Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn và hoàn thiện kế toán huy động vốn tại chi nhánh Ngân hàng Công thương Sông Nhuệ. - Pdf 26

LỜI NÓI ĐẦU
Với bất kỳ một doanh nghiệp nào, vốn là một trong những yếu tố đầu
vào cơ bản của quá trình hoạt động kinh doanh. Đối với Ngân hàng thương
mại (NHTM) – tổ chức kinh doanh ngoại tệ – mà hoạt động chủ yếu và
thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng, cho vay từ số tiền huy động
được và làm các dịch vụ ngân hàng thì vai trò của nguồn vốn càng trở nên
quan trọng. Quy mô, cơ cấu, và các đạc tính của nguồn vốn quyết định hầu
hết các hoạt động của một NHTM, bao gồm quy mô, cơ cấu, thời hạn tài
sản và khẳ năng cung ứng dịch vụ, từ đó quyết định khả năng sinh lời.
Trong khi chưa khai thác được số lượng tiền nhàn rỗi trong các ngân
hàng, tổ chức kinh tế và dân cư, nhiều ngân hàng vẫn phụ thuộc vào nguồn
vốn vay, kể cả vốn vay của các ngân hàng nước ngoài, để đáp ứng cho nhu
cầu tăng trưởng tài sản, vì vậy chi phí nguồn vốn cao, sự ổn định và hiệu
quả kinh doanh thấp và chưa phát huy nội lực để phát triển một cách vững
chắc. Các NHTM Việt Nam đều trong tình trạng thiếu vốn trung và dài hạn
cho nhu cầu đầu tư. Việc thu hút nguồn vốn với chi phí cao, sự ổn định thấp
và không phù hợp với sử dụng vốn về quy mô, kết cấu làm hạn chế khẳ
năng sinh lời, đồng thời đặt ngân hàng trước rủi ro lãi suất, rủi ro thanh
khoản, và hơn thế có thể mất ổn định trong toàn bộ hệ thống tài chính như
nhiều quốc gia từng lâm vào. Do vậy, yêu cầu tăng cường huy động vốn có
mức chi phí hợp lý và ổn định cao được đặt ra hết sức cấp thiết đối với
NHTM Việt Nam nói chung, Ngân hàng công thương Sông Nhuệ nói
riêng.
Chi nhánh Ngân hàng Công thương Sông Nhuệ trải qua nhiều năm đã
đạt tăng trưởng đáng kể trong mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng hoạt
động kinh doanh nhưng thực tiễn đang đạt ra những thách thức mới ở phía
trước. Do ảnh hưởng của tình hình kinh tế xã hội địa phương, những kho
1
khăn từ môi trường kinh tế vĩ mô, từ nội tại của mình và cạnh tranh ngày
cang gia tăng bởi thêm hoạt động của các tổ chức tài chính phi ngân hàng
về huy động vốn như Bảo hiểm, Quỹ hỗ trợ phát triển, bưu điện huy động

Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính ra đời dựa trên cơ
sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hóa và dựa trên sự khác biệt
về tiền tệ giữa các vùng, các khu vực. Ngân hàng dược coi là một sản phẩm
độc đáo của nền sản xuất hàng hóa trong kinh tế thị trường, một động lực
cho sự phát triển của nền sản xuất xã hội. Với vai trò như trên, Ngân hàng
không thể đứng ngoài hoạt động của bất cứ quốc gia nào. Vì vậy mỗi nước
đều xây dựng những khung pháp lý quy định giới hạn hoạt động của mỗi
Ngân hàng. Mỗi nước khác nhau sẽ có quan niệm và mô hình tổ chức Ngân
hàng khác nhau. Thông thường người ta dựa vào tính chất, mục đích đối
tượng hoạt động của nó trên thị trường tài chính.
Ở Việt Nam NHTM được hiểu là: “NHTM là tổ chức kinh doanh tiền
tệ mà hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách
nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, đầu tư, thực hiện nghiệp
vụ chiết khấu... và làm phương tiện thanh toán”.
Trong nền kinh tế NHTM giữ một vai trò rất quan trọng:
Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, vốn
được tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh nghiệp
và Nhà nước trong nền kinh tế. Vậy muốn có nhiều vốn phải tăng thu nhập
quốc dân, giảm nhịp độ tiêu dùng. Để tăng thu nhập quốc dân, tức là mở
rộng quy mô chiều rộng lẫn chiều sâu của sản xuất và lưu thông hàng hoá,
đẩy mạnh sự phát triển của các ngành trong nền kinh tế cần thiết phải có
vốn. Ngân hàng thương mại là chủ thế đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất
kinh doanh. Ngân hàng thương mại đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn
rỗi tạm thời được giải pháp ra từ quá trình sản xuất và lưu thông, vốn từ
3
nguồn tiết kiệm của các cá nhân trong xã hội. Bằng nguồn vốn huy động
được, các Ngân hàng thương mại cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế
đáp ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình tái sản xuất. Như vậy
nhờ có hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại, các doanh nghiệp
mới có điều kiện mở rộng phạm vi sản xuất, công nghệ, tăng năng suất lao

