MỤC LỤC
Đối với doanh nghiệp 10
Đối với người tiêu dùng 11
Đối với nền kinh tế 11
Danh mục các từ viết tắt
TNHH: trách nhiệm hữu hạn
NLCT: năng lực cạnh tranh
XDCB: xây dựng cơ bản
MMTB: máy móc thiết bị
NNL: nguồn nhân lực
VĐT: vốn đầu tư
LN: lợi nhuận
DT: doanh thu
R&D: hoạt động nghiên cứu và triển khai công nghệ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Đối với doanh nghiệp 10
Đối với người tiêu dùng 11
Đối với nền kinh tế 11
1
LỜI NÓI ĐẦU
Trong xu hướng hội nhập toàn cầu như hiện nay thì các doanh nghiệp
nước ngoài nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng phải cạnh tranh
nhau gay gắt để tồn tại. Bất kì một doanh nghiệp nào cũng đặt lợi nhuận là mục
tiêu hàng đầu nên mọi doanh nghiệp đều tìm mọi cách tận dụng mọi cơ hội để
tạo ra lợi nhuận cao nhất với khả năng của mình. Trong những năm gần đây quá
trình hợp tác và hội nhập kinh tế diễn ra hết sức mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế
giới hình thành nên các liên kết khu vực và trên thế giới như WTO, AFTA
Trong xu thế đó Việt Nam cũng đã trở thành thành viên của nhiều tổ chức lớn
như APEC, WTO, AFTA…như vậy các sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam
vừa có cơ hội để mở rộng và xâm nhập thị trường tiêu thụ đồng thời phải chịu
sức ép cạnh tranh lớn hơn. Để có chỗ đứng trên thị trường các doanh nghiệp
thực tập tại công ty. Vì thời gian và trình độ hiểu biết của bản thân có hạn nên
đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót, mong nhận được những đóng góp quý báu
của quý thầy cô để đề tài được hoàn thiện và có tính thiết thực hơn .
Em xin chân thành cảm ơn !
3
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ ĐẦU TƯ
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGIỆP
1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
Cạnh tranh là một khái niệm rộng không những tồn tại trong lĩnh vực kinh
tế mà còn tồn tại trong lĩnh vực xã hội. Trong nền kinh tế thị trường các chủ thể
kinh tế vì lợi ích riêng của bản thân mà tiến hành cạnh tranh với nhau.
Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền
sản xuất hàng hoá nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản
xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hoá để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất
cho mình. Cạnh tranh có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng
(Người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa người tiêu
dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn, tốt hơn; giữa những người sản xuất để
có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ. Có nhiều biện pháp cạnh
tranh: cạnh tranh giá cả (giảm giá ) hoặc phi giá cả (quảng cáo ).
Cạnh tranh gắn liền với hành vi của chủ thể trong nền kinh tế. Trong quá
trình cạnh tranh với nhau, để giành lợi thế về mình, các chủ thể phải áp dụng
tổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển vị thế của mình trên thị
trường. Các biện pháp này thể hiện 1 sức mạnh nào đó của chủ thể, được gọi là
năng lực cạnh tranh hay sức cạnh tranh hay khả năng cạnh tranh của chủ thể đó.
sdgsdVậy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là gì? Đây là một khái niệm
được sử dụng rộng rãi nhưng cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều định nghĩa khác
nhau về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Dưới đây là một số cách tiếp cận
cụ thể khác nhau như: chi phí sản xuất, thị phần, khả năng cung ứng sản phẩm
…về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
trường một cách lâu dài nhằm thu được lợi ích ngày càng cao cho doanh
nghiệp”.
