TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN
MÔN TRIẾT HỌC
Đề tài: MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VÀ
KHOA HỌC
GVHD: Ts. Bùi Văn Mưa
HVTT: Trịnh Minh Hòa
STT: 34
NHÓM: 9
LỚP: Đêm 1
KHÓA: 23
TP.HCM Tháng 12 năm 2014
1
LỜI MỞ ĐẦU
Triết học đã trải qua hơn hai nghìn năm phát triển và đã đạt được những thành tựu
to lớn, ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống xã hội loài người. Ở mỗi thời, mỗi trường
phái triết học có những quan điểm khác nhau về triết học. Khoa học cũng vậy, cùng
với sự ra đời của triết học thì khoa học cũng phát triển không ngừng, đóng góp vô
cùng lớn lao cho cuộc sống hiện đại ngày nay của chúng ta, đặc biệt là trong lĩnh vực
khoa học tự nhiên. Tuy có những giai đoạn thăng trầm nhưng thế giới của chúng ta
luôn có những con người kiệt xuất để giải quyết nhiệm vụ của lịch sử hay nói đúng
hơn là làm rõ bản chất của vấn đề, cho chúng ta phương pháp, cái nhìn toàn diện về
thế giới chúng ta đang sống.
Có nhiều quan điểm cho rằng triết học là khoa học của mọi khoa học; hoặc có quan
điểm không đồng nhất giữa triết học và khoa học; hoặc quan điểm trung hòa, tức là
chấp nhận triết học vừa là khoa học vừa không phải là khoa học. Nhưng mối quan hệ
giữa chúng thì không thể phủ nhận được. Nhìn lại lịch sử quá trình hình thành và phát
triển của triết học và khoa học đã cho thấy hai lĩnh vực tri thức này luôn luôn có mối
quan hệ mật thiết với nhau, đồng thời còn chứng minh rằng triết học tìm thấy ở khoa
+ Hi Lạp: triết học là sự ham hiểu biết, yêu thích sự thông thái (philosophia). Triết
học như “Người mẹ” của các ngành khoa học.
Như vậy, quan niệm truyền thống dù là ở phương Tây hay phương Đông đều coi triết
học là đỉnh cao của lý trí hay nói đúng hơn nó là môn học về lý trí, giúp con người
nâng cao và sử dụng lý trí một cách hiệu quả để hiểu thấu bản chất của vạn vật và
hành động đúng đắn trong thế giới.
- Thời Trung cổ:
+ Xuất hiện các triết lý của các cha cố về niềm tin tôn giáo.
+ Xây dựng các triết học kinh viện phục vụ cho thần học của Nhà thờ.
Như thế, vào thời kỳ này bằng những tín ngưỡng giáo điều, triết học dường như đánh
mất bản chất đúng đắn của mình, nói đúng hơn đây là thời kỳ mà lý trí bị hạ thấp
nhường chỗ cho lòng tin, thủ tiêu khoa học, mà trước hết là khoa học tự nhiên để rộng
đường phát triển thần học.
- Thời Phục hưng – Cận đại:
+ Khôi phục quan niệm coi triết học như “Người mẹ” của các ngành khoa học.
+ Xây dựng quan niệm coi triết học là “khoa học của các khoa học”.
3
Vào thời kỳ này, do đáp ứng được nhu cầu của thời đại nên chủ nghĩa duy vật sớm
hồi phục và nhanh chóng phát triển. Vì vậy, quan niệm coi triết học như “ Người mẹ”
của các ngành khoa học xuất hiện vào thời cổ đại, bị quên lãng vào thời trung cổ nay
được khôi phục và phát triển mạnh mẽ.
- Thời hiện đại.
+ Khủng hoảng quan niệm coi triết học là “khoa học của các khoa học” dẫn đến hệ
quả tất yếu là phải xây dựng “triết học của khoa học” và các dòng triết học khác.
