MỤC LỤC
Lời mở đầu…………………………………………………………………………
Danh mục viết tắt…………………………………………………………………….
!"#"$%
& '#()*"
& +), -"."/#
&& +)0# 1 2,&
&3 +)45",67#.#7&
38"9:#.1!1; )<##7= <", :&
3 <", :1>/; !1 ?#.&
3&@<,@6A11 )#.6-"B!#C
33 :D4671; 2:,@EF45"GA"9)/# #. "$=,@<, :D, +)= 6H#.= !=; 2:,@EI
J
3C <", :#8"B8J
3J!1; )<#= <", :; !1J
C.:KL## '# M# , ?# 1N#.#7,@)#. *#O
C&.:KL## '#9P#,A"#7; Q4R"S9)/# #. "$=T
&:<#(U1N#.#7= <", :1>/9)/# #. "$=V
& !"#"$%V
&&WX14Y1 Z:<#(U1N#.#7= <", :V
&38"9:#.Z:<#(U1N#.#7= <", :[
&3 '#()*"; )<##7\; !1 #7[
&3]'K9^#.1 Y# _!1 B!#1 `:
&3&:<#(U, +),E#.()*"#7J
&33^= R#.@>"@)T
3!11 abL:4!# ."!1N#.#7= <", :V
3R#.Z:/K1!1; )<#= <", :V
3&c, :bd#BM# Z:'#V
33e($#7= <", :; Q4R"&[
C!1# '#,5<# 6S#.,A"G"$1Z:<#(U#7= <", :&[
nghiệp. Nợ phải thu phát sinh nếu không có biện pháp quản lý và kiểm soát chặt
chẽ thì có thể dẫn đến tình trạng vốn bị chiếm dụng kéo dài, quá hạn thanh toán
hoặc những khoản nợ khó đòi gây thiệt hại và tổn thất lớn cho doanh nghiệp. Trong
nhiều trường hợp, tổn thất nợ đọng gia tặng làm suy giảm năng lực cạnh tranh của
các doanh nghiệp thậm trí dẫn tới nguy cơ phá sản. Nói cách khác, công tác quản lý
nợ phải thu đóng vai trò quan trọng trong sự thành bại trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên ở nước ta hiện nay, tình trạng chiếm dụng
vốn lẫn nhau đáng diễn ra rất phổ biến ở hầu hết các doanh nghiệp thuộc mọi
nghành nghề khác nhau. Nợ quá hạn, nợ khó đòi phát sinh nhiều đã gây thiệt hại
không nhỏ cho doanh nghiệp, mặt khác còn làm tổn hại cho toàn bộ nền kinh tế.
Do đó việc nghiên cứu và kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
nợ phải thu của các doanh nghiệp nước ta trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Nhận thức được tình hình trên và sau một thời gian em đã tìm hiểu và nhận
thấy công ty CP xây dựng và phát triển nông thôn 4 là một doanh nghiệp xây dựng
lớn có doanh thu hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm tuy nhiên lại có tỷ lệ nợ phải thu cao
trên tổng tài sản và hiệu quả quản lý công nợ phải thu của công ty còn khá thấp. Do
đó, em xin lưa chọn đề tài “ Nâng cao hiệu quả quản lý nợ phải thu của công ty
cổ phần Xây dựng và Phát triển nông thôn 4” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
1. Mục đích nghiên cứu
-Làm rõ cơ sở lý luận và nội dung quản lý nợ phải thu của một công ty trong
thực tiễn.
- Sau khi phân tích thực trạng khoản nợ phải thu và việc quản lý nợ phải thu
của công ty, luận văn đề rõ một số biện pháp thực tế đối với công ty nhằm nâng
cao hiệu quả quản lý nợ phải thu của công ty.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập chung nghiên cứu tình hình nợ phải thu và
công tác quản lý nợ phải thu của công ty CP Xây dựng và phát triển nông thôn4
-Phạm vi nghiên cứu: Công ty CP Xây dựng và phát triển nông thôn 4 thông
qua các tài liệu là Báo cáo tài chính và sổ chi tiết công nợ năm 2011 và năm 2012.