1.1.2 Các loại hình cạnh tranh
5
Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, người ta phân chia cạnh tranh thành
các loại hình khác nhau:
- Căn cứ theo phạm vi nền kinh tế cạnh tranh được chia thành 2
loại :
+ Cạnh tranh giữa các ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp sản xuất, mua bán hàng hoá, dịch vụ trong các ngành kinh tế khác nhau
nhằm thu được tỷ suất lợi nhuận cao. Cuộc cạnh tranh nhằm thu được tỷ suất
cao giữa các ngành khác nhau đã được Mac phân tích rất rõ trong quá trình phân
chia lợi nhuận giữa các nhà tư bản bỏ vốn đầu tư vào các ngành khác nhau của
nền kinh tế và chính sự cạnh tranh này dẫn tới sự di chuyển vốn đầu tư từ các
ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp sang các ngành có tỷ suất lợi nhuận cao hơn, di
chuyển vốn này dần hình thành nên tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành
với nhau, điều này có nghĩa là các nhà đầu tư đầu tư vào các ngành khác nhau
với số vốn bằng nhau thì chỉ thu được lợi nhuận như nhau.
+ Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là sự cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hoá. Cạnh tranh trong nội bộ
ngành dẫn đến sự hình thành giá cả thị trường. Trong cuộc cạnh tranh này các
doanh nghiệp thôn tính lẫn nhau, các doanh nghiệp lớn thâu tóm các doanh
nghiệp nhỏ hơn bằng hình thức: sát nhập, mua lại. Những doanh nghiệp chiến
thắng trong cuộc cạnh tranh này thì ngày càng mạnh hơn, những doanh nghiệp
thua cuộc sẽ phải thu hẹp sản xuất kinh doanh, thậm chí phá sản, xoá sổ khỏi thị
trường. Kết quả của hình thức cạnh tranh này là đến nay thế giới đã hình thành
nên những tập đoàn kinh tế mạnh xuyên quốc gia thâu tóm toàn bộ ngành kinh
tế trên toàn cầu trong lĩnh vực: điện tử, viễn thông, truyền thông
- Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường người ta phân chia
cạnh tranh thành 3 loại:
+ Thị trường cạnh tranh hoàn hảo: là hình thức cạnh tranh trên thị
trường có nhiều người mua và người bán độc lập với nhau. Tất cả các đơn vị
hàng hoá trao đổi được coi là giống nhau. Những người mua và người bán đều
7
có hiểu biết đầy đủ về các thông tin liên quan đến việc trao đổi, không có gì cản
trở việc ra nhập và rút khỏi thị trường.
+ Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo: là hình thức cạnh tranh trên
thị trường mà phần lớn sản phẩm không đồng nhất với nhau. Người bán có thể
ấn định giá linh hoạt theo khu vực bán sản phẩm, tùy theo khách hàng cụ thể và
mức độ lợi nhuận mong muốn.
+ Cạnh tranh độc quyền: là trường hợp trên thị trường chỉ có một số ít
người (hoặc tổ chức) độc chiếm thị trường. Những người hay tổ chức này có
quyền lực kinh tế lớn đối với quá trình sản xuất, chi phối thị trường, quy định
giá bán độc quyền cao, giá mua độc quyền thấp.
- Căn cứ vào thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh người ta chia
cạnh tranh thành 2 loại :
+ Cạnh tranh lành mạnh: Là hình thức cạnh tranh, trong đó các chủ thể các
doanh nghiệp trên cùng một vùng địa lý, hay lãnh thổ, cùng một quốc gia hay
vùng thị trường, đều đảm bảo thực hiện các công việc kinh doanh của mình
đúng theo các quy định của luật pháp, phù hợp với chuẩn mực xã hội và được xã
hội thừa nhận. Thu lợi nhuận nhuận trên cơ sở những nỗ lực của bản thân doanh
nghiệp, cải tiến sản xuất, công nghệ, phương pháp quản lý,…làm giảm giá thành
tăng lợi nhuận.
+ Cạnh tranh không lành mạnh: Là hình thức cạnh tranh dựa vào các kẽ hở
của luật pháp, trái với chuẩn mực xã hội và bị xã hội lên án như trốn thuế, buôn
lậu, ăn cắp bản quyền phát minh sáng chế, bán phá giá, khủng bố, vv ).
1.1.3 Các nhân tố tác động đến cạnh tranh:
Michael E.Porter là giáo sư của đại học Harvard. Ông là tác giả của các
tác phẩm kinh điển như “Chiến lược cạnh tranh” (competitive strategy), “Lợi
thế cạnh tranh” (competitive advantage) và “Lợi thế cạnh tranh quốc gia”
9
Hình 1: Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter
1.1.4 Vai trò của cạnh tranh đối với sự phát triển
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh có vai trò vô cùng quan trọng, nó
được coi là động lực của sự phát triển không chỉ của mỗi cá nhân, mỗi doanh
nghiệp mà cả nền kinh tế nói chung.
