Giải pháp về hoàn thiện Quản lý nhà nước đối với thị trường dịch vụ viễn thông trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay - Pdf 26

MỤC LỤC
* Dịch vụ 4
Bản chất của dịch vụ là công việc được thực hiện theo đơn đặt hàng
nhưng không tạo ra sản phẩm có hình thái độc lập mới 4
Hoặc, dịch vụ là những dạng hoạt động, công việc, mà trong quá trình
thực hiện chúng không tạo ra sản phẩm vật chất có hình thái vật thể mới,
nhưng làm cho sản phẩm hiện có đã được tạo ra thay đổi về chất. 4
4.4. Một số kiến nghị với nhà nước và Bộ TT&TT 72
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã đưa ra được một số nhận xét và đánh
giá về thực trạng QLNN đối với thị trường dịch vụ viễn thông trên địa bàn
Thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay, qua đó mạnh dạn đề xuất một số giải
pháp nhằm hoàn thiện QLNN đối với thị trường dịch vụ viễn thông trên địa
bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian
nghiên cứu và hạn chế về nhận thức trong một số lĩnh vực nên còn một số vấn
đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu. Cụ thể: 73
i
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1. Chi phí sử dụng dịch vụ điện thoại di động Error: Reference source
not found
iv
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 3.1. Đồ thị tăng trưởng thuê bao điện thoại. . Error: Reference source not
found
Hình 3.2. Đồ thị số thuê bao điện thoại di động/100 dân. Error: Reference
source not found
Hình 3.3. Đồ thị tăng trưởng số thuê bao điện thoại cố định. . Error: Reference
source not found
Hình 3.4. Đồ thị số thuê bao điện thoại cố định/100 dân. Error: Reference
source not found
Hình 3.5. Tăng trưởng doanh thu viễn thông Error: Reference source not
found

vii
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài
Trước hết cần phải khẳng định rằng nền kinh tế nước ta đang phát triển mạnh
mẽ và nhanh chóng, nhất là từ khi nước ta gia nhập WTO. Thật vậy, theo số liệu
của Tổng cục Thống Kê, trong 5 năm 2006-2010, tổng thu nhập trong nước bình
quân đầu người tăng 1,6 lần tương đương 438 USD, tính theo VNĐ thì GDP bình
quân đầu người năm 2010 đạt gần 22,8 triệu đồng, tăng gần 2 lần so với năm 2006.
Việt Nam đã thoát ra khỏi nhóm quốc gia nghèo. Do điều kiện kinh tế ngày càng
cao nên tiêu dùng dịch vụ cũng tăng theo để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của cuộc sống.
Đăc biệt, trong điều kiện CNTT đang phát triển không ngừng thì ngành dịch vụ viễn
thông cũng đang đươc chú trọng phát triển và nhu cầu về dịch vụ viễn thông đang
ngày càng gia tăng.
Khi mức sống cao hơn, người dân được tiếp cận nhiều hơn với tiến bộ của
khoa học công nghệ, họ đã sử dụng dịch vụ viễn thông để phục vụ tốt hơn cho công
việc và cuộc sống của mình. Vì những lợi ích mà dịch vụ viễn thông mang lại nên
họ sẵn sàng chi trả nhiều hơn để tiêu dùng dịch vụ này.
Trong những năm gần đây, ngành dịch vụ viễn thông đã có những đóng góp
không nhỏ cho nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, việc phát triển ngành dịch vụ này
không những làm tăng GDP cả nước mà còn có vai trò hỗ trợ các ngành kinh tế
khác phát triển.
Nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, nhiều công ty kinh doanh dịch
vụ viễn thông đã ra đời. Sự ra đời của các công ty này đã làm cho cạnh tranh trên thị
trường diễn ra hết sức khốc liệt. Để duy trì sự ổn định của nền kinh tế và tạo ra môi
trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng thì nhất thiết phải có sự tham gia của Nhà
nước.
Như vậy có thể nói, việc phát triển thị trường dich vụ viễn thông là một tất
yếu khách quan và QLNN đối với thị trường dịch vụ viễn thông là hết sức cần thiết.
1
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan

trường viễn thông như thế nào?
2
- Các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN đối với thị trường dịch vụ viễn thông là
gì?
- Thực trạng QLNN đối với thị trường dịch vụ viễn thông trên địa bàn Thành
phố Hà Nội giai đoạn hiện nay là như thế nào?
- Các giải pháp nào cần được đưa ra để hoàn thiện QLNN đối với thị trường
dịch vụ viễn thông trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay?
1.6. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Các vấn đề liên quan đến QLNN địa phương đối với thị
trường dịch vụ viễn thông
- Về không gian: trên địa bàn Thành phố Hà Nội
- Về thời gian: Các số liệu đã được thu thập chủ yếu thuộc 3 năm gần đây.
1.7. Kết cấu của luận văn
Gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về QLNN địa phương đối với thị trường
dịch vụ viễn thông.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và phân tích thực trạng QLNN đối với
thị trường dịch vụ viễn thông trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay.
Chương 4: Giải pháp về hoàn thiện QLNN đối với thị trường dịch vụ viễn
thông trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay.
3
Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QLNN ĐỊA PHƯƠNG ĐỐI VỚI
THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ VIỄN THÔNG
2.1. Các khái niệm về thị trường dịch vụ viễn thông
2.1.1. Dịch vụ và dịch vụ viễn thông
* Dịch vụ
Bản chất của dịch vụ là công việc được thực hiện theo đơn đặt hàng nhưng
không tạo ra sản phẩm có hình thái độc lập mới.

hoá. Bên cạnh những hàng hoá hiện vật, trên thị trường còn có những hàng hóa vô
hình hay dịch vụ, như dịch vụ của bác sĩ, giáo viên, luật sư, v.v. Giá trị sử dụng của
dịch vụ là đáp ứng một nhu cầu nào đó của người mua. Để tạo ra dịch vụ cũng cần
tới những chi phí lao động nhất định. Những người làm dịch vụ cũng cần nhận được
thu nhập bằng tiền từ hoạt động dịch vụ của mình, đồng những người được thụ
hưởng dịch vụ cũng phải chi tiền để được hưởng thụ những dịch vụ đó. Căn cứ
chủ yếu để xác định giá cả thị trường của dịch vụ là chi phí sản xuất ra chúng.
* Dịch vụ viễn thông
Viễn thông là việc gửi, truyền, nhận và xử lý ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ
viết, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng thông tin khác bằng đường cáp, sóng vô tuyến
điện, phương tiện quang học và phương tiện điện từ khác. Các dịch vụ viễn thông
đầu tiên theo nghĩa này là điện báo và điện thoại. Ngày nay các thiết bị viễn thông
là một thành phần cơ bản của hệ thống hạ tầng.
5
Theo quy định tại Điều 37 - Nghị định số 109/CP, dịch vụ viễn thông được
hiểu là dịch vụ truyền đưa, lưu trữ và cung cấp thông tin bằng hình thức truyền dẫn,
phát, thu những ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh thông qua
mạng lưới viễn thông công cộng do doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cung
cấp.
Theo Luật viễn thông, dịch vụ viễn thông là dịch vụ gửi, truyền, nhận và xử
lý thông tin giữa hai hoặc một nhóm người sử dụng dịch vụ viễn thông, bao gồm
dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng.
Tóm lại, dịch vụ viễn thông là kết quả tất yếu được nảy sinh từ nhu cầu sản
xuất ra các phương thức, phương tiện truyền tải thông tin nhằm phục vụ hoạt động
sản xuất kinh doanh, quản lý xã hội và nhu cầu đời sống con người. Quá trình
truyền tải thông tin không những thường gắn liền với quá trình sản xuất, tiêu thụ sản
phẩm, hoặc giữa các quá trình đó với nhau. Nó được xác định bằng đại lượng thời
gian, không gian truyền tin. Quá trình truyền tải thông tin ban đầu được thực hiện
thông qua dịch vụ , nhưng dưới tác động của nghiên cứu và ứng dụng khoa học -
công nghệ, dịch vụ viễn thông đã được hình thành và phát triển nhanh với nhiều