3. Phương pháp nghiên cứu
1.1Những vấn đề lý luận chung về nợ phải thu của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm
Công nợ là biểu hiện mối quan hệ giữa chủ nợ, khách nợ thông qua một
hoặc nhiều đối tượng nợ. Chủ nợ và khách nợ có thể là những tổ chức kinh tế hay
những cá nhân có mối quan hệ làm ăn mua bán, trao đổi với nhau. Công nợ bao
gồm công nợ phải thu và công nợ phải trả trong đó công nợ phải thu được theo
dõi bên Tài sản của bảng CĐKT trong khi công nợ phải trả được theo dõi bên
Nguồn vốn.
Công nợ phải thu là một loại tài sản của công ty tính dựa trên tất cả các
khoản nợ , các giao dịch chưa thanh toán hoặc bất cứ nghĩa vụ tiền tệ nào mà các
con nợ hay khách hàng chưa thanh toán cho công ty.
Phải thu được kế toán công ty ghi lại và phản ánh trên bảng cân đối kế toán bao
gồm tất cả các khoản nợ của công ty chưa đòi được tính cả các khoản nợ chưa đến
hạn thanh toán bao gồm nhiều khoản: phải thu khách hàng, trả trước cho người
bán, thuế GTGT được khấu trừ, phải thu nội bộ và các khoản phải thu khác. Các
khoản phải thu được ghi nhận như tài sản của công ty vì chúng phản ánh các
khoản tiền sẽ được thanh toán trong tương lai. Thông thường tỷ trọng nợ phải thu
chiếm 15% đến 20% tổng tài sản của doanh nghiệp.
1.1.2 Phân loại
Nợ phải thu có thể được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau, cụ thể
như sau:
1.1.2.1 Theo thời gian
* Nợ ngắn hạn : là khoản nợ được trả trong thời hạn dưới 1 năm (hoặc trong
1 chu kỳ hoạt động kinh doanh).
* Nợ dài hạn: là khoản nợ được trả trong thời hạn hơn 1 năm (hoặc 1 chu kỳ
kinh doanh).
1.1.2.2 Theo tính chất
* Phải thu thương mại: xuất phát từ việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ của
công ty cho khách hàng trong kỳ kinh doanh bình thường. Phải thu thương mại có
trường hợp sau:
+ Nợ phải thu đã quá hạn thanh toán ghi trên hợp đồng kinh tế, các khế ước
vay nợ hoặc các cam kết nợ khác.
+ Nợ phải thu chưa đến thời hạn thanh toán nhưng tổ chức kinh tế (các công
ty, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, tổ chức tín dụng ) đã lâm vào tình trạng phá
sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; người nợ mất tích, bỏ trốn đang bị các cơ quan
pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử, đang thi hành án hoặc đã chết.
Việc xếp nợ phải thu khách hàng vào nợ khó đòi rất quan trọng vì nó liên
quan tới việc xử lý khoản nợ khó đòi đó khi khách hàng không thể trả nợ được,
doanh nghiệp sẽ phải bỏ ra các khoản chi phí cho thu hồi và trích lập dự phòng đề
phòng rủi ro không thu hồi được nợ và có các biện pháp xư lý kịp thời tránh tổn
thất cho doanh nghiệp.
b. Theo thời gian thu hồi, nợ phải thu gồm:
- Nợ trong hạn: là khoản tiền khách hàng chưa thanh toán cho doanh nghiệp
nhưng vẫn trong thời hạn quy định trong hợp đồng mua bán thì được coi là những
khoản thu trong hạn. Thời gian quy định trong hợp đồng được doanh nghiệp và
khách hàng thỏa thuận khi bắt đầu ký hợp đồng mua bán trao đổi hàng hóa. Thời
hạn này được quy định cho từng đối tượng.
- Nợ quá hạn: là những khoản phải thu đã vượt quá thời hạn quy định trả nợ
trong hợp đồng mua bán mà khách nợ vẫn chưa trả nợ cho doanh nghiệp. Đối với
3
những khoản nợ này thì khả năng không thu được nợ rất cao do vậy gần đến hạn
thanh toán doanh nghiệp thường có những biện pháp thúc giục khách nợ thanh
toán tiền hàng, những khoản nợ này cần được theo dõi để có biện pháp xử lý kịp
thời.
c. Theo hình thức bảo lãnh, nợ phải thu bao gồm:
- Nợ có bảo lãnh: thường áp dụng với những khách hàng mới xuất hliện
trên thị trường mà doanh nghiệp chưa nắm được tình hình hoạt động kinh
doanh của nó; với những khách hàng mà đã từng có những dấu hiệu làm ăn thua lỗ
hay có những bằng chứng chứng minh khách hàng này thường hay thiếu nợ với
đầu vào thì doanh nghiệp sẽ được khấu trừ thuế GTGT. Nhưng trong kỳ hoạt động
doanh nghiệp chưa được NSNN hoàn trả thì khoản thuế GTGT được khấu trừ đó
được ghi vào công nợ phải thu NSNN.