Đối với doanh nghiệp
Đối với mỗi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị
trường, cạnh tranh có những vai trò sau:
Cạnh tranh được coi như là cái “sàng” để lựa chọn và đào thải những
doanh nghiệp. Vì vậy nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp có vai trò
cực kỳ to lớn.
Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Cạnh
tranh tạo ra động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp
tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải phát triển công tác marketing bắt
đầu từ việc nghiên cứu thị trường để xác định được nhu cầu thị trường từ đó ra
các quyết định sản xuất kinh doanh để đáp ứng các nhu cầu đó. Bên cạnh đó,
10
doanh nghiệp phải nâng cao các hoạt động dịch vụ cũng như tăng cường công
tác quảng cáo, khuyến mãi, bảo hành
Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải đưa ra các sản phẩm có chất
lượng cao hơn để đáp ứng được nhu cầu thường xuyên thay đổi của người tiêu
dùng. Muốn vậy, các doanh nghiệp phải áp dụng những thành tựu khoa học kỹ
thuật mới vào quá trình sản xuất kinh doanh, tăng cường công tác quản lý, nâng
cao trình độ tay nghề của công nhân từ đó làm cho doanh nghiệp ngày càng
phát triển hơn.
Đối với người tiêu dùng
Có cạnh tranh, hàng hoá sẽ có chất lượng ngày càng tốt hơn, mẫu mã
ngày càng đẹp, phong phú đa dạng hơn để đáp ứng các yêu cầu của người tiêu
Cạnh tranh cũng có những tác động tiêu cực thể hiện ở cạnh tranh không
lành mạnh như những hành động vi phạm đạo đức hay vi phạm pháp luật (buôn
lậu, trốn thuế, tung tin phá hoại, ) gây nên sự bất ổn trên thị trường, làm thiệt
hại đến lợi ích của nhà nước và của người tiêu dùng hoặc những hành vi cạnh
tranh làm phân hóa giàu nghèo, tổn hại môi trường sinh thái.
Phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của cạnh
tranh không chỉ là nhiệm vụ của nhà nước, doanh nghiệp mà là nhiệm vụ chung
của toàn bộ cá nhân.
1.2 Cơ sở lý luận về đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm về đầu tư và đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh trong
doanh nghiệp
Đầu tư theo nghĩa rộng nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện
tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết
quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được
các kết quả đó. Nguồn lực đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao
động và trí tuệ.
Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn),
tài sản vật chất ( nhà máy, đướng sá, các của cải vật chất khác ) và nguồn nhân
lực có đủ điêu kiện để làm việc với năng suất cao hơn trong nền kinh tế xã hội.
Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn
lực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương lai
lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó.
Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp là việc hy
sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm nâng
cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong tương lai. Ta có thể thấy
trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
với nhau là vô cùng gay gắt. Sự cạnh tranh có thể làm một doanh nghiệp phát
12
triển hơn nhưng cũng có thể làm doanh nghiệp đó phá sản nếu doanh nghiệp đó
không chịu nổi sức ép từ thị trường. Chính vì vậy mà việc đầu tư để nâng cao
thiết bị là tài sản rất quan trọng và không thể thiếu được. Vì vậy mà hoạt động
đầu tư này cũng chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng vốn đầu tư của các doanh
nghiệp.
Máy móc thiết bị phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng sản phẩm, đạt được
trình độ công nghệ thì doanh nghiệp mới có khả năng cạnh tranh với các đối thủ
trên thị trường. Đầu tư thích đáng vào hoạt động mua sắm và sửa chữa máy móc
thiết bị giúp các doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm tiêu hao
nhiên liệu, tiết kiệm chi phí, giảm giá thành và tăng năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp.