mục đích gắn kết việc quản lý dịch vụ với quản lý về kỹ thuật và nghiệp vụ đối với
từng loại dịch vụ đó. Trong điều kiện hội tụ công nghệ và dịch vụ viễn thông như
hiện nay cùng với việc xuất hiện của các công nghệ đa phương tiện thì cách phân
loại nói trên đã trở nên không còn phù hợp nữa. Đặc biệt là cũng không phù hợp với
lộ trình mở cửa thị trường viễn thông trong thời gian sắp tới của đất nước, khi mà sẽ
có nhiều thành phần kinh tế tham gia vào thị trường cung cấp dịch vụ viễn thông, sẽ
dẫn đến việc không phân định rõ doanh nghiệp loại nào thì được cung cấp dịch vụ
gì, mức độ mở cửa đến đâu nên cơ quan quản lý sẽ phải quy định một cách cứng
nhắc bằng từng giấy phép cụ thể đối với từng loại dịch vụ cho từng doanh nghiệp,
dẫn đến việc không rõ ràng hay không minh bạch trong quản lý, thậm chí có thể dẫn
đến tình trạng có những hiểu lầm đáng tiếc từ phía xã hội về việc vẫn tồn tại hay
7
còn mang nặng tính chất độc quyền trong cung cấp các dịch vụ viễn thông. Để khắc
phục những vướng mắc này, thì việc xác định khái niệm và phân loại dịch vụ viễn
thông là hết sức quan trọng.
Đặc điểm dịch vụ viễn thông:
Dịch vụ viễn thông có những đặc điểm cơ bản của dịch vụ nói chung nhưng
đồng thời măng những sắc thái riêng, đặc thù gắn với hoạt động của ngành viễn
thông và nhu cầu của các chủ thể thụ hưởng dịch vụ viễn thông. Những đặc điểm đó
bao gồm: sản phẩm dịch vụ không mang hình thái hiện vật, hay là sản phẩm vô
hình; không chia tách được, thiếu ổn định và không thể dự trữ được.
+ Dịch vụ viễn thông là sản phẩm vô hình
Hầu hết các dịch vụ viễn thông không thể sờ mó hoặc sử dụng trước khi
mua, khách hàng khó có thể đánh giá được là họ đang mua gì trước khi mua. Sản
phẩm dịch vụ viễn thông khác với sản phẩm hàng hoá khác ở chỗ sản phẩm dịch vụ
viễn thông là loại sản phẩm hàng hoá đặc biệt, là dịch vụ truyền tải thông tin, không
có tính vật thể. Không thể kiểm tra, trưng bày hoặc bao gói dịch vụ được. Khách
hàng thường cảm thấy rủi ro hơn khi mua dịch vụ này so với các loại hàng hóa và
dịch vụ khác và điều này cản trở trao đổi dịch vụ. Các nhà cung cấp dịch vụ viễn
thông vượt qua các hạn chế này để tạo ra lợi thế cạnh tranh thông qua các cửa hàng

kiểm soát của nhà cung cấp dịch vụ, như đại diện của nhà cung cấp dịch vụ, môi
trường cung cấp dịch vụ, khách hàng được cung cấp dịch vụ. Khách hàng của dịch
vụ viễn thông thường mong đợi sử dụng dịch vụ với chất lượng cao và luôn sẵn
sàng bất cứ lúc nào họ cần.
Vì vậy, các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông có thể giảm tính không ổn định
của dịch vụ bằng cách xây dựng thực hiện tốt tự động hoá các khâu trong cả hệ
thống, thực hiện tiêu chuẩn hoá qui trình cung cấp dịch vụ, tăng cường đào tạo nhân
viên và củng cố thương hiệu.
9
+ Dịch vụ viễn thông không thể dự trữ được
Sản phẩm vòng quay nhanh, bán và thu tiền nhanh, phạm vi rộng. Hệ thống
CSHT của dịch vụ được dùng chung và thiết kế để có thể cung cấp một công suất
nhất định tại bất cứ thời điểm nào. Giảm giá cuối tuần và ban đêm cho điện thoại
đường dài và di động là biện pháp điều tiết nhu cầu sử dụng dịch vụ trên hệ thống
theo thời gian nhằm tránh quá tải của hệ thống, tăng hiệu quả kinh tế của dịch vụ,
tăng nhu cầu về dịch vụ. Những khoảng thời gian nào đó dịch vụ không bán được
cũng có nghĩa là bị thất thu vĩnh viễn. Thất thu còn xẩy ra khi hệ thống bị quá tải,
nghĩa là khi người ta thấy máy nào cũng bận thì họ có thể sẽ không thực hiện cuộc
gọi đó nữa.
Tóm lại, dịch vụ viễn thông là sản phẩm vô hình vì các dịch vụ không thể sờ
mó hoặc sử dụng trước khi mua. Dịch vụ viễn thông không chia tách được vì quá
trình sản xuất và tiêu dùng của dịch vụ diễn ra cùng một lúc. Dịch vụ viễn thông có
tính không ổn định vì chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào các yếu tố nằm ngoài sự
kiểm soát của nhà cung cấp. Dịch vụ viễn thông không thể dự trữ, cất vào kho được,
thời lượng dịch vụ không bán được cũng có nghĩa là bị lãng phí. Những đặc điểm
nêu trên có ảnh hưởng lớn tới hoạt động đầu tư vào ngành viễn thông.
2.1.2. Thị trường dịch vụ viễn thông
Thị trường được hiểu là tổng hòa những mối quan hệ giữa người mua và
người bán để trao đổi nhu cầu. Thị trường dịch vụ viễn thông là tổng hòa những
mối quan hệ trao đổi giữa bên cung và bên cầu đối với các sản phẩm dịch