tế thế giới và là một bộ phận cấu thành nên sự phát triển đó. Vì vậy, nền tài
chính mỗi nước phải hoà nhập với nền tài chính quốc tế. Ngân hàng thương
mại cùng các hoạt động kinh doanh của mình đóng vai trò vô cùng quan
trọng trong sự hoà nhập này. Với các nghiệp vụ kinh doanh như nhận tiền
gửi cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ hối đoái và các nghiệp vụ
ngân hàng khác. Ngân hàng thương mại đã tạo điều kiện thúc đẩy ngoại
thương không ngừng mở rộng thông qua các hoạt động thanh toán kinh
doanh ngoại hối, quan hệ tín dụng với các Ngân hàng nước ngoài. Hệ thống
Ngân hàng thương mại đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong
nước phù hợp với sự vận động của hệ thống tài chính thế giới.
1.1.2. Khái niệm về nguồn vốn của Ngân hàng thương mại.
Vốn của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do Ngân hàng
thương mại tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư, hoặc để
thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Về thực chất, thì nguồn vốn của Ngân hàng là một bộ phận thu nhập
quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất phân phối và tiêu dùng,
mà người chủ sở hữu để thực hiện các mục đích khác nhau gửi vào ngân
hàng. Như vậy, Ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung và phân phối lại
vốn dưới hình thức tiền tệ, tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục vụ
kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triền.
1.1.3. Tính chất và vai trò của công tác huy động vốn
1.1.3.1. Tính chất của nguồn vốn huy động.
Vốn huy động là khoản tiền tệ được hình thành trong quá trình hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ
nhận tiền ký thác và vay của các tổ chức tín dụng khác. Các khoản tiền này
không thuộc quyền sở hữu của Ngân hàng, nhưng Ngân hàng được quyền
5
sử dụng và phải hoàn trả cho chủ sở hữu trong một thời gian nhất định.
Như vậy trong quá trình hoạt động kinh doanh Ngân hàng luôn phải dự trữ
để đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả cho khách hàng.

quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
- Thứ ba, hình thành và tạo lập sức mạnh hồi sinh cho nền kinh tế,
hạn chế các tiêu cực phát sinh về kinh tế -xã hội do đầu tư nước ngoài
mang lại. Nhờ vậy tính độc lập tự chủ của đất nước được bảo đảm, tránh lệ
thuộc nước ngoài do quan hệ vay mượn.
Xét về bản chất, huy động vốn của các Ngân hàng thương mại là trực
tiếp làm cho qui mô tích luỹ trong nước ngày càng tăng, chuyển tối đa
nguồn vốn đang nhàn rỗi thành nguồn vốn hữu ích có khả năng sinh lời.
Còn huy động vốn nước ngoài có vai trò quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế, đặc biệt trong điều kiện kinh tế của nước ta còn nghèo, thiếu
vốn mà nhu cầu đầu tư phát triển lại cao.
Đặc biệt các NHTM còn có khả năng tính toán các điều kiện và lợi
ích cho vay trả, khả năng quản lý có hiệu quả vốn vay và vai trò quản lý
ngoại tệ để thực hiện chính sách ngoại hối của một quốc gia.
* Huy động vốn góp phần thực hiện chính sách tài chính và chính sách tiền
tệ quốc gia.
Hoạt động huy động vốn qua Ngân hàng góp phần kiềm chế và kiểm
soát mức lạm phát thông qua việc điều chỉnh lượng tiền tham gia vào quá
trình lưu thông, ổn định giá trị đồng tiền. Chẳng hạn: Ngân hàng luôn là
nơi cung cấp một lượng vốn tín dụng lớn, tạm ứng các khoản chi tiêu và
đầu tư của chính phủ cho các dự án về sản xuất kinh doanh và những dự án
thực hiện chính sách xã hội, bù đắp những sự thiếu hụt tạm thời của ngân
sách thông qua hình thức vay nợ giữa ngân sách với Ngân hàng.
* Huy động vốn quyết định sự tồn tại của các Ngân hàng thương mại.
7
Ở nước ta hiện nay, thị phần hoạt động của tín dụng chiếm khoảng
80%. Con số này khá cao chứng tỏ hoạt động tín dụng là chủ yếu, quyết
định sự tồn tại và phát triển của mỗi Ngân hàng thương mại. Mà muốn có
hoạt động tín dụng phải có vốn, muốn có vốn phải huy động vốn và chủ
yếu từ nền kinh tế. Như vậy huy động vốn phải là bước khởi đầu quan