Hoạt động mua sắm và sửa chữa máy móc thiết bị gồm các công việc sau:
- Nghiên cứu và tìm hiểu các loại máy móc thiết bị phù hợp với quy
mô sản xuất, quy mô nhà xưởng của doanh nghiệp.
- Ký kết các hợp đồng mua sắm máy móc thiết bị phục vụ sản xuất.
Lựa chọn các nhà cung cấp uy tín.
- Tiến hành nhận máy, vận chuyển về nơi sử dụng, lắp đặt và chạy thử.
- Xây dựng các cơ sở vất chất để cất giữ và bảo quản máy.
- Thiết lập tổ công nhân vận hành máy, bao gồm cả đào tạo thợ và
chuyển giao công nghệ ( đối với các máy móc phức tạp).
- Tiến hành sửa chữa, thay thế máy móc định kỳ.
- Xác định một số vốn lưu động cần thiết cho vận hành máy (nhất là
dự trữ chi tiết máy và nhiên liệu).
1.2.2.3 Đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực:
Đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là đầu tư cho hoạt động đào
tạo và nâng cao tay nghề, kiến thức làm việc cho đội ngũ lao động. Ngoài ra còn
phải đầu tư cho công tác chăm sóc sức khỏe, y tế; đầu tư cải thiện môi trường,
điều kiện làm việc của người lao động… Nguồn nhân lực có vị trí quan trọng
14
trong nền kinh tế và doanh nghiệp vì chỉ có nguồn nhân lực chất lượng cao mới
đảm bảo dành thắng lợi trong cạnh tranh.
Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp được đánh giá thông qua số lượng lao
công nghệ của riêng mình.
Nghiên cứu và phát triển (R&D) là hoạt động không thể thiếu mang tính
tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Có thể nói R&D là sự đảm bảo cho sự tồn
tại và không bị lạc hậu của tất cả các doanh nghiệp. Đổi mới và nâng cao hiệu
quả hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ được đánh giá là tiền đề
phát huy năng lực nội tại và nâng cao sức cạnh tranh. Cùng với đà phát triển của
kinh tế đất nước và doanh nghiệp, trong tương lai tỷ trọng chi cho hoạt động này
sẽ ngày càng tăng, tương ứng với nhu cầu và khả năng của doanh nghiệp.
Một số nội dung trong hoạt động đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm:
- Đầu tư vào hệ thống máy móc thiết bị nhà xưởng cơ sở hạ tầng cho
việc nghiên cứu ứng dụng và triển khai KHCN.
- Đầu tư cho công tác phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển
công nghệ.
- Đầu tư xây dựng tổ chức hệ thống thông tin quản lý phục vụ hoạt
động KH&CN.
- Đầu tư thuê mua bản quyền phát minh, bằng sáng chế.
1.2.2.5 Đầu tư cho hoạt động marketing:
Đầu tư cho hoạt động marketing là đầu tư cho quảng cáo, xúc tiến thương
mại, xây dựng thương hiệu… hoạt động marketing là một trong những hoạt
động quan trọng của doanh nghiệp, hoạt động này giúp doanh nghiệp đến gần
hơn với người tiêu dùng, làm cho người tiêu dùng biết đến các sản phẩm và dịch
vụ của doanh nghiệp.
“Chức năng của Marketing trong kinh doanh là xác định những nhu cầu
và ước muốn chưa được đáp ứng, vạch rõ và đo lường quy mô và khả năng sinh
lợi tiềm tàng, xác định những thị trường mục tiêu nào mà tổ chức có thể phục vụ
tốt nhất, quyết định làm ra các sản phẩm dịch vụ và chương trình thích hợp để
16
cung ứng cho những thị trường đã lựa chọn đó, và kêu gọi mọi người trong tổ
chức suy nghĩ và phục vụ cho khách hàng đó. ” – Philip Kotler.
Trong thời buổi kinh tế thị trường khi mà các doanh nghiệp đặt mục tiêu
Trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay, sự phát triển không ngừng
của khoa học công nghệ đã góp phần rất lớn vào việc cải thiện nền công nghiệp
lạc hậu của nước ta. Nhiều công nghệ tiên tiến hiện đại đã được chuyển giao
vào nước ta trong các lĩnh vực như khai thác dầu khí, thông tin viễn thông, xây
dựng…tạo nền tảng cho các ngành công nghiệp chủ chốt của nước ta.
