Học viện Ngân hàng Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Với bất kỳ một doanh nghiêp nào, vốn là một trong những yếu tố đầu
vào cơ bản của quá trình hoạt động kinh doanh. Đối với Ngân hàng thương
mại (NHTM) – tổ chức kinh doanh ngoại tệ – mà hoạt động chủ yếu và
thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng, cho vay từ số tiền huy động
được và làm các dịch vụ ngân hàng thì vai trò của nguồn vốn càng trở nên
quan trọng. Quy mô, cơ cấu, và các đạc tính của nguồn vốn quyết định hầu
hết các hoạt động của một NHTM, bao gồm quy mô, cơ cấu, thời hạn tài
sản và khẳ năng cung ứng dịch vụ, từ đó quyết định khẳ năng sinh lời.
Trong khi chưa khai thác được số lượng tiền nhàn rỗi trong các ngân
hàng, tổ chức kinh tế và dân cư, nhiều ngân hàng vẫn phụ thuộc vào nguồn
vốn vay, kể cả vốn vay của các ngân hàng nước ngoài, để đáp ứng cho nhu
cầu tăng trưởng tài sản, vì vậy chi phí nguồn vốn cao, sự ổn định và hiệu
quả kinh doanh thấp và chưa phát huy nội lực để phát triển một cách vững
chắc. Các NHTM Việt Nam đều trong tình trạng thiếu vốn trung và dài hạn
cho nhu cầu đầu tư. Việc thu hút nguồn vốn với chi phí cao, sự ổn định thấp
và không phù hợp với sử dụng vốn về quy mô, kết cấu làm hạn chế khẳ
năng sinh lời, đồng thời đặt ngân hàng trước rủi ro lãi suất, rủi ro thanh
khoản, và hơn thế có thể mất ổn định trong toàn bộ hệ thống tài chính như
nhiều quốc gia từng lâm vào. Do vậy, yêu cầu tăng cường huy động vốn có
mức chi phí hợp lý và ổn định cao được đặt ra hết sức cấp thiết đối với
NHTM Việt Nam nói chung, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn (NHN
O
&PTNT) tỉnh Vĩnh Phuc nói riêng.
Chi nhánh NHN
O
&PTNT Tỉnh Vĩnh Phúc trải qua nhiều năm đã đạt
tăng trưởng đáng kể trong mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng hoạt động
Nguyễn Tiến Hưng Lớp NHE-K6
Mặc dù có rất nhiều cố gắng song thời gian thực tập có hạn và vốn
kiến thức còn hạn hẹp nên chuyên đề chắc chắn sẽ không tránh khỏi
những thiếu sót. Em rất mong được sự chỉ bảo của các thầy cô để chuyên
đề của em được hoàn thiện hơn.
2
2
Học viện Ngân hàng Chuyên đề tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn! CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN VÀ KẾ
TOÁN HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Ngân hàng thương mại và nghiệp vụ huy động vốn
1.1.1. Khái niệm và vai trò của NHTM
Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính ra đời dựa trên cơ
sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hóa và dựa trên sự khác biệt
về tiền tệ giữa các vùng, các khu vực. Ngân hàng dược coi là một sản phẩm
độc đáo của nền sản xuất hàng hóa trong kinh tế thị trường, một động lực
cho sự phát triển của nền sản xuất xã hội. Với vai trò như trên, Ngân hàng
không thể đứng ngoài hoạt động của bất cứ quốc gia nào. Vì vậy mỗi nước
đều xây dựng những khung pháp lý quy định giới hạn hoạt động của mỗi
Ngân hàng. Mỗi nước khác nhau sẽ có quan niệm và mô hình tổ chức Ngân
hàng khác nhau. Thông thường người ta dựa vào tính chất, mục đích đối
tượng hoạt động của nó trên thị trường tài chính.
Ở Việt Nam NHTM được hiểu là: “NHTM là tổ chức kinh doanh tiền
tệ mà hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách
nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, đầu tư, thực hiện nghiệp
vụ chiết khấu... và làm phương tiện thanh toán”.