- Huy động vốn từ các tổ chức kinh tế và các doanh nghiệp: Các
doanh nghịêp do nhu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh nên các đơn vị
này thường gửi một khối lượng tiền lớn vào Ngân hàng để hưởng tiện ích
thanh toán. Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính, quan hệ với
các đối tượng này thông qua việc mở tài khoản, nhận tiền gửi của các tổ
chức kinh tế và đáp ứng yêu cầu thanh toán của họ. Do có sự đan xen giữa
các khoản phải thu và các khoản thanh tóan nên luôn tồn tại một số dư
nhất định trên tài khoản của Ngân hàng. Nguồn này được Ngân hàng huy
động, có chi phí thấp và sử dụng cho vay không chỉ ngắn hạn mà còn cả
trung dài hạn. Tuy nhiên nguồn này có hạn chế là tính ổn định và độ lớn
phụ thuộc vào quy mô, loại hình của doanh nghiệp .
- Huy động từ các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác: Vốn này
nhằm để giải quyết tình trạng thiếu vốn của Ngân hàng. Vốn vay này bao
gồm : vay Ngân hàng Trung Ương và các tổ chức tín dụng .
Theo quy định, ở Việt Nam vốn vay giữa hai Ngân hàng được thoả
thuận bằng hợp đồng tín dụng, vốn cho vay phải được đảm bảo bằng hình
thức thế chấp hoặc cầm cố bằng tài sản đi vay; tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại
Ngân hàng Trung Ương, các chứng từ có giá khác. Trong trường hợp, các
Ngân hàng thương mại đã vay mượn lẫn nhau nhưng vẫn thiếu vốn, mất
khả năng thanh toán thì Ngân hàng thương mại có thể vay Ngân hàng
Trung Ương thông qua việc chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá.
Ngân hàng Trung Ương bằng việc cho vay để bổ sung nguồn vốn tín dụng
ngắn hạn theo kế hoạch đã phân phối cho các Ngân hàng thương mại quốc
9
doanh; tái chíêt khấu các thương phiếu, trái phiếu kho bạc mà các tổ chức
tín dụng đã cho khách hàng vay chưa đáo hạn.
1.1.4.3. Căn cứ vào công cụ huy động vốn.
- Huy động tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi có thể phát séc).
Đây là loại tiền gửi mà chủ nhân có thể rút tiền hoặc trả cho bên thứ
ba bằng cách phát hành séc. Đặc điểm quan trọng đối với người gửi là:

về nguồn vốn cho loại tiền gửi này đối với Ngân hàng cao hơn tiền gửi
không kỳ hạn.
- Tiền gửi tiết kiệm: Đối với Ngân hàng thương mại, tiền gửi tiết
kiệm là công cụ huy động vốn có từ lâu. Vốn huy động từ các khoản tiền
tiết kiệm thường chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tìên gửi của Ngân hàng.
Loại tiền gửi này thường chia thành :
+ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Đối với loại này, chủ sở hữu có thể
rút ra bất kỳ lúc nào mà không phải báo trước, số dư tài khoản này thường
không lớn, ưu điểm hơn tiền gửi giao dịch là số dư này ít biến động, Ngân
hàng thường phải trả lãi suất cao hơn so với tiền gửi thanh toán.
+ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Nguyên tắc của loại tiền này là một
khi khách hàng gửi tiền vào loại tài khoản này, họ sẽ không được rút ra (cả
gốc lẫn lãi ) trừ khi đã đến hạn rút tiền. Tuy nhiên yếu tố cạnh tranh thu hút
tiền gửi, một số Ngân hàng thương mại vẫn cho phép Ngân hàng rút tiền
trước thời hạn nhưng một phần tiền lãi đã được khấu trừ .
- Huy động vốn qua phát hành các công cụ nợ:
Đây là nguồn vốn Ngân hàng huy động một cách chủ động trên thị
trường tài chính gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Trong nhiều
trường hợp thiếu vốn, Ngân hàng sử dụng phương pháp này để huy động
vốn trên thị trường tài chính: phát hành các giấy tờ có giá trị như các giấy
tờ vay nợ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Việc chuyển nhượng các giấy tờ
11
có giá trên từ chủ sở hữu này sang chủ sở hữu khác phụ thuộc vào thoả
thuận giữa Ngân hàng và khách hàng. Ngân hàng có thể phát hành kỳ phiếu
và trái phiếu.
- Trái phiếu là một giấy tờ có giá, xác nhận khoản nợ khách hàng của
nhà Ngân hàng với cam kết sẽ thanh toán một số tiền xác định vào một
ngày xác định trong tương lai.Việc phát hành trái phiếu của Ngân hàng
được tiến hành trong toàn hệ thống, mục đích chủ yếu để huy động vốn
trung và dài hạn phục vụ cho những kế hoạch kinh doanh có quy mô lớn và

tiếp đến tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, thu nhập của các chủ thể, tốc
độ chu chuyển vốn, tình trạng thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát. Chính vì vậy mà
hoạt động của Ngân hàng cũng chịu sự điều chỉnh của pháp luật, đôi khi
còn chặt chẽ hơn cả đối với doanh nghịêp. Trên thực tế Ngân hàng chịu sự
tác động của rất nhiều chính sách, các quy định của chính phủ, Ngân hàng
Trung Ương ; đó là Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh tế, Luật dân sự …
Do sự ràng buộc về pháp luật, nghiệp vụ huy động vốn chắc chắn sẽ thay
đổi và quy mô, hiệu quả của công tác huy động vốn cũng bị tác động. Cụ
thể chính sách tiền tệ, chính sách lãi suất, tín dụng ... thay đổi sẽ ảnh hưởng
đến khả năng thu hút vốn cũng như chất lượng nguồn vốn .
* Điều kiện kinh tế - xã hội.
Không một quốc gia nào có thể phát triển nếu môi trường chính trị
không ổn định. Sự ổn định về chính trị hay chính sách ngoại giao cũng tác
động mạnh mẽ đến quan hệ vốn của Ngân hàng với các quốc gia khác trong
khu vực và trên thế giới. Nếu một nước có nền an ninh ổn định thì kinh tế
sẽ phát triển dẫn đến thu nhập của người dân cao, họ sẽ đem gửi nhiều tiền
vào Ngân hàng không những đối với người trong nước mà còn cả người
nước ngoài.
Đây là yếu tố khách quan đối với Ngân hàng, yếu tố này ảnh hưởng
chung việc mở rộng và khơi thông nguồn vốn của cả nền kinh tế. Trong đó
nguồn huy động của Ngân hàng thương mại, cụ thể trong nền kinh tế nếu
kinh tế tăng trưởng cao thì mới có tích luỹ trong các doanh nghiệp các tổ
chức kinh tế và dân cư, do đó nguồn tiền gửi, nguồn tiết kiệm tăng nhanh
13
trong thời kỳ này. Ngược lại, nếu nền kinh tế bị suy thoái thì lượng tiền
gửi, tiền tiết kiệm sẽ giảm xuống,
Mặt khác khi nền kinh tế phát triển và ổn định kiến thức của người
dân nâng lên, việc nắm giữ tiền trong dân cư giảm xuống, mọi hoạt động
giao dịch của khách hàng đều thông qua Ngân hàng. Đây cũng là yếu tố
làm cho nguồn huy động được tăng lên.