1.1.3.4 Phải thu nội bộ
Là khoản nợ phải thu của doanh nghiệp với cấp trên, các đơn vị trực thuộc
hoặc các đơn vị khác trong một doanh nghiệp độc lập, một tổng công ty về các
khoản đã chi hộ, trả hộ, thu hộ các khoản mà đơn vị cấp dưới có nghĩa vụ nộp lên
cấp trên hoặc cấp trên phải cấp cho cấp dưới.
1.1.3.5 Các khoản phải thu khác
Là các khoản phải thu không thuộc ngoài phạm vi các khoản phải thu trên.
Cụ thể như các khoản phải thu về bồi thường vật chất, các khoản tiền chuyển cho
đơn vị nhận ủy thác xuất nhập khẩu để mua hàng hộ hoặc nộp hộ các loại thuế; các
khoản cho vay cho mượn vật tư, tiền vốn có tính chất tạm thời không lấy lãi; các
khoản chi cho hoạt động sự nghiệp, chi đầu tư xây dựng cơ bản, chi phí đầu tư
kinh doanh nhưng không được các cấp có thẩm quyền phê duyệt phải thu hồi hoặc
chờ xử lý.
1.1.4 Nguyên nhân dẫn tới công nợ phải thu của doanh nghiệp
J
Đối với mỗi doanh nghiệp, để quản lý nợ một cách có hiệu quả không
những phải thực hiện những biện pháp kiểm soát chính mình mà còn phải hiểu rõ
những nguyên nhân phát sinh công nợ từ những công nợ thông thường đến những
khoản nợ phải thu khó đòi.
1.1.4.1 Nguyên nhân hình thành công nợ trong hạn
Trong quá trình hoạt động kinh doanh hầu hết các doanh nghiệp đều phát
sinh các khoản phải thu nhưng ở các mức độ nhiều ít khác nhau. Nguyên nhân
chủ yếu hình thành nên các khoản phải thu chính là từ chính sách hoạt động của
doanh nghiệp. Trong đó chính sách bán chịu ảnh hưởng mạnh nhất đến các khoản
phải thu và sự kiểm soát của giám đốc tài chính trong doanh nghiệp. Giám đốc
tài chính có thể thay đổi mức độ bán chịu để kiểm soát khoản phải thu sao
cho phù hợp với sự đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro và kiểm soát các khoản phải
sót trong chính sách cho vay hay bán chịu của doanh nghiệp, điều này ảnh hưởng
tới giá trị các khoản phải thu của doanh nghiệp. nó sẽ làm tăng các khoản phải thu
nếu như khách hàng của doanh nghiệp có khả năng tài chính kém nhưng lại được
ưu đãi trong chính sách tín dụng của doanh nghiệp. Hoặc cũng có những nhân
viên thiếu trách nhiệm trong công việc. Làm việc không đúng với trách nhiệm
cũng như sự tín nhiệm của công ty dẫn tới những thiếu sót trong chính sách tín
dụng cũng ảnh hưởng tới giá trị các khoản phải thu. Đây là nguyên nhân xuất phát
tự đạo đức trong công việc hay còn gọi là đạo đức nghề nghiệp.
Nguyên nhân khách quan:
Thứ nhất, từ phía doanh nghiệp là khách hàng:
Do năng lực yếu kém của bản thân doanh nghiệp vay nợ. Trong nhiều
trường hợp, phía người mua trả chậm có những sai sót chủ quan, thậm chí cố ý
T
không hoàn trả món nợ; các khoản này thuộc nhóm rủi ro đạo đức. Một số
công ty trong ngành xây dựng trúng thầu công trình với giá trúng thầu quá
thấp, thua lỗ và không thể trả nợ đúng hạn thậm chí có nguy cơ phá sản. Nhiều
doanh nghiệp không dự đoán đúng thị trường, mức bán hàng và doanh số,
quyết định mua một khối lượng hàng hoá quá lớn, không thể bán được hàng
hoặc các nguyên nhân khác làm ứ đọng hàng hóa dẫn tới việc không thể thanh
toán các khoản nợ phải trả. Nhiều doanh nghiệp chưa có khả năng kiểm soát
nguồn tiền của doanh nghiệp, mất cân đối về luồng tiền, dẫn đến mất khả năng
thanh toán.