+ Giữa thế kỷ XIX đến đầu thể kỷ XX triết học Mác ra đời, nghiên cứu những quy
luật chung nhất của thế giới và đoạn tuyệt hẳn với quan niệm coi triết học là “khoa
học của các khoa học”.
+ Trong những thập niên của thế kỷ XX xuất hiện những trào lưu triết học khác nhau
hướng đến giải quyết những vấn đề không giống nhau.
Nhận xét: trong các thời đại lịch sử khác nhau nổi lên các vấn đề thời đại khác nhau
tâm, tôn giáo. CNDV là thế giới quan của giai cấp, lực lượng xã hội tiến bộ, cách
mạng, góp phần tích cực váo cuộc đấu tranh vì tiến bộ xã hội. Trong khi đó, CNDT
được sử dụng làm công cụ biện hộ về lý luận cho giai cấp thống trị lỗi thời, lạc hậu,
phản động.
Chức năng phương pháp luận.
Phương pháp luận là học thuyết (lý luận) về phương pháp, là hệ thống các quan
điểm, các nguyên tắc chỉ đạo con người tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các
phương pháp trong nhận thức và thực tiễn.
Dựa theo phạm vi áp dụng, phương pháp luận (PPL) được chia thành: PPL bộ môn
(PPL của khoa học chuyên ngành giúp giải quyết các vấn đề cụ thể của từng ngành
khoa học), PPL chung ( PPL của khoa học liên ngành giúp giải quyết các vấn đề
chung của một nhóm ngành khoa học), PPL phổ biến ( PPL triết học – cơ sở để xây
dựng PPL bộ môn và PPL chung). Theo đó, triết học là là phương pháp luận phổ biến,
tức là nó xây dựng các phương pháp chung nhất hướng dẫn hoạt động nhận thức (lý
giải thế giới) và hoạt động thực tiễn (cải tạo thế giới), mà trong đó phép biện chứng
duy vật làm nòng cốt.
Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật trong
triết học Mác ra đời như một tất yếu của lịch sử, nó soi rọi những khoảng tối mà khoa
học đã rơi vào và chưa thấy đường ra, vì thế mà nó đã trở thành thế giới quan và
phương pháp luận thật sự khoa học trong nhận thức và thực tiễn hiện nay nói chung và
khoa học nói riêng.
5
II. KHÁI NIỆM VỀ KHOA HỌC VÀ PHÂN LOẠI CƠ BẢN.
1. Khái niệm:
Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học
thuyết mới, định luật mới,…về tự nhiên và xã hội. Những kiến thức, học thuyết hay
định luật mới này chưa từng có hoặc đã có rồi nhưng chúng tốt hơn, phản ánh đúng và
toàn diện hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp.
Như thế, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về quy luật vật chất và sự vận
động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy. Hệ thống tri thức
học này có thể bao gồm các yếu tố của các ngành khoa học khác nhưng thường có
thuật ngữ và cơ quan chuyên môn riêng ( như các ngành Hóa-Sinh, Hóa-Lý, Cơ-Điện
Tử, Toán-Cơ, Toán-Tin…).
III. MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC.
1. Triết học và khoa học trước Mác.
Chúng ta đều biết triết học Mác ngày nay đã trở thành thế giới quan và phương
pháp luận trong nhận thức và thực tiễn, mặt khác nó ra đời như một tất yếu lịch sử để
tổng kết và phát triển tri thức nhân loại nói chung, đồng thời tổng kết, đánh giá và
vạch ra phương hướng cho quá trình nghiên cứu khoa học cụ thể nói riêng. Do đó,
đứng trên lập trường CNDV và phép biện chứng duy vật chúng ta sẽ xem xét, đánh
giá mối quan hệ giữa triết học và khoa học qua các thời kỳ, và do triết học phương
Tây ảnh hưởng lớn nhất đến sự thay đổi của khoa học nên ta chủ yếu lấy bối cảnh
phương Tây để phân tích.