ngừng mạng lưới cung cấp các dịch vụ và nới rộng các chức năng khác của
mình để đáp ứng các nhu cầu dịch vụ phụ trợ của khách hàng chẳng hạn
dịch vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu của khách hàng, ký phát thư bảo
lãnh, chuyển đổi tiền tệ từ loại này sang loại khác, bố trí thời gian tiếp khác
phù hợp.... Hoạt động Ngân hàng là kinh doanh kiếm lời và cạnh tranh
ngày càng tăng giữa các Ngân hàng với nhau. Bởi cạnh tranh tăng lên, nên
hoạt động Ngân hàng vấp phải khó khăn ngày càng nhiều trong việc tìm
kiếm lợi nhuận. Nguyên nhân đó khiến các Ngân hàng không ngừng tìm tòi
những hình thức dịch vụ mới nhằm mở rộng kinh doanh. Một Ngân hàng
có dịch vụ tốt, đa dạng hiển nhiên có nhiều lợi thế hơn các Ngân hàng có
các dịch vụ hạn chế. Khác với cạnh tranh về lãi suất, cạnh tranh về dịch vụ
Ngân hàng là cạnh tranh không có giới hạn. Trong nền kinh tế hiện đại, các
Ngân hàng cạnh tranh với nhau chủ yếu bằng con đường này.
Hình thức huy động vốn cũng là một yếu tố ảnh hưởng : Do mục tiêu
của người gửi tiền của những người gửi tiền là khác nhau, nên việc thoả
mãn nhu cầu đa dạng của họ đòi hỏi Ngân hàng phải có hình thức huy động
vốn thích hợp tuỳ vào từng thời điểm, địa điểm, từng nhóm khách hàng …
Một Ngân hàng sẽ có lợi thế hơn so với Ngân hàng khác khi nó có các hình
thức huy động vốn phong phú, linh hoạt...
* Chính sách khách hàng.
Trong công tác khách hàng, Ngân hàng thường chia khách hàng ra
làm nhiều loại để có cách thức đối xử phù hợp. Với những khách hàng lâu
năm giao dịch thường xuyên, có số dư tiền gửi lớn, được Ngân hàng tín
nhiệm, thì Ngân hàng sẽ có một chính sách ưu đãi về lãi suất, kỳ hạn của
món vay, cũng như thực hiện việc xét thưởng đối tác, có như vậy Ngân
15
hàng mới có khả năng thu hút khách hàng và tăng nhanh khả năng hoạt
động vốn của mình. Để xây dựng được chiến lược khách hàng đúng đắn thì
Ngân hàng cần tìm hiểu động cơ thói quen mong muốn của người gửi tiền,
thậm chí từng đối tượng khách hàng thông qua phân tích lợi ích của khách

ra những sản phẩm thích hợp cho họ, thuyết phục họ “mua” chúng thay vào
việc “mua” những sản phẩm có chức năng tương tự do ngời khác cung cấp.
Một trong những biện pháp thuyết phục mà các Ngân hàng hiện đang làm
đó là quảng cáo. Trong hoạt động Ngân hàng hiện đại, quảng cáo được chú
ý và có một chi phí nhất định dành cho công tác này.
* Uy tín của Ngân hàng.
Trong quá trình hoạt động mỗi Ngân hàng sẽ tạo cho mình một hình
ảnh riêng trong lòng khách hàng. Một Ngân hàng lớn có uy tín trong nhiều
năm sẽ có lợi thế trong huy động vốn so với Ngân hàng khác. Sự tin tưởng
của khách hàng sẽ giúp Ngân hàng có được sự ổn định khối lượng huy
động vốn và tiết kiệm chi phí huy động. Thậm chí trong điều kiện lãi suất
huy động vốn thấp hơn chút những người gửi tiền vẫn lựa chọn Ngân hàng
có uy tín để gửi mà tìm những nơi trả hấp dẫn hơn vì họ tin rằng đồng vốn
của mình tuyệt đối an toàn.
1.1.5. Chỉ tiêu đánh giá chất lượng nghiệp vụ huy động vốn
1.1.5.1 Sự gia tăng ổn định của vốn huy động:
* Khối lượng và cơ cấu vốn hiện tại.
Không thể nói đến hiệu quả huy động vốn cao nếu việc huy động
vốn không đáp ứng nổi nhu cầu về khối lượng vốn cho kinh doanh. Khối
lượng vốn phải đạt một qui mô nhất định theo kế hoạch huy động của
Ngân hàng. Đồng thời cơ cấu vốn cần hợp lý thể hiện ở tỷ lệ giữa vốn
huy động ngắn hạn với dài hạn, giữa vốn nội tệ với vốn ngoại tệ, tỷ lệ
vốn huy động/ vốn tự có = 20 lần, tỷ lệ vốn ngắn hạn dùng để cho vay
trung và dài hạn là 25%.
* Sự tăng trưởng của vốn huy động về số lượng và thời gian:
17
Vốn huy động phải có sự tăng trưởng về số lượng để có thể thoả
mãn các nhu cầu về khối lượng vốn cho tín dụng, thanh toán cũng như
các hoạt động kinh doanh khác ngày càng tăng của Ngân hàng. Đồng
thời vốn huy động phải có sự ổn định về mặt thời gian. Nếu Ngân hàng