Trong nền kinh tế NHTM giữ một vai trò rất quan trọng:
Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, vốn
được tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh nghiệp
và Nhà nước trong nền kinh tế. Vậy muốn có nhiều vốn phải tăng thu nhập
kinh tế. Bằng hoạt động tín dụng và thanh toán, các Ngân hàng thương mại
đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông, thông qua
việc cấp các khoản tín dụng cho các ngành trong nền kinh tế. Ngân hàng
thương mại thực hiện việc điều hoà các luồng tiền, tích tụ và phân phối cho
các ngành. Với những nội dung hoạt động như vậy, Nhà nước đã sử dụng
Ngân hàng thương mại như là một công cụ hữu hiệu để điều tiết nền kinh tế.
Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với hệ thống
tài chính quốc tế. Trong nền kinh tế thị trường khi các mối quan hệ hàng
4
4
Học viện Ngân hàng Chuyên đề tốt nghiệp
hoá tiền tệ ngày càng được mở rộng thì nhu cầu giao lưu kinh tế - xã hội
giữa các nước trên thế giới ngày càng trở nên cần thiết và cấp bách. Việc
phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn gắn với sự phát triển của nền kinh
tế thế giới và là một bộ phận cấu thành nên sự phát triển đó. Vì vậy, nền tài
chính mỗi nước phải hoà nhập với nền tài chính quốc tế. Ngân hàng thương
mại cùng các hoạt động kinh doanh của mình đóng vai trò vô cùng quan
trọng trong sự hoà nhập này. Với các nghiệp vụ kinh doanh như nhận tiền
gửi cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ hối đoái và các nghiệp vụ
ngân hàng khác. Ngân hàng thương mại đã tạo điều kiện thúc đẩy ngoại
thương không ngừng mở rộng thông qua các hoạt động thanh toán kinh
doanh ngoại hối, quan hệ tín dụng với các Ngân hàng nước ngoài. Hệ thống
Ngân hàng thương mại đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong
nước phù hợp với sự vận động của hệ thống tài chính thế giới.
1.1.2. Khái niệm về nguồn vốn của Ngân hàng thương mại.
Vốn của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do Ngân hàng
thương mại tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư, hoặc để
thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Về thực chất, thì nguồn vốn của Ngân hàng là một bộ phận thu nhập
quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất phân phối và tiêu dùng,
và lưu thông hàng hoá, tăng hiệu quả sử dụng vốn. Mặt khác, những người
tiết kiệm thu thêm được một phần lãi từ tiền gửi của mình, tức đồng tiền
của họ từ chổ dư thừa đã có khả năng sinh lời. Ngược lại, những người
thiếu vốn thì có vốn kịp thời cho sản xuất, tăng lợi nhuận.
* Huy động vốn làm gia tăng vốn trong nước, kích thích huy động vốn
nước ngoài.
Nguồn vốn huy động của các Ngân hàng thương mại, ngoài nguồn
vốn huy động trong nước còn nguồn vốn huy động từ nước ngoài. Trong đó
vốn trong nước là yếu tố quyết định, vốn nước ngoài là quan trọng.
Vai trò quyết định của nguồn vốn trong nước thể hiện:
6
6
Học viện Ngân hàng Chuyên đề tốt nghiệp
- Thứ nhất, tạo tính chủ động trong quá trình huy động vốn, chi phí
huy động vốn thấp, hiệu quả kinh tế đối với xã hội cao.
- Thứ hai, tạo các điều kiện thuận lợi để hấp thụ và khai thác có hiệu
quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
- Thứ ba, hình thành và tạo lập sức mạnh hồi sinh cho nền kinh tế,
hạn chế các tiêu cực phát sinh về kinh tế -xã hội do đầu tư nước ngoài
mang lại. Nhờ vậy tính độc lập tự chủ của đất nước được bảo đảm, tránh lệ
thuộc nước ngoài do quan hệ vay mượn.