Vào thời cổ đại: Triết học bao hàm trong nó tri thức về tất cả các lĩnh vực, các
nhà triết học đồng thời cũng là các nhà khoa học. Thời kỳ này, trong xã hội chiếm hữu
nô lệ, khoa học chưa có khái niệm cụ thể, điều kiện lịch sử thời kỳ này còn sơ khai,
thiếu thốn cho nên các nhà triết học thời kỳ này chủ yếu đi lý giải thế giới tự nhiên
chủ yếu theo trực kiến, chưa phải là kết quả của nghiên cứu và thực nghiệm khoa học.
Tuy nhiên, nếu xét theo tính thời đại thì thời kỳ này xem triết học là “ Người mẹ” của
các ngành khoa học thì có thể chấp nhận được, biết rằng ngày nay thì nó bị đoạn tuyệt
hoàn toàn bởi triết học Mác. Triết học thời kỳ này đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ,
nó không chỉ gắn liền với sự hình thành và phát triển tư duy lý luận nói chung mà còn
đặt nền móng cho sự phát triển về sau cho chính mình và cho các ngành khoa học (cả
khoa học tự nhiên và xã hội). Nổi bật nhất trong thời kỳ kỳ này là phép biện chứng
chất phát, là mầm mống cho tư duy biện chứng, tuy nhiên nó còn ngây thơ, chất phác
vì nó chưa có phạm trù, nguyên lý, quy luật. Mặc dù phương pháp biện chứng này đã
cho thấy sự liên hệ, sự vận động, sự phát triển của sự vật nhưng chưa làm rõ, cái gì
đang liên hệ cũng như những quy luật nội tại của sự vận động và phát triển, tại sao sự
7
vật lại phát triển, khoa học bước đầu cũng chỉ đi lý giải thế giới thông qua tư duy cảm
8
tư tưởng của ông vẫn còn ảnh hưởng đến các thời kỳ sau. Và vào gần cuối thời trung
đại thì khoa học bắt đầu manh nha phát triển, báo hiệu thời kỳ sụp đổ của triết học
kinh viện, giáo điều, hữu thần.
Thời Phục hưng - cận đại: Nói chung, đây là thời kỳ mà khoa học bắt đầu phát
triển mạnh mẽ, mà trước hết là khoa học tự nhiên, nó hình thành dần trong lòng triết
học tự nhiên dưới sự thúc đẩy trực tiếp của thực tiễn sản xuất tư bản chủ nghĩa vừa
mới ra đời. Một số ngành khoa học tự nhiên đi tiên phong như cơ học, toán học tách ra
khỏi triết học tự nhiên. Cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, quá trình này diễn ra
mạnh mẽ làm ra đời nhiều ngành khoa học tự nhiên có đối tượng, phương pháp nghiên
cứu và hình thức diễn đạt riêng, trong đó phương pháp thực nghiệm và hình thức diễn
đạt toán học chiếm ưu thế. Các ngành khoa học mới được xây dựng trên những nền
tảng kinh nghiệm, tích lũy nhiều tri thức, xác lập dần những cơ sở lý luận chặt chẽ, và
được khái quát bằng công thức toán học chính xác.
Trong thời đại Phục hưng, các nhà tư tưởng tư sản đã bênh vực triết học duy vật,
vận dụng nó để chống lại chủ nghĩa kinh viện và thần học thời Trung đại. Cuộc đấu
tranh của chủ nghĩa duy vật chống chủ nghĩa duy tâm thường được biểu hiện dưới
hình thức đặc thù là khoa học chống tôn giáo, tri thức thực nghiệm đối lập với những
lập luận kinh viện. Cuối cùng, sự chuyên chính của giáo hội và sự thống trị của chủ
nghĩa kinh viện Trung đại đã không ngăn được sự phát triển bước đầu của khoa học
thực nghiệm và triết học duy vật – tiền đề cho những thành tựu mới và những đặc
điểm mới của triết học trong các thế kỷ tiếp theo.