Do đối tác của doanh nghiệp là khách hàng vay nợ lâm vào tình trạng không
thể hoàn trả nợ làm cho khách hàng của doanh nghiệp khó có tiền để trả DN.
Thứ hai: Sự biến động của thị trường và các rủi ro trong kinh doanh. Trong
điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt làm cho doanh nghiệp không có khả năng
thích ứng kịp thời, kinh doanh khó khăn dẫn đến tình trạng mấu khả năng thanh
toán. Trong điều kiện hội nhập và cạnh tranh quốc tế hiện nay, cần đặc biệt chú ý
đến những biến động trong ngoại thương, chẳng hạn như sự biến của tỷ giá,
biến động giá xăng dầu, vật liệu xây dựng, nguyên liệu…
Vậy, Hiệu quả quản lý khoản phải thu là một phạm trù kinh tế phản ánh
chất lượng của việc quản lý nợ phải thu sao cho chi phí về vốn bỏ ra ít nhất mà
kết quả đạt được cao nhất.
1.2.2 Mục đích quản lý công nợ phải thu
Nợ phải thu là một bộ phận quan trọng trong tài sản của doanh nghiệp, nó
lien quan tới cả các đối tượng bên trong và các đối tượng bên ngoài đồng thời nội
dung các khoản phải thu cũng có tính chất đa dạng gắn liền với các giao dịch phát
sinh trong hoạt động của doanh nghiệp. Đặc biệt các khoản phải thu của các đối
tượng bên ngoài có thể xảy ra nguy cơ làm chậm hoặc không thể thu hồi được ảnh
V
hưởng nghiêm trọng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Do tính chất đa dạng về nội dung cũng như đối tượng phải thu cùng với các
rủi ro có thể xảy ra nên cần quản lý và kiểm soát chặt chẽ tình hình nợ phải thu
ngay từ lúc phát sinh các giao dịch và thường xuyên theo dõi để biết được khoản
phải thu nào có dấu hiệu không thu hồi được để có biện pháp xử lý kịp thời. Quản
trị tốt các khoản phải thu, doanh nghiệp có cơ hội xoay nhanh đồng vốn hiện có và
giảm áp lực vốn vay, trong tình hình vốn vay ngân hàng bị hạn chế, vốn từ thị
trường chứng khoán khó huy động.Do vậy ta có thể thấy mục tiêu chủ yếu của
quản lý công nợ phải thu là:
-Hạn chế công nợ phải thu ở mức thấp nhất nhưng vẫn đảm bảo được khối
lượng hàng hóa bán ra ở mức cao nhất.
- Xây dựng chính sách thương mại linh động, hiệu quả. Được sử dụng để
khuyến khích nhiều khách hàng có thể mua hàng đồng thời có thể tăng giá bán.
- Có biện pháp quản lý, đôn đốc và thu hồi các khoản phải thu khi đến hạn.
1.2.3 Nội dung quản lý công nợ phải thu
1.2.3.1 Phân loại khoản nợ, khách nợ
Phải thường xuyên theo dõi chi tiết từng khoản nợ phải thu theo từng đối
tượng, thường xuyên tiến hành, kiểm tra, đối chiếu theo định kỳ hoặc cuối niên độ
kế toán từng khoản phải thu phát sinh, số còn phải thu đặc biệt là các đối tượng có
quan hệ giao dịch mua bán thường xuyên có số phải thu lớn.
- Tình trạng tài chính của các doanh nghiệp
Liên quan tới chính sách bán chịu ta đi xem xét 1số vấn đề sau:
-Tiêu chuẩn bán chịu
Là tiêu chuẩn tối thiểu về mặt uy tín tín dụng của khách hàng để được
doanh nghiệp chấp nhận bán chịu hàng hóa và dịch vụ. Tiêu chuẩn bán chịu là một
bộ phận cấu thành chính sách bán chịu của doanh nghiệp và mỗi doanh nghiệp đều
thiết lập tiêu chuẩn bán chịu của mình chính thức hoặc không chính thức.