động là 39,8%.
. Thị trường bùng phát do nhu cầu tiêu dùng tăng cao, cùng với chính sách
tạo cạnh tranh trên thị trường viễn thông di động của Chính phủ. Các nhà khai thác
này không chỉ cạnh tranh trong phát triển thuê bao di động, mà còn cạnh tranh trong
phát triển các dịch vụ vô tuyến cố định trên nền mạng di động để cung cấp cho các hộ
11
gia đình có thu nhập thấp. Dịch vụ GPhone của VNPT là dịch vụ vô tuyến cố định của
VNPT sử dụng nền mạng Vinaphone để cạnh tranh với các dịch vụ tương tự như E-
Com của EVN Telecom và dịch vụ vô tuyến cố định Home – Phone của Viettel.
Thị trường dịch vụ viễn thông ngày nay càng phát triển và ngày càng nhiều
đối thủ cạnh tranh cùng xuất hiện trên thị trường. Chính vì thế, môi trường cạnh
tranh và những yếu tố cạnh tranh trên thị truờng dịch vụ viễn thông đang làm nổi
bật những đặc thù của dịch vụ viễn thông.
Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ viễn thông – CNTT càng
làm gia tăng nhu cầu sản phẩm viễn thông trong mọi tầng lớp dân cư trong xã hội.
Quy mô của thị trường dịch vụ viễn thông ngày càng được mở rộng với số
lượng và chất lượng dịch vụ ngày một tăng cao, đáp ứng được yêu cầu đa dạng của
khách hàng, hoà nhập với thị trường viễn thông khu vực và thế giới. Cùng với sự
phát triển của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây
cũng đã có những bước tăng trưởng phát triển ổn định nhanh chóng, đời sống vật
chất và tinh thần của người dân ngày được nâng cao. Việc cho phép mọi thành phần
kinh tế cùng tham gia kinh doanh, cùng với chính sách mở cửa và ngoại giao mềm
dẻo dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà Nước đã làm cho nền kinh tế Việt Nam ngày
một trở nên sôi động, nhu cầu sử dụng các sản phẩm dịch vụ viễn thông sẽ còn tăng
cao, khả năng thanh toán của người dân ngày một lớn. Quy mô của thị trường đã
được mở rộng đến tận các xã vùng sâu vùng xa và đến mọi tầng lớp dân cư. Trước
đây, mạng lưới dịch vụ viễn thông với các dịch vụ truyền thống chủ yếu chỉ tập
trung ở các thành phố lớn, các khu công nghiệp, các trung tâm kinh tế văn hoá-
chính trị. Đến nay mạng lưới viễn thông đã được trải rộng trên khắp cả nước, tới tận
những nơi mà trước kia người dân rất hiếm khi được tiếp xúc với các dịch vụ viễn

