CSTMQT_Chinh sach tin dung ho tro XK o VN - Pdf 26

LỜI MỞ ĐẦU
Lý luận cũng như thực tiễn phát triển kinh tế thế giới cho thấy hoạt động xuất khẩu là
một trong những lĩnh vực trung tâm quan trọng trong hoạt động kinh tế của nhiều quốc gia.
Hoạt động xuất khẩu đã đóng góp một phần đáng kể vào việc tăng nguồn thu ngân sách,
đặc biệt là thu ngoại tệ, cải thiện cán cân thanh toán và giải quyết công ăn việc làm cho
người dân, làm cho nền kinh tế thay đổi nhanh chóng về trình độ công nghệ và tiếp thu
được nhiều kinh nghiệm quản lý nhằm thúc đẩy nền sản xuất trong nước phát triển, mang
lại lợi ích cho xã hội, nâng cao vị thế của đất nước trong nền kinh tế toàn cầu.
Để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu cần phải nâng cao chất lượng và đa dạng hoá các mặt
hàng, muốn như vậy thì cần phải có sự đầu tư thích đáng cho quá trình suất xuất kinh
doanh cũng như đổi mới công nghệ, máy móc, trang thiết bị. Nhưng trên thực tế, vốn tự có
của các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trên lĩnh vực này chưa đủ để đáp ứng nhu cầu
tự đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng. Xuất phát từ thực tế này, thời gian gần đây
nước ta đã chú trọng và quan tâm hơn đến các hoạt động tín dụng tài trợ xuất khẩu và đưa
ra các chính sách thích hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển của hoạt động xuất khẩu ở Việt
Nam. Hoạt động tín dụng tài trợ xuất khẩu là một hoạt động hết sức phức tạp, chứa đựng
nhiều rủi ro. Nó không chỉ chịu tác động của chính sách tiền tệ trong nước mà còn chịu sự
điều chỉnh của nhiều quy phạm, nguồn luật khác nhau và bị ảnh hưởng mạnh theo sự biến
động của thị trường quốc tế. Do vậy nhóm đề tài đã đề tài: “Chính sách tín dụng hỗ trợ
xuất khẩu ở Việt Nam”. Đề tài được chia làm 3 phần:
I. Một số vấn đề cơ bản về chính sách tín dụng hỗ trợ xuất khẩu
II. Chính sách tín dụng hỗ trợ xuất khẩu của Việt Nam
II. Các giải pháp nhằm đẩy mạnh biện pháp tín dụng hỗ trợ xuất khẩu ở Việt Nam
Nhóm đề tài xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Xuân Nữ đã tận tình hướng dẫn để
nhóm có thể hoàn thành đề tài này. Với thời gian nghiên cứu và kiến thức còn hạn chế, bài
viết không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, vì vậy nhóm đề tài rất mong nhận được sự
góp ý của cô giáo và các bạn để hoàn thiện đề tài hơn nữa.
Hà Nội, tháng 5/2011
Nhóm đề tài
1
PHẦN I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG HỖ

Đẩy mạnh xuất khẩu, tạo ra nhiều việc làm, tăng thu ngoại tệ để cải thiện cán
cân thương mại quốc tế, kìm hãm và hạn chế trình trạng nhập siêu… từ đó thúc
đẩy sự phát triển toàn diện của nền kinh tế.
3. Các hình thức tín dụng hỗ trợ xuất khẩu:
3.1. Bảo hiểm tín dụng:
Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu là hình thức tín dụng hỗ trợ xuất khẩu đã được
áp dụng khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới nhưng hiện nay mới được triển
khai thí điểm ở Việt Nam.
Bảo hiểm tín dụng: là hình thức bảo đảm tài chính cho nhà xuất khẩu trong
các hợp đồng xuất nhập khẩu có điều kiện thanh toán theo hình thức tín dụng mở
trước những rủi ro nợ xấu, mất khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu do mất khả
năng thanh toán, phá sản hoặc vì bất ổn chính trị tại quốc gia nhập khẩu.
Đối với các doanh nghiệp, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu giúp bảo vệ tài chính
cho nhà xuất khẩu trong trường hợp mất khả năng thanh toán; tạo ra sự thuận lợi
trong việc đi vay từ các tổ chức tín dụng để tăng lượng hàng hóa dịch vụ xuất
khẩu, tăng khả năng tiếp cận thị trường quốc tế, giúp doanh nghiệp xuất khẩu tăng
doanh số bán hàng theo những điều khoản tín dụng cạnh tranh...
Đối với các quốc gia, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu đóng vai trò thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế từ sự phát triển hoạt động tín dụng xuất khẩu an toàn, hiệu quả
nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, tạo ra việc làm, tăng thu ngoại hối để cải thiện cán cân
thương mại quốc tế.
3.2. Bảo lãnh tín dụng xuất khẩu:
Bảo lãnh tín dụng xuất khẩu là hình thức tín dụng hỗ trợ xuất khẩu đã được
triển khai tại Việt Nam từ cuối năm 2006 theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP ngày
20/12/2006 do Chính phủ ban hành quy định về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất
khẩu của Nhà nước. Bảo lãnh tín dụng xuất khẩu có 2 trường hợp:
 Nhà nước bảo lãnh trước ngân hàng cho nhà xuất khẩu:
Hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu thuộc các nước đang
phát triển như Việt Nam khi thực hiện các thương vụ đều phải vay vốn các ngân
hàng thương mại. Nhưng muốn ngân hàng cấp tín dụng cần phải thế chấp hoặc cần