lãi suất các nguồn theo khối lượng từng nguồn; chênh lệch đầu vào đầu
ra. Các nguồn huy động của Ngân hàng có mức lãi suất, kỳ hạn, qui mô
khác nhau mà trong thực tế khi cho vay không phân biệt rạch ròi là từ
nguồn nào do đó Ngân hàng phải tính mức lãi suất bình quân để đảm bảo
được chênh lệch giữa hai lãi suất đầu ra và đầu vào dương.
Mặt khác cùng với một mức chi phí trả lãi bình quân, sự đa dạng
hoá trong lãi suất cho phù hợp với mỗi hình thức huy động vốn là cần
thiết. Sự đa dạng hoá lãi suất làm tăng tính hiệu quả của chính sách lãi
suất mà Ngân hàng đặt ra. Nếu chính sách lãi suất mà đúng đắn, Ngân
hàng sẽ tối hiệu hoá được chi phí trong khi vẫn hoàn thành kế hoạch về
nguồn vốn.
* Chi phí khác:
Bên cạnh chi phí chính là lãi suất, trong quá trình huy động vốn
Ngân hàng còn phải chịu một số chi phí khác như chi phí tiền lương cho
nhân viên tham gia công tác huy động vốn, chi phí in ấn phát hành, chi
phí cơ sở vật chất, chi phí giao dịch, quảng cáo…
Nếu Ngân hàng giảm chi phí huy động bằng cách hạ lãi suất thì
việc huy động vốn sẽ rất khó khăn vì nó không khuyến khích người dân
gửi tiền vào và không cạnh tranh được với các Ngân hàng khác có lãi
suất cao hơn. Do đó việc giảm chi phí huy động bằng cách giảm lãi suất
là rất khó mà Ngân hàng phải tìm cách giảm thiểu được các chi phí khác
nêu trên.
1.1.5.3. Độ đa dạng các hình thức huy động:
* Số lượng các công cụ huy động:
Tuỳ theo đặc điểm kinh doanh mà mỗi Ngân hàng áp dụng một hệ
thống các công cụ khác nhau trong quá trình huy động vốn. Số lượng các
19
công cụ này tuỳ thuộc và cũng là một yếu tố phản ánh năng lực của một
Ngân hàng. Chỉ những Ngân hàng có hoạt động kinh doanh đa dạng,
phong phú, có trình độ nhân viên cao, có năng lực quản lý tốt mới có

1.2.1.1 Nhiệm vụ :
Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung
công việc kế toán, theo chuẩn mực và chế độ kế toán
Kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi tài chính, các nghĩa vụ thu,
nộp thanh toán nợ, kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản và nguồn hình
thành tài sản, phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài
chính, kế toán.
Phân tích thông tin, số liệu kế toán, tham mưu đề xuất các giải pháo
phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế
toán.
Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật.
1.2.1.2. Yêu cầu
Phản ánh đầy đủ nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh vào chứng từ
kế toán, sổ kế toán và báo cáo tài chính.
Phản ánh kịp thời, đúng thời gian quy định thông tin, số liệu kế toán.
Phản ánh rõ ràng, dễ hiểu và chính xác thông tin, số liệu kế toán
Phản ánh trung thực hiện trạng, bản chất sự việc nội dụng và gía trị
của nghiệp vụ kinh tế, tài chính.
Thông tin, số liệu kế toán phải được phản ánh liên tục từ khi phát
sinh đến khi kết húc hoạt động kinh tế, tài chính, từ khi thành lập đến khi
chấm dứt hoạt động của đơn vị kế toán, số liệu kế toán phản ánh kỳ này
phải kế tiếp theo số liệu kế toán của kỳ trước.
Phân loại, sắp xếp thông tin, số liệu kế toán theo trình tự, có hệ
thống và có thể so sánh được.
21
1.2.2. Tài khoản sử dụng trong kế toán huy động vốn.
- Tài khoản 421: Tiền gửi của khách hàng trong nước bằng VNĐ.
- Tài khoản 422: Tiền gửi của khách hàng trong nước bằng ngoại tệ.
- Tài khoản 423: Tiền gửi tiết tiệm bằng VNĐ.
- Tài khoản 424: Tiền gửi tiết tiệm bằng ngoại tệ và vàng.