Thời kỳ cận đại là thời kỳ phát triển rực rỡ của Tây Âu trên tất cả các mặt của đời
sống xã hội. Đó là sự phát triển tiếp tục của chủ nghĩa tư bản, của khoa học và tư
tưởng, trong đó có chủ nghĩa duy vật triết học, nhưng với những đặc điểm mới. Khác
với thời kì Phục hưng, thời cận đại (thế kỷ XVII-XVIII) ở các nước Tây Âu là thời kỳ
giai cấp tư sản đã giành được thắng lợi về chính trị trước giai cấp phong kiến. Ba cuộc
cách mạng tư sản lớn đã nổ ra và thành công: Cách mạng tư sản Hà Lan cuối thế kỷ
XVI ; Cách mạng tư sản Anh (1642-1648); Cách mạng tư sản Pháp (1789-1794). Đây
cũng là thời kỳ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập và trở thành
chứng, tuy phép biện chứng bị thần bí hoá, nhưng Hêghen vẫn là “người đầu tiên trình
bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện
chứng” (Mác) và nó cũng là nền tảng cơ bản để xây dựng triết học Mác sau này. Kể từ
đây, khoa học lại có bước phát triển vượt bậc, vượt xa trí tưởng tượng của con người.
2. Triết học và khoa học sau Mác.
10
Triết học phương Tây hiện đại đã hình thành ở các nước phương Tây từ giữa thế kỷ
XIX và phát triển mạnh mẽ cho đến ngày nay. Nó phản ánh hiện thực cuộc sống đầy
sôi động và vô cùng phức tạp của xã hội phương Tây tư bản chủ nghĩa trong quá trình
chuyển mình từ giai đoạn tiền đế quốc chủ nghĩa sang đế quốc chủ nghĩa, mà trước
hết là phản ánh cuộc đấu tranh tư tưởng ngày càng quyết liệt giữa giai cấp vô sản –
giai cấp ngày càng nhận thức rõ vai trò, sứ mạng lịch sử của mình, với giai cấp tư sản
– giai cấp ngày càng trở nên lỗi thời, thâm hiểm, phản động. Giai cấp tư sản nắm
trong tay tư liệu sản xuất, cho nên nó không ngừng thúc đẩy khoa học phát triển để
phục vụ cho giai cấp mình, theo đó là sự xuất hiện của triết học mới để đáp ứng nhu
cầu của thời đại. Vì vậy, triết học phương Tây hiện đại bao gồm hai dòng triết học
xung đột mãnh liệt với nhau, đó là triết học Mác – cở sở thế giới quan, phương pháp
luận, ý thức hệ của giai cấp vô sản và quần chúng nhân dân lao động tiến bộ đang đấu
tranh đòi cải tạo xã hội tư bản chủ nghĩa nhằm xây dựng chủ nghĩa cộng sản; và triết
học phương Tây ngoài Mácxít hiện đại bao gồm nhiều trào lưu, khuynh hướng, trường
phái,….rất đa dạng, tuy nhiên chúng ít nhiều xuất phát từ lợi ích của giai cấp tư sản, từ
truyền thống của các dân tộc Phương Tây hiện đại. Nhưng cho dù là triết học có đi
theo chiều hướng nào đi nữa thì cùng với sự phát triển ngày càng cao của khoa học thì
các hình thái ý thức xã hội sẽ dần dần bộc lộc bản chất của nó, trường phái nào, quan
điểm nào đáp ứng được nhu cầu của thời đại sẽ được trọng dụng, và nếu nó còn mang
tính phù hợp sẽ được kế thừa và phát triển, ngược lại sẽ bị từ bỏ dần dần, tất nhiên xã
hội có rất nhiều mặt cho nên để loại bỏ một cái gì đó đã tồn tại rất lâu rồi nhất là đời
sống tinh thần của con người thì là một điều không dễ dàng (ví dụ: tín ngưỡng, duy
tâm tôn giáo, thần học…).