và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản này trong suốt thời hạn cho thuê. Các
công ty cho thuê tài chính không được cho thuê bất động sản, cũng không được
cho vay tiền.
4
Ưu điểm của hình thức này là doanh nghiệp được chủ động lựa chọn tài sản
(máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển…) đáp ứng được mục đích sử dụng
của mình với mức chi phí phù hợp nhờ được thanh toán dần tiền thuê tùy theo năng
lực trả nợ.
3.4. Cấp tín dụng xuất khẩu:
 Nhà nước cấp tín dụng cho doanh nghiệp xuất khẩu trong nước:
Trong hoạt động xuất khẩu, lượng vốn mà các doanh nghiệp phải bỏ ra để sản
xuất và thực hiện hợp đồng thường là rất lớn. Người xuất khẩu cần có được một số
vốn trước khi giao hàng và cả sau khi giao hàng, ngoài ra cũng cần thêm vốn để
kéo dài các khoản tín dụng ngắn hạn mà họ dành cho người mua nước ngoài. Vì
vậy, trong chính sách hỗ trợ xuất khẩu không thể thiếu được việc cấp tín dụng của
Chính phủ cho doanh nghiệp xuất khẩu theo những điều kiện ưu đãi. Các ngân
hàng thường hỗ trợ cho các nhà xuất khẩu bằng cách cung cấp tín dụng ngắn hạn
trong giai đoạn trước và sau khi giao hàng. Tín dụng xuất khẩu theo mức lãi suất
ưu đãi không chỉ đơn giản là giúp người xuất khẩu thực hiện được hợp đồng xuất
khẩu của mình mà còn giúp họ giảm chi phí về vốn cho hàng xuất khẩu cũng như
giảm giá thành xuất khẩu. Do đó tín dụng xuất khẩu làm cho nhà xuất khẩu có khả
năng bán được hàng của mình theo điều kiện có lợi và hàng hóa có sức cạnh tranh
lớn hơn trước đối thủ của mình.
 Nhà nước cấp tín dụng cho nước ngoài:
Nhà nước trực tiếp cho nước ngoài vay tiền với lãi suất ưu đãi để sử dụng số
tiền đó mua hàng của nước cho vay. Nguồn vốn cho vay thường lấy từ ngân sách
nhà nước. Việc cho vay này thường kèm theo các điều kiện kinh tế và chính trị có
lợi cho nước cho vay.
Hình thức này có tác dụng giúp cho doanh nghiệp đẩy mạnh được xuất khẩu
vì chính phủ đã tạo sẵn ra thị trường. Tuy nhiên, hình thức này chủ yếu áp dụng ở

Theo Quyết định 2011/QĐ-TTg, đối tượng tham gia bảo hiểm là các thương
nhân xuất khẩu hàng hóa thuộc 2 nhóm mặt hàng. Nhóm 1 gồm 9 nhóm mặt hàng:
Thủy sản, gạo, cà phê, rau quả, cao su, hạt tiêu, nhân điều, chè, sắn và các sản
phẩm từ sắn. Nhóm 2 gồm 14 nhóm mặt hàng: Dệt may, giày dép, điện tử và linh
kiện máy tính, gốm sứ, thủy tinh, mây tre cói và thảm, sản phẩm gỗ, sản phẩm chất
dẻo, dây điện và cáp điện, xe đạp và phụ tùng, túi xách, vali, mũ, ô dù, sản phẩm từ
sắt thép, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải. Với 2 nhóm mặt hàng trên nhìn
chung Chính phủ khuyến khích triển khai bảo hiểm tín dụng xuất khẩu ở phần lớn
các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam trừ các mặt hàng thuộc nhóm tài
nguyên khoáng sản.
Ngân sách nhà nước hỗ trợ triển khai thực hiện, mức độ hỗ trợ do Bộ Tài
chính quyết định. Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công Thương, Ngân hàng
6
Nhà nước Việt Nam, Hiệp hội Bảo hiểm, các Hiệp hội ngành hàng và các doanh
nghiệp bảo hiểm được lựa chọn triển khai có trách nhiệm đẩy mạnh phổ biến, nâng
cao nhận thức về bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và khuyến khích thương nhân xuất
khẩu hàng hóa tham gia. Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp các Bộ, cơ quan liên
quan thường xuyên cung cấp thông tin về các quốc gia, ngành hàng, tổ chức nhập
khẩu, thông tin rủi ro thị trường của các thị trường xuất khẩu chủ yếu. Ủy ban nhân
dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo và khuyến khích các thương
nhân xuất khẩu trên địa bàn tham gia bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.
b. Thực trạng triển khai bảo hiểm tín dụng xuất khẩu:
Do mới triển khai từ đầu năm 2011 và mới trong giai đoạn triển khai thí điểm
nên hình thức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu hiện chưa phổ biến tại Việt Nam. Trong
khi các doanh nghiệp xuất khẩu có nhu cầu khá cao thì các công ty bảo hiểm và
các ngân hàng còn tỏ ra thận trọng.
Theo kết quả điều tra sơ bộ do Bộ Công Thương thực hiện tại 200 trên tổng
số 35.000 thương nhân xuất khẩu cho thấy có rất ít doanh nghiệp áp dụng chương
trình quản lý nợ/quản lý rủi ro thanh toán. Phân loại rủi ro gặp phải trong hoạt
động xuất khẩu có đến 68% là rủi ro thương mại, 17% rủi ro liên quan đến chính trị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status