Xét về bản chất, huy động vốn của các Ngân hàng thương mại là trực
tiếp làm cho qui mô tích luỹ trong nước ngày càng tăng, chuyển tối đa
nguồn vốn đang nhàn rổi thành nguồn vốn hữu ích có khả năng sinh lời.
Còn huy động vốn nước ngoài có vai trò quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế, đặc biệt trong điều kiện kinh tế của nước ta còn nghèo, thiếu
vốn mà nhu cầu đầu tư phát triển lại cao.
Đặc biệt các NHTM còn có khả năng tính toán các điều kiện và lợi
ích cho vay trả, khả năng quản lý có hiệu quả vốn vay và vai trò quản lý
ngoại tệ để thực hiện chính sách ngoại hối của một quốc gia.
hạn (từ 12 tháng trở xuống), lãi suất thường thấp .
- Huy động trung hạn: loại vốn này có thời hạn từ trên 12 tháng đến
60 tháng, ngân hàng chủ yếu sử dụng cho doanh nghiệp vay khoản tín
dụng trung hạn.
- Huy động dài hạn: hình thức huy động này chiếm tỷ trọng nhỏ, đây
là khoản vay mà Ngân hàng huy động lớn trên 60 tháng, chi phí cho việc
huy động này là cao hơn so với 2 hình thức trước, nguồn này Ngân hàng
thường dùng để cho vay dài hạn như đầu tư xây dựng cơ bản, mở rộng sản
xuất kinh doanh ...
1.1.4.2 Căn cứ vào đối tượng huy động vốn.
- Huy động vốn từ dân cư: Vốn này có nguồn gốc từ những khoản
dự phòng cho tiêu dùng và rủi ro trong tương lai. Khi xã hội ngày càng phát
8
8
Học viện Ngân hàng Chuyên đề tốt nghiệp
triển thì các khoản dự phòng cũng tăng lên. Nắm bắt được quy luật này,
Ngân hàng thương mại đã sử dụng nghiệp vụ huy động để tăng thêm nguồn
vốn, đáp ứng nhu cầu kinh tế và thu được lợi nhuận .
- Huy động vốn từ các tổ chức kinh tế và các doanh nghiệp: Các
doanh nghịêp do nhu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh nên các đơn vị
này thường gửi một khối lượng tiền lớn vào Ngân hàng để hưởng tiện ích
thanh toán. Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính, quan hệ với
các đối tượng này thông qua việc mở tài khoản, nhận tiền gửi của các tổ
chức kinh tế và đáp ứng yêu cầu thanh toán của họ. Do có sự đan xen giữa
các khoản phải thu và các khoản thanh tóan nên luôn tồn tại một số dư
nhất định trên tài khoản của Ngân hàng. Nguồn này được Ngân hàng huy
động, có chi phí thấp và sử dụng cho vay không chỉ ngắn hạn mà còn cả
trung dài hạn. Tuy nhiên nguồn này có hạn chế là tính ổn định và độ lớn
phụ thuộc vào quy mô, loại hình của doanh nghiệp .
- Huy động từ các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác: Vốn này
số tìên hiện có trong tài khoản của khách hàng, ngược lại với số dư bên nợ
phản ánh số tín dụng Ngân hàng cấp cho khách hàng vay. Lãi suất hai bên
đều do hai bên thoả thuận.
Tìên gửi không kỳ hạn có chi phí huy động thấp, song có tính ổn định
thấp. Nếu thu hút được lượng khách hàng lớn, đảm bảo luôn có một số dư
ổn định, Ngân hàng có thể dễ dàng trong việc đa dạng hoá nghiệp vụ của
mình thông qua việc mua bán các chứng khoán có tính linh hoạt cao như kỳ
phiếu, tín phiếu kho bạc.