Tiêu chuẩn bán chịu nói riêng và chính sách bán chịu nói chung có ảnh
hưởng đáng kể đến doanh thu của doanh nghiệp. Nếu đối thủ cạnh tranh mở rộng
chính sách bán chịu trong khi chúng ta không phản ứng lại điều này thì nỗ lực tiếp
thị sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, bởi vì bán chịu là yếu tố ảnh hưởng rất lớn và
có tác dụng kích thích nhu cầu. Do vậy doanh nghiệp nên hạ thấp tiêu chuẩn bán
chịu đến mức chấp nhận được sao cho lợi nhuận tạo ra do gia tăng doanh thu như
là kết quả của chính sách bán chịu vượt quá mức chi phí phát sinh do bán chịu. Ở
đây có sự đánh đổi giữa lợi nhuận tăng thêm và chi phí liên quan đến khoản phải
thu tăng thêm, do hạ thấp tiêu chuẩn bán chịu. Vấn đề đặt ra là khi nào doanh
nghiệp nên nới lỏng tiêu chuẩn bán chịu và lúc nào doanh nghiệp không nên nới
lỏng tiêu chuẩn bán chịu. Chúng ta xem một số mô hình ra quyết định trong quản
trị các khoản phải thu:
MH 1: Mô hình nới lỏng chính sách bán chịu
&
Tăng khoản
phải thu
Tăng chi phí vào
khoản phải thu
Nới lỏng
chính sách
bán chịu
giảm không?
Giảm lợi nhuận Ra quyết định
Thắt chặt
chính sách
bán chịu
• Mô hình thay đổi thời hạn bán chịu:
-Ảnh hưởng của rủi ro bán chịu
Chính sách bán chịu không chỉ liên quan tới tăng hoặc giảm khoản phải thu
mà còn liên quan tới khả năng thu hồi khoản phải thu. Ta sẽ thấy rõ hơn rủi ro bán
chịu ảnh hưởng như thế nào qua mô hình sau:
C
Tăng kỳ thu
tiền bình quân
Tăng khoản phải
thu
Tăng chi phí
vào khoản phải
thu
Nới lỏng chính
sách bán chịu
Tăng tổn thất do
nợ không thu hồi
được
Tăng chi phí do nới
lỏng chính sách bán
chịu
Tăng doanh
thu
Tăng lợi nhuận
Tăng lợi nhuận đủ
loại nợ dài hạn theo từng đối tượng.
b) Theo con nợ
Để quản lý nợ phải thu theo từng con nợ thì điều đầu tiên là cần thiết phải
xây dựng bộ sưu tập về tín dụng của khách hàng. DN sử dụng những thông tin tín
dụng của khách hàng từ những số liệu lịch sử tại bộ phận kế toán và bộ phận kinh
doanh. Những thông tin cần được thể hiện trong bộ sưu tập là: thời gian giao dịch
với DN, các chỉ tiêu thể hiện năng lực tài chính của khách hàng như: khả năng
thanh toán, tỷ lệ khoản phải trả trong tổng nợ ngắn hạn, doanh thu, lợi nhuận;
thông tin về thời hạn trả nợ đúng hạn, quá hạn, doanh số nợ; thông tin về người
giới thiệu (nếu có). DN có thể đánh giá tín dụng khách hàng theo 5 tiêu chí áp
dụng với khách hàng của các ngân hàng thương mại như: năng lực, vốn, thế chấp
hay bảo lãnh, điều kiện kinh tế tổng thể và môi trường ảnh hưởng đến khả năng
kinh doanh của khách hàng, uy tín của khách hàng.
Khi xây dựng được bộ sưu tập của khách hàng rồi sẽ giúp cho DN có đi đến
quyết định bán chịu hay không, đồng thời nó là công cụ để theo dõi và quản lý nợ
hiệu quả.