Sau khi tài khoản Tiền guẻi được thiết lập, chủ tàI khoản sử dụng tàI
khoản của minh để nộp tiền, lĩnh tiền theo mục đích đã dịnh.
1.2.4.1.1. Kế toán nhận tiền gửi:
Có hai cách nộp tiền vào tài khoản là nộp bằng tiền mặt và nộp bằng
chuyển khoản (thanh toán không dùng tiền mặt)
- Kế toán nhận tiền gửi bằng tiền mặt : Người gửi tiền lập giấy nộp tiền
kèm tiền mặt nộp vào ngân hàng. Căn cứ vào chứng từ thu tiền mặt sau khi đã
thu đủ tiền, kế toán vào sổ kế toán chi tiết hoăc nhập dữ kiệu vào máy tính:
Hạch toán: Nợ : TK Tiền mặt (1011)
Có : TK Tiền gửi của người gửi tiền
- Kế toán nhận tiền gửi bằng chuyển khoản: Ngân hàng nhận tiền gửi
bằng chuyển khoản trên cơ sở các chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt
như: Bảng kê nộp Séc chuyển khoản, Séc bảo chi, Bảng kê thanh toán thư
tín dụng, Uỷ nhiệm chi (UNC), Uỷ nhiệm thu (UNT). Căn cứ vào các
chứng từ này, kế toán kiểm soát và vào sổ kế toán chi tiết hoặc nhập dữ liệu
vào máy tính.
Hạch toán: Nợ : - TK Tiền gửi của ngườ chi trả
(nếu thanh toán cùng ngân hàng)
- Hoặc TK thanh toán vốn giữa các ngân hàng
23
( nếu thanh toán khác ngân hàng)
Có : TK Tiền gửi của người thụ hưởng
1.2.4.1.2 Kế toán chi trả tiền gửi thanh toán:
- Chi trả bàng tiền mặt: Chủ tài khoản phát hành Séc tiền mặt gửi tại
ngân hàng để lĩnh tiền mặt từ tài khoản thanh toán. Khi nhận Séc, kế toán
phảI kiểm soát tính hợp lệ, hợp pháp của chứng từ, kiểm soát số dư tài
khoản, hạn mức thấu chi ( nếu áp dụng thấu chi tài khoản), vào sổ chi tiết
hoặc nhập dữ liệu vào máy tính, làm thủ tục chi tiền cho người có tên ghi
trên tờ Séc.
Hạc toán: Có : TK Tiền mặt (1011)

30 ngày
Trong đó:
Tổng tích số lãi trong tháng =
Σ
Số dư có Tài x Số ngày dư có

Khoản thanh toán thực tế trong tháng
Việc tính lãi được tiến hành trên bảng kê số dư để tính tích số, bảng
này kiêm chứng từ hạch toán thu lãi.
Bảng kê số dư tính lãi do các thanh toán viên giữ tài khoản Tiền gửi
của khách hàng lập. Trường hợp đã áp dụng chương trình tính lãi thì bảng
kê này do máy tính lập.
Hạch toán: Nợ : TK chi phí chi trả lãi tiền gửi
Có : TK Tiền gửi thanh toán của khách hàng
1.2.4.2 Kế toán tiền gửi có kỳ hạn
1.2.4.2.1 Kế toán nhận tiền gửi:
- Căn cứ vào giấy nộp tiền, kế toán vào sổ chi tiết hoặc nhập dữ liệu
vào máy tính. Hạch toán:
Nợ : TK Tiền mặt
25

Trích đoạn Đánh giá chun g: Những nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác huy động vốn tại Chi nhánh Ngân Hàng Công Thương Sông Nhuệ Định hướng phát triển hoạt động huy độngvốn tại Chi nhánh Ngân Hàng Công Thương Sông Nhuệ Tiếp tục đa dạng hoá các hình thức huy động vốn: Tăng cường mở tài khoản cá nhân, séc cá nhân, thẻ thanh toán
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status