chiến lược quy hoạch phát triển, kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm về viễn
thông và CNTT sau khi được phê duyệt; tuyên truyền giáo dục, phổ biến pháp luật
và thông tin về BCVT và CNTT.
13
2.2.1.2. Xây dựng và thực thi hệ thống chính sách phát triển thị trường dịch
vụ viễn thông.
Nhà nước đã đưa ra những chính sách có ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường
dịch vụ viễn thông như: chính sách để phát triển nguồn cung trên thị trường dịch vụ
viễn thông và chính sách kích cầu đối với các dịch vụ viễn thông. Cụ thể:
* Chính sách mở cửa thị trường
Mở cửa thị trường là một chính sách hết sức quan trọng bởi vì Việt Nam đã
chính thức tham gia các tổ chức khu vực cũng như quốc tế là ASEAN, APEC và
WTO. Hầu hết những nước thành viên thuộc các tổ chức này đều đi theo nền kinh tế
thị trường cạnh tranh ở mức độ cao. Các công ty, doanh nghiệp của họ rất có kinh
nghiệm hoạt động trong môi trường cạnh tranh. Trong bối cảnh như vậy Việt Nam
cũng cần cho phép cạnh tranh để các công ty, doanh nghiệp của mình tập dượt
chung sống cùng cạnh tranh và phát triển trong cạnh tranh. Chúng ta cần phải chủ
động phát triển các nguồn lực đặc biệt là nguồn nhân lực, nâng cao năng lực cạnh
tranh để có thể hội nhập thành công với nền kinh tế khu vực cũng như thế giới.
Tuy nhiên việc mở cửa thị trường cần được thực hiện theo một lộ trình khoa
học phù hợp với từng giai đoạn phát triển và điều kiện của VN. Lộ trình mở cửa này
tuân theo nguyên tắc sau: mở cửa cạnh tranh đối với các dịch vụ viễn thông trong
nước trước rồi mới đến các dịch vụ viễn thông quốc tế. Cũng tương tự như vậy thực
hiện cạnh tranh đối với các dịch vụ gia tăng giá trị trước và các dịch vụ cơ bản sau,
đồng thời cũng mở các dịch vụ di động trước rồi mới đến các dịch vụ cố định.
* Cổ phần hóa các DNNN kinh doanh dịch vụ viễn thông
Nhằm phát huy nội lực, chính phủ Việt Nam có chính sách khuyến khích sự
tham gia của các thành phần kinh tế vào việc phát triển công nghiệp viễn thông đất
nước. Để có thể huy động được vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế khác nhau,
chính phủ đã cho phép cổ phần hóa một số công ty và doanh nghiệp nhà nước trong

15
cho DN vay của Ngân hàng phát triển Việt Nam, cần có những gói kích cầu riêng
cho ngành CNTT, cả về phát triển hạ tầng CNTT, viễn thông, phần mềm và đào tạo
nguồn lực CNTT. Ngoài tác động trực tiếp tới tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng
lực cạnh tranh quốc gia, giải quyết việc làm, băng thông rộng còn có tác động lan
tỏa tới các ngành kinh tế quốc dân như y tế, giáo dục, điện năng, giao thông, môi
trường
2.2.1.3. Xây dựng chiến lược, kế hoạch ( định hướng ) phát triển thị trường
dịch vụ viễn thông.
Bộ TT&TT trình Chính phủ chiến lược, quy hoạch phát triển, kế hoạch dài
hạn, năm năm và hàng năm, các công trình quan trọng về viễn thông và CNTT.
QLNN lĩnh vực ứng dụng CNTT. Quản lý thống nhất chương trình phát triển CNTT
và điện tử. Chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ phục vụ yêu cầu thông tin liên
lạc; quản lý an toàn bảo mật trong hoạt động BCVT và CNTT theo quy định của
pháp luật. Quản lý và giám định tiêu chuẩn, chất lượng mạng lưới, công trình, sản
phẩm và dịch vụ viễn thông và CNTT. Quản lý việc kết nối, hoà mạng viễn thông
công cộng, chuyên dùng và các mạng dịch vụ trong lĩnh vực BCVT và CNTT theo
quy định của pháp luật. Quy hoạch, phân bổ, ấn định tần số vô tuyến điện; kiểm
soát việc sử dụng tần số vô tuyến điện và thiết bị phát sóng; tổ chức phối hợp tần số
vô tuyến điện với các nước và đăng ký tần số vô tuyến điện, quỹ đạo vệ tinh với các
tổ chức quốc tế có liên quan. Chỉ đạo và kiểm tra về giá, cước các hoạt động dịch
vụ viễn thông và CNTT theo quy định của pháp luật. Chủ trì thẩm định, trình Thủ
tướng Chính phủ quyết định các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực BCVT và CNTT theo
quy định của pháp luật. Tổ chức và chỉ đạo thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa
học, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong lĩnh vực BCVT và CNTT.
2.2.1.4. Sử dụng nguồn lực quốc gia để hỗ trợ phát triển thị trường dịch vụ
viễn thông.
Thông qua tiến trình cổ phần hóa, Bộ TT&TT khuyến khích các thành phần
kinh tế khác nhau của đất nước tham gia xây dựng hạ tầng cơ sở thông tin quốc gia.
16

