăng tỷ lệ dân số đô thị gấp áp lực rất lớn đến môi trường đô thị. Bên
cạnh sự phát triển mạnh ngành công nghiệp một mặt góp phần rất lớn vào sự
phát triển kinh tế nhưng lại gây ảnh hưởng môi trường nghiêm trọng
17
Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) gồm: Thuốc trừ sâu; thuốc trừ nấm; thuốc
trừ chuột; thuốc trừ bệnh; thuốc trừ cỏ. Các loại này có đặc điểm là rất độc với
mọi sinh vật; Tồn dư lâu dài trong môi trương đất – nước gây ra ô nhiễm; Tác
dụng gây độc không phân biệt, nghĩa gây chết tất cả các sinh vật co hại va có lợi
trong môi trường đất, nước.
Hiên nay, nước ta chua sản xuất đươc thuốc BVTV ma phải nhập khẩu
đê gia công hoặc nhập khẩu thuốc thành phẩm bao gói lớn để sang chai đóng gói
nhỏ tại các nhà máy trong nước.
Nguyên nhân tình trạng trên là do việc quản lý thuốc
BVTV còn nhiều bất cập và gặp nhiều khố khăn. Hàng năm khoảng 10% thuốc
được nhập lậu theo đường tuyển ngạch. Số này rất đa dạng và chủng loại, chất
lượng không đảm bảo ma vẫn lưu hành trên thị trường. thứ 2 la việc sử dụng còn
tùy tiện, không tuân thủ các yêu càu kĩ thuật theo nhãn mác, không đảm bảo
thời gian cách ly của từng loại thuốc. Thứ ba là do một lượng lớn thuốc BVTV
tồn đọng tại các kho thuốc cũ, hết lien hạn sử dụng còn nằm rải rác tại các tỉnh
thành trên cả nước. Theo trung tâm công nghệ xử lý môi trường, cán bộ tư lệnh
hóa học (2004), trong khoảng hơn 300 tấn thuốc BVTV có nhiều chất nằm
trong 12 chất ô nhiễm hưu cơ khố phân hủy. Va cuối cùng la viêc bảo quản
thuốc BVTV trong nhà, trong bếp và trong chuồng nuôi gia súc.
Nguyên nhân thứ hai gây ô nhiễm môi trường ở nông thôn là do chất thải
rán từ các làng nghề và sinh hoạt của người dân. Hiện cả nước có khoảng 1.450
lang nghề, phân bố ở 58 tỉnh thành và đông đúc nhất là khu vực đồng bằng
Sông Hồng, vốn la cái nôi của làng nghề truyền Bình va Bắc Ninh, … trong đó
các làng nghề có quy mô nhỏ, trình độ sản xuất thấp, thiết bị cũ và công nghệ
lạc hậu chiếm phần lớn (trên 70%). Do đó, đã và đang nẩy sinh nhiều vấn dề
nông thôn, tác động xấu đến lượng môi trường đất, nước, không khí và sức khỏe
của người dân làng nghề.kêt quả phan tích chất lượng nước thải của làng nghè
dệt nhuộm tại Thái Bình cho thấy, đa số các chỉ tiêu phân tích đều vượt tiêu
chuẩn cho phép, đặc biệt la BOD