Trước sự cạnh tranh gay gắt của các đối thủ, việc trang bị cho mình
những máy móc, thiết bị tối tân là bước đi đúng đắn của các doanh nghiệp hiện
nay nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Công nghệ hiện đại giúp cho sản
phẩm tạo ra có chất lượng cao, giá thành sản phẩm giảm do tiết kiệm được
năng lượng và nguyện vật liệu.
1.2.3.2. Sự hội nhập kinh tế quốc tế:
Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào
ngày 11/1/2007 và trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức này. Việc gia nhập
WTO mang đến cho các doanh nghiệp trong nước nhiều cơ hội và thách thức
phát triển. Nhưng cả cơ hội và thách thức đều
Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ kinh tế - thương mại với trên 200 nước
và vùng lãnh thổ. Việt Nam đã trở thành quốc gia xuất khẩu hàng đầu trên thế
giới về một số sản phẩm như gạo, cà phê, thủy sản, dệt may, v.v Nhiều mặt
hàng xuất khẩu khác cũng đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ trong thời gian qua
như sản phẩm gỗ, máy vi tính và sản phẩm điện tử, dây cáp điện, chất dẻo, v.v
Cơ hội của chúng ta là được mở rộng quan hệ thương mại với nhiều quốc
gia trên thế giới từ đó các doanh nghiệp trong nước tìm thấy được thêm các thị
trường mới cho sản phẩm của mình. Thách thức khi hội nhập kinh tế quốc tế là
có nhiều tập đoàn, nhiều doanh nghiệp sẽ gia nhập thị trường trong nước và
cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp trong nước. Nhờ hội nhập kinh tế quốc
tế mà các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội được thử sức mình trong cuộc cạnh
18
tranh toàn cầu và điều này góp phần làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những chiến lược đầu tư đúng đắn.
1.2.3.3. Lợi nhuận kỳ vọng trong tương lai
Trong đó, nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sống còn đến sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp.
1.2.4 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả của hoạt động đầu tư nâng cao
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.4.1 Chất lượng sản phẩm:
Trong thời buổi cạnh tranh trên quy mô toàn cầu như hiện nay, khi mà
hàng hóa và dịch vụ được phân phối bởi vô số nhà cung cấp. Hàng hóa và dịch
vụ quá phong phú và đa dạng khiến cho người tiêu dùng gặp khó khăn trong
việc lựa chọn giữa các nhà cung cấp. Vì vậy yếu tố hàng đầu tác động đến quyết
định của người tiêu dùng khi chọn một sản phẩm là chất lượng của sản phẩm đó.
Người tiêu dùng luôn có xu hướng quay lại với sản phẩm mà họ cảm thấy hài
lòng hơn là việc thử một sản phẩm mới mà không biết chất lượng sản phẩm của
nó như thế nào.
Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, với mục đích khác nhau nên có nhiều quan
điểm về chất lượng khác nhau. Tuy nhiên, có một định nghĩa về chất lượng được
thừa nhận ở phạm vi quốc tế, đó là định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc
tế. Theo điều 3.1.1 của tiêu chuẩn ISO 9000:2000 định nghĩa chất lượng là:
“Mức độ của một tập hợp có đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu”. Chất lượng
đặc trưng cho khả năng thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Vì vậy sản phẩm
nào không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì bị coi là kém chất lượng
cho dù trình độ công nghệ sản xuất ra có hiện đại đến đâu đi nữa.
Ta có thể thấy kết quả của hoạt động đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh
được phản ánh rất rõ ràng qua chỉ tiêu chất lượng sản phẩm. Chất lượng sản
phẩm tốt được tạo nên từ công nghệ sản xuất tốt, hiện đại, đội ngũ lao động kỹ
thuật tốt và có chuyên môn.