J
Có bộ sưu tập tín dụng cung cấp cho DN đầy đủ các thông tin về khách
hàng của DN từ đó giúp cho DN có thể thông báo nhắc nợ và đối chiếu công nợ
nhanh nhất. Muốn vậy thì doanh nghiệp cần chủ động liên hệ với khách hàng sớm
thay vì chờ đến ngày hóa đơn hết hạn thanh toán. Điều này không chỉ giúp doanh
nghiệp quản trị tốt các khoản phải thu mà còn giúp doanh nghiệp giữ được mối
quan hệ tốt đẹp với khách hàng. Đối với những công ty có mạng lưới bán hàng
rộng, khoản phải thu lớn, công tác quản lý công nợ trở nên phức tạp và khó khăn
hơn. Các doanh nghiệp này có thể đầu tư phần mềm quản lý công nợ, giúp việc
theo dõi khoản nợ chính xác, nhanh chóng, hiệu quả và giảm bớt nhân sự trong
công tác quản lý công nợ.
Khi doanh nghiệp có khoản phải thu lớn, sử dụng dịch vụ thu hộ sẽ giúp
doanh nghiệp thu nợ nhanh, hiệu quả. Dịch vụ thu hộ có tác dụng như một nhân
viên quản lý khoản phải thu của DN, giúp thep dõi, thu tiền, tất toán các khoản,
không đòi được do khách nợ không có khả năng thanh toán.
Đến cuối niên độ kế toán, kế toán viên phải trích lập dự phòng rủi ro cho
các khoản phải thu khó đòi hoặc không có khă năng đòi được bằng việc ghi giảm
chi phí quản lý doanh nghiệp. Kế toán sử dụng TK139” dự phòng phải thu khó
đòi” để hạch toán.
Về nguyên tắc căn cứ lập dự phòng là phải có những bằng chứng đáng tin
cậy về các khoản nợ phải thu khó đòi ( khách hàng bị phá sản hoặc bị tổn thất thiệt
hại lớn về tài sản…nên không hoặc khó có khả năng thanh toán, đơn vị làm thủ
tục thu nợ nhiều lần vẫn không thu được nợ. Theo quy định hiện hành thì các
khoản phải thu được coi là khoản phải thu khó đòi phải có bằng chứng chủ yếu
dưới đây:
- Số tiền phải thu được theo dõi cho từng đối tượng, từng nội dung, từng khoản nợ
trong đó ghi rõ số nợ phải thu khó đòi.
- Phải có chứng từ gốc hoặc xác nhận của khách nợ về số tiền còn nợ chưa trả bao
gồm: Hợp đồng kinh tế, khế ước vay nợ, bản thanh lý hợp đồng, cam kết nợ, đối
T
chiếu công nợ.
Phương pháp trích lập dự phòng: doanh nghiệp phải dự kiến mức tổn thất có
thể xảy ra hoặc tuổi nợ quá hạn của các khoản nợ và tiến hành lập dự phòng cho
các khoản nợ phải thu khó đòi kèm theo các chứng cứ chứng minh các khoản nợ
khó đòi trên. Trong đó:
- Đối với nợ phải thu quá hạn thanh toán, mức trích lập như sau:
+30% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ trên 6 tháng đến dưới 1 năm.
+ 50% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 1 năm đến dưới 2 năm.
+70% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 2 năm đến dưới 3 năm.
+ 100% giá trị đối với khoản nợ phải thu quá hạn từ 3 năm trở lên.
- Đối với nợ phải thu chưa đến hạn thanh toán nhưng tổ chức kinh tế đã lâm
vào tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục phá sản, người nợ mất tích, bỏ trốn,
đang bị các cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử hoặc đang thi hành án hoặc
đã chết thì doanh nghiệp dự kiến mức tổn thất không thu hồi được để trích lập dự
phải thu được thanh toán. Để có thể đánh giá hiệu quả thu tiền qua kỳ thu tiền bình
quân, DN có thể so sánh với kỳ thu tiền bình quân các năm trong quá khứ. Nếu kỳ
thu tiền ngày càng tăng có nghĩa là các khoản phải thu không được chuyển đổi
thành tiền mặt càng nhiều; ngược lại kỳ thu tiề bình quân có xu hướng giảm, cho
thấy hiệu quả công tác quản trị khoản phải thu của DN có hiệu quả. Ngoài ra DN
cũng cần so sánh kỳ thu tiền bình quân với thời hạn của chính sách TDTM . Nếu
kỳ thu tiền bình quân ví dụ là 50 ngày nhưng chính sách tín dụng của DM chỉ cho
V