Vào giữa thế kỷ XIX khoa học đã đạt được những thành tựu nổi bật về khoa học tự
vật có thể diễn ra một cách tự giác, cũng có thể diễn ra một cách tự phát. Ví như: Từ
hiện tượng năng lượng tách ra từ Ra, những người theo chủ nghĩa Makhơ và thuyết
duy năng ở cuối thế kỷ XIX đã rút ra kết luận: chủ nghĩa duy vật đã bị phá sản. Do đó,
họ cho rằng không cần tìm đại biểu vật chất của các thuộc tính phóng xạ. Nhưng M.
Curie – nhà khoa học thiên tài người Pháp lại đặt vấn đề ngược lại: Khả năng phát ra
các tia phóng xạ gắn liền với cái gì? Với trạng thái vật lý tạm thời của vật thể như sự
điện phân hay đó là một thuộc tính cơ bản của các nguyên tử thuộc loại vật chất đặc
biệt? Nếu nó gắn liền với trạng thái vật lý tạm thời của vật thể thì trong trường hợp đó
việc tìm kiếm các nguyên tố phóng xạ sẽ là vô nghĩa. Nhưng nếu đó là một thuộc tính
12
cơ bản của các nguyên tử thuộc loại vật chất đặc biệt thì trong khi đó các phóng xạ
(vận động), cần tìm đại biểu vật chất của nó. Qua đây chúng ta thấy, với những người
theo chủ nghĩa Makhơ và thuyết duy năng, những kết luận của họ chỉ đi tới sự kìm
hãm của phát minh khoa học, phản khoa học. Còn với M. Curie, việc áp dụng phép
biện chứng một cách tự phát nhưng lại đi tới phát minh khoa học.
Và điển hình trong thời hiện đại là khủng hoảng khoa học về lý luận, phương pháp,
kiểu mẫu mực hiện hành bị nghi ngờ (Ví dụ về hiện tượng hạt Higgs có cơ sở để phá
bỏ học thuyết của Anhxtanh)…nhất là trong lĩnh vực vật lý học, thì vấn đề khoa học
lại trở thành vấn đề của triết học. Như Lênin đã từng nhận xét: “Vật lý học hiện đại
đang và sẽ đi, nhưng nó đi tới phương pháp duy nhất đúng, đi tới triết học duy nhất
đúng của khoa học tự nhiên, không phải bằng con đường thẳng, mà bằng con đường
khúc khuỷu, không phải tự giác mà tự phát, không nhìn thấy rõ “mục đích cuối cùng”
của mình, mà đi đến mục đích đó một cách mò mẫm, ngập ngừng và thậm chí đôi khi
giật lùi nữa. Vật lý học hiện đại đang nằm trên giường đẻ. Nó đang đẻ ra chủ nghĩa
duy vật biện chứng. Một cuộc sinh đẻ đau đớn. Kèm theo sinh vật sống và có sức
sống, không tránh khỏi một vài sản phẩm chết, một vài thứ cặn bả nào đó phải vứt vào
sọt rác. Toàn bộ chủ nghĩa duy tâm vật lý học, toàn bộ triết học kinh nghiệm phê
phán, cũng như thuyết kinh nghiệm tượng trưng, v.v… đều thuộc những thứ cặn bả
phải vứt bỏ đi ấy”.
Nhiều nhà triết học ngoài triết học Mác tiêu biểu như: K.Popper (trào lưu triết học –
- Các phương pháp nghiên cứu cơ bản của triết học là phương pháp biện chứng và
phương pháp siêu hình đã giữ vai trò là phương pháp luận chung cho khoa học, nhất là
phương pháp biện chứng (bởi vì phương pháp siêu hình vẫn còn áp dụng ở một vài
trường hợp cá biệt, nhỏ lẽ, nhưng nhìn về tổng thể thì nó không còn phù hợp nữa).