- Huy động tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm:
Nếu tiền gửi không kỳ hạn số dư tăng giảm phụ thuộc vào tình hình
sản xuất kinh doanh của khách hàng gửi tiền, thì tiền gửi có kỳ hạn và tiết
kiệm lại phụ thuộc vào lãi suất trả lãi.
10
10
Học viện Ngân hàng Chuyên đề tốt nghiệp
- Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền mà chủ sở hữu có quỳên rút ra theo
thời hạn đã thoả thuận với Ngân hàng, mục đích chính của loại tiền gửi này
là hưởng lãi chứ không phải vì hưởng các tiện ích trong thanh toán. Đặc
trưng của loại tiền gửi này là không dùng thanh toán, hiệu quả sử dụng của
nguồn vốn này đối với Ngân hàng rất cao vì nó có kỳ hạn rõ ràng. Chi phí
về nguồn vốn cho loại tiền gửi này đối với Ngân hàng cao hơn tiền gửi
không kỳ hạn.
- Tiền gửi tiết kiệm: Đối với Ngân hàng thương mại, tiền gửi tiết
kiệm là công cụ huy động vốn có từ lâu. Vốn huy động từ các khoản tiền
tiết kiệm thường chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tìên gửi của Ngân hàng.
Loại tiền gửi này thường chia thành :
+ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Đối với loại này, chủ sở hữu có thể
rút ra bất kỳ lúc nào mà không phải báo trước, số dư tài khoản này thường
không lớn, ưu điểm hơn tiền gửi giao dịch là số dư này ít biến động, Ngân
hàng thường phải trả lãi suất cao hơn so với tiền gửi thanh toán.
thức trả lãi đa dạng đáp ứng nhu cầu của người mua. Lãi suất của kỳ phiếu
thường ổn định và hấp dẫn.
1.1.4.4.Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng huy động vốn.
Chất lượng huy động vốn của Ngân hàng chỉ có thể được cải thiện
khi phân tích ảnh hưởng của các nhân tố có liên quan theo cả hai chiều
hướng tích cực và tiêu cực. Nhóm nhân tố ảnh hưởng có thể chia ra làm hai
loại:
Những nhân tố khách quan.
Nền kinh tế là một hệ thống gồm nhiều hoạt động kinh tế có liên
quan biện chứng và tác động lẫn nhau. Sự biến động của một hoạt động
kinh tế đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực còn lại.
Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại được coi như một chiếc
cầu nối giữa các lĩnh vực kinh tế khác nhau trong nền kinh tế. Do vậy, sự
tác động ổn định hay bất ổn định, tăng nhanh hay chậm chạp của nền kinh
tế đều tác động mạnh mẽ đến hoạt động của Ngân hàng. Rõ ràng hoạt động
12
12
Học viện Ngân hàng Chuyên đề tốt nghiệp
kinh doanh nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng của Ngân hàng
luôn gắn với môi trừơng kinh doanh. Môi trường này gồm
* Pháp luật, chính sách của Nhà nước.
Việc huy động vốn và sử dụng vốn của Ngân hàng đều tác động trực
tiếp đến tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, thu nhập của các chủ thể, tốc
độ chu chuyển vốn, tình trạng thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát. Chính vì vậy mà
hoạt động của Ngân hàng cũng chịu sự điều chỉnh của pháp luật, đôi khi
còn chặt chẽ hơn cả đối với doanh nghịêp. Trên thực tế Ngân hàng chịu sự
tác động của rất nhiều chính sách, các quy định của chính phủ, Ngân hàng
Trung Ương ; đó là Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh tế, Luật dân sự …
Do sự ràng buộc về pháp luật, nghiệp vụ huy động vốn chắc chắn sẽ thay
đổi và quy mô, hiệu quả của công tác huy động vốn cũng bị tác động. Cụ
* Chính sách lãi suất cạnh tranh.