Internet);
- Về cạnh tranh: Hầu hết các nước đều giao cho Cơ quan quản lý viễn thông
độc lập quản lý hoạt động cạnh tranh đặc thù trong viễn thông nhằm đảm bảo cho
thị trường viễn thông phát triển lành mạnh.
- Làm trọng tài trong việc đảm bảo kết nối, sử dụng chung CSHT, đảm bảo
cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà khai thác, Đảm bảo quyền lợi khách hàng;
- Quản lý chất lượng mạng lưới, thiết bị và dịch vụ viễn thông;
- Các hoạt động khác.
2.2.2.2. Phân quyền của Nhà nước trung ương cho Nhà nước địa phương
trong quản lý thị trường viễn thông
2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN đối với thị trường dịch vụ viễn
thông ở địa phương.
2.3.1. Đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước.
Chủ trương đường lối, cơ chế chính sách nếu kịp thời, phù hợp sẽ thúc đẩy
nhanh sự phát triển của BCVT-CNTT, ngược lại chủ trương đường lối, cơ chế
chính sách chậm trễ, không hợp lý sẽ bỏ lỡ cơ hội phát triển nhanh BCVT-CNTT,
biểu hiện cụ thể:
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã ban hành được những chủ
trương đường lối, cơ chế chính sách kịp thời, phù hợp nên đã thúc đẩy nhanh sự
phát triển của BCVT. Bộ TT&TT thường xuyên có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo
về chuyên môn; Lãnh đạo các bộ, ban ngành ở Trung ương, lãnh đạo các địa
phương luôn quan tâm phối hợp, hỗ trợ để ngành BCVT phát triển tốt. Các doanh
nghiệp kinh doanh phục vụ BCVT có sự phối hợp cộng tác tốt, các tập thể doanh
nghiệp kinh doanh phục vụ BCVT và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong
toàn ngành đã có nhiều nỗ lực và cố gắng trong công tác quản lý, sản xuất kinh
18
doanh, phục vụ góp phần thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển ngành BCVT, do vậy
tình hình hoạt động của thị trường dịch vụ viễn thông có nhiều chuyển biến tích
cực, phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Trong những năm qua, có nhiều chủ trương tác động lớn đến sự phát triển

đường không nếu phát triển tốt sẽ tạo tiền đề cho viễn thông tiết kiệm trong đầu
tư hạ tầng, phát triển đồng bộ mạng lưới, bảo đảm thông tin nhanh chóng, thuận
lợi, an toàn. Ngược lại, nếu phát triển hạ tầng giao thông không đồng bộ, qui
hoạch và thực hiện qui hoạch đô thị, giao thông không nhất quán sẽ gây lãng phí
trong đầu tư phát triển mạng lưới thị trường dịch vụ viễn thông. Nền kinh tế có
trình độ phát triển cao, trên nền tảng CSHT kỹ thuật hiện đại thì thị trường dịch
vụ viễn thông có điều kiện phát triển tốt. Ngược lại, nền kinh tế có trình độ phát
triển thấp, CSHT kỹ thuật cũng lạc hậu, yếu kém thì điều kiện phát triển thị
trường dịch vụ viễn thông cũng gặp khó khăn.
Trình độ phát triển khoa học công nghệ có tác động ảnh hưởng đến sự
phát triển thị trường dịch vụ viễn thông.Thị trường dịch vụ viễn thông nếu phát
triển trong điều kiện của một nền kinh tế xã hội có trình độ khoa học công nghệ
phát triển cao, thì ngành viễn thông sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi để vận dụng
nền khoa học công nghệ cao đó vào phát triển ngành mình nhằm nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh, phục vụ. Ngược lại thị trường dịch vụ viễn thông nếu
phát triển trong điều kiện của một nền kinh tế xã hội có trình độ khoa học công
nghệ phát triển lạc hậu, thấp kém, thì ngành viễn thông cũng sẽ ít có điều kiện
để phát triển tốt nhất.
Kết cấu dân số, sự phân bố dân cư thành thị và nông thôn, miền xuôi và miền
núi, sự phân bố các đơn vị hành chính cũng là những điều kiện có tác động tạo
thuận lợi hoặc gây khó khăn cho phát triển viễn thông.
2.3.3. Các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên.
Hầu hết các yếu tố tự nhiên như vị trí địa lý, diện tích, địa hình đồi núi, sông
suối, biển, khí hậu, tài nguyên đều có tác động đến sự phát triển của thị trường dịch
20

Trích đoạn Khái quát tình hình phát triển thị trường dịch vụ viễn thông trên địa bàn Thành phố Hà Nội và những vấn đề đặt ra Thực trạng QLNN về thị trường dịch vụ viễn thông trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay Đánh giá chung và nguyên nhân của thực trạng.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status