Đến lượt mình, các phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp quan sát, mô
tả, phân tích, thực nghiệm, hệ thống cấu trúc, lại có ảnh hưởng mạnh đến mẽ đến
phương pháp tư duy triết học.
- Mục đích và nhiệm vụ của triết học như Mác đã nói: “triết học không chỉ là giải
thích thế giới mà còn cải tạo thế giới”. Còn khoa học là vạch ra các quy luật và áp
dụng chúng vào hoạt động thực tiễn nhằm phục vụ lợi ích của con người. Như vậy, cả
triết học và khoa học đều là công cụ nhận thức và cải tạo thế giới của con người.
Nhìn về cục diện trong toàn bộ quá trình lịch sử hình thành và phát triển, triết học
và khoa học nói chung và khoa học tự nhiên nói riêng luôn có mối quan hệ khăng khít,
nương tựa, thức đẩy lẫn nhau. Khoa học nói chung, đặc biệt là khoa học tự nhiên bằng
sự nghiên cứu toàn diện, đầy đủ, sâu sắc, chi tiết các hình thái vận động cơ bản của
14
thế giới vật chất đã cung cấp cho triết học những tài liệu nhận thức về tự nhiên, xã hội,
tư duy – đó chính là cơ sở vững chắc nhất, đáng tin cậy nhất để khẳng định nguyên lý
của triết học. Ngược lại, triết học cũng cung cấp cho khoa học các phương pháp
nghiên cứu chung, những khái niệm, những phạm trù, những hình thái tư duy logic, và
một cái nhìn tổng thể, bao quát về thế giới.
KẾT LUẬN
Ph.Ăngghen đã viết: “Những nhà khoa học tự nhiên tưởng rằng họ thoát khỏi triết
học bằng cách không để ý đến hoặc phỉ báng nó. Nhưng vì không có tư duy thì họ
không thể tiến lên được một bước nào… Những ai phỉ báng triết học nhiều nhất lại
chính là những kẻ nô lệ của những tàn tích thông tục hóa, tồi tệ nhất của những học
thuyết triết học tồi tệ nhất. Dù những nhà khoa học tự nhiên có làm gì đi nữa thì họ
cũng vẫn bị triết học chi phối. vấn đề chỉ ở chỗ họ muốn bị chi phối bởi một thứ triết
học tồi tệ hợp mốt hay họ muốn được hướng dẫn bởi một hình thức tư duy lý luận dựa
trên sự hiểu biết về lịch sử tư tưởng và những thành tựu của nó”. Cùng với những
bản Khoa học – Xã hội.
4. Phạm Thị Ngọc Trầm (2003), Khoa học công nghệ với nhận thức biến đổi thế giới
và con người – Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học _ Xã
Hội.
5. Thomas Kuhn (2008), Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học, Hà Nội: Nhà xuất
bản Tri thức.
6. Werner Heisenberg (2009), Vật lý và Triết học, Hà Nội: Nxb Tri thức.
Một số website tham khảo:
1. khoahoc.com.vn
2. phuctriethoc.com.vn
3. tusach.thuvienkhoahoc.com
4. vientriethoc.com.vn
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
I . KHÁI NIỆM VÀ CHỨC NĂNG CỦA TRIẾT HỌC 2
1. Triết học là gì? Đối tượng nghiên cứu của nó 2
2. Chức năng của triết học 3
II. KHÁI NIỆM VỀ KHOA HỌC VÀ PHÂN LOẠI CƠ BẢN 5
1. Khái niệm 5
2. Phân loại cơ bản 5
III. MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC 6
1. Triết học và khoa học trước Mác 6
2. Triết học và khoa học sau Mác 10
KẾT LUẬN 15