20
1.2.4.2 Khối lượng sản phẩm tiêu thụ:
Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh
doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tiêu thụ
sản phẩm là thực hiện mục đích của sản xuất hàng hoá, là đưa sản phẩm từ
Vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh thể hiện
thông qua chỉ tiêu thị phần. Thị phần của doanh nghiệp càng lớn, vị thế của
doanh nghiệp cành cao, càng vững chắc.
1.2.4.4. Doanh thu tăng thêm:
Doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền sẽ thu được do tiêu thụ sản
phẩm, cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác của doanh
nghiệp. Doanh thu càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp tiêu thụ được càng nhiều sản
phẩm, hàng hóa trên thị trường. Trong kinh tế học, doanh thu thường được xác
định bằng giá bán nhân với sản lượng.
Công thức: TR = P*Q
Trong đó: TR là tổng doanh thu
P là giá bán sản phẩm
Q là khối lượng sản phẩm tiêu thụ của doanh nghiệp
Doanh thu tăng thêm được tính là sự chênh lệch giữa doanh thu năm tính
toán và doanh thu năm trước đó. Nó cho biết sự gia tăng tuyệt đối giữa doanh
thu của doanh nghiệp qua các năm.
Ngoài ra ta còn có thêm định nghĩa về doanh thu biên đó là phần doanh
thu có thêm nhờ sản xuất thêm được một đơn vị sản phẩm. Nó có thể diễn đạt
bằng tỷ lệ giữa mức thay đổi trong doanh thu với mức thay đổi trong sản lượng.
1.2.4.5 Lợi nhuận tăng thêm:
Lợi nhuận, trong kinh tế học, là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận thêm
nhờ đầu tư sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến đầu tư đó, bao gồm cả chi
phí cơ hội. Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí.
Công thức: π = TR-TC
Trong đó: π là lợi nhuận của doanh nghiệp
TR là tông doanh thu của doanh nghiệp
TC là tổng chi phí của doanh nghiệp
22
Ta có lợi nhuận bao gồm lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế. Lợi
nhuận trước thuế là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí. Lợi
đi) của số lượng lao động được đào tạo chuyên môn qua các thời kỳ.
Để đánh giá được trình độ của người lao động, người ta chia công nhân
theo các cấp bậc. Có 7 bậc thợ và thợ bậc 7/7 được đánh giá cao nhất do họ có
tay nghề cũng như chuyên môn vững vàng nhất. Mức nâng cao trình độ nghề
nghiệp của người lao động được thể hiện ở chỉ tiêu bậc thợ bình quân thay đổi
sau khi đầu tư so với trước khi đầu tư và mức thay đổi này tính trên một đơn vị
vốn đầu tư. Càng có nhiều lao động được qua đào tạo thì trình độ lao động càng
được nâng cao và hoạt động đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực càng
cho thấy hiệu quả.
1.2.5 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của hoạt động đầu tư nâng cao
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp:
- Doanh thu tăng thêm so với tổng vốn đầu tư nâng cao năng lực
cạnh tranh: là chỉ tiêu dùng để xác định mức doanh thu tăng thêm tính trên 1
đơn vị vốn đầu tư phát huy tác dụng trong kỳ của doanh nghiệp. Tỷ suất này
càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của doanh nghiệp càng cao.
- Lợi nhuận tăng thêm so với tổng vốn đầu tư nâng cao năng lực
cạnh tranh: hay còn gọi là tỷ suất lợi nhuận là chỉ tiêu cho biết khả năng sinh lãi
của một đơn vị tiền vốn bỏ ra khi đầu tư. Mặt khác nó phản ánh khả năng hoàn
vốn của một dự án, qua đó nó đánh giá hiệu quả của dự án đầu tư. Tỷ suất này
càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của doanh nghiệp càng cao.
24
Chương 2 : Thực trạng đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của công
ty TNHH may nhân đạo Trí Tuệ trong giai đoạn 2006-2012
2.1 Giới thiệu chung về công ty TNHH may nhân đạo Trí Tuệ
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
- Tên gọi: Công ty TNHH May Nhân Đạo - Trí Tuệ.
- Địa chỉ: Số 5 - Cầu Diễn - Từ Liêm - Hà Nội.
- Số điện thoại: 043.7645704
- Fax: 043.7645704
- Email: [email protected].