Lãi suất là tỷ lệ phần trăm của số tiền có được so với số tiền gốc mà
người gửi tiền nhận được từ Ngân hàng, hay là phần vay phải trả cho Ngân
hàng về khoản vốn vay. Lãi suất là giá cả của khoản tiền mà người mua
phải trả cho người bán. Do vậy người bán luôn muốn bán với giá cao, còn
người mua cũng luôn muốn mua với giá thấp. Như vậy người dân có có
nhu cầu gửi tiền vào Ngân hàng thì cái đầu tiên phải là lãi suất của Ngân
hàng đó so với Ngân hàng khác.Tuy lãi suất huy động không đóng vai trò
quyết định nhưng với một lãi suất huy động cao thì bao giờ cũng tạo được
sự quan tâm đối với khách hàng. Đặc biệt trong giai đoạn khan hiếm tiền tệ
dù cho những khác biệt tương đối nhỏ về lãi suất cũng sẽ thúc đẩy người
gửi tiết kiệm và nhà đầu tư chuyển vốn từ một công cụ mà họ đang có sang
tiết kiệm hoặc đầu tư hay từ một tổ chức tín dụng này sang một Công ty
hoặc một tổ chức tín dụng khác.
Tuy vậy cạnh tranh bằng lãi suất là cạnh tranh có giới hạn. Một Ngân
hàng nếu không bị khống chế bởi lãi suất huy động “trần” và lãi suất cho
vay “sàn” của NHTW, thì cũng bị khống chế bởi chính lợi nhuận và sự
tồn tại của Ngân hàng.
* Các dịch vụ do Ngân hàng cung ứng.
14
14
Học viện Ngân hàng Chuyên đề tốt nghiệp
Để phát huy được hết khả năng của các khoản tiền gửi, Ngân hàng
đã ra một phạm vi dịch vụ cho vay rộng lớn cùng với sự phát triển không
ngừng mạng lưới cung cấp các dịch vụ và nới rộng các chức năng khác của
mình để đáp ứng các nhu cầu dịch vụ phụ trợ của khách hàng chẳng hạn
dịch vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu của khách hàng, ký phát thư bảo
lãnh, chuyển đổi tiền tệ từ loại này sang loại khác, bố trí thời gian tiếp khác
phù hợp.... Hoạt động Ngân hàng là kinh doanh kiếm lời và cạnh tranh
ngày càng tăng giữa các Ngân hàng với nhau. Bởi cạnh tranh tăng lên, nên
- Chính sách trong phục vụ giao tiếp.
* Công nghệ Ngân hàng.
Trong cạnh tranh, các Ngân hàng không ngừng đổi mới công nghệ,
bởi lẽ, các dịch vụ, đặc biệt các dịch vụ về chuyên môn Ngân hàng sẽ được
đa dạng, chất lượng ngày càng tốt hơn, đảm bảo các loại dịch vụ được cung
ứng nhanh chóng, an toàn và hiệu quả. Tất nhiên với công nghệ Ngân hàng
tiên tiến sẽ giúp Ngân hàng phục vụ được khách hàng một cách tốt hơn,
chỗ đứng của Ngân hàng đó trên thị trường sẽ vững vàng hơn thì sẽ có
nhiều khách hàng biến đến Ngân hàng đó (công nghệ cao có khả năng giúp
cho Ngân hàng đó có khả năng thanh toán nhanh, thủ tục ít rườm rà). Điều
này cũng làm cho khả năng huy động vốn của Ngân hàng cũng dễ dàng
hơn.
* Chính sách cán bộ.
Một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao, có tinh thần trách
nhiệm, được bố trí công việc phù hợp với năng lực, đoàn kết thân thiện,
luôn luôn là nền tảng của sự thành công. Nói chung, người ta đều mong
muốn giao dịch kinh doanh với một hãng bề thế với các nhân viên dễ mến
lịch sự và có kiến thức.
* Chính sách tiếp thị.
Là sản phẩm của cạnh tranh và hệ quả của sự nghiên cứu tìm tòi các
dịch vụ mới - các Ngân hàng trở nên quan tâm nhiều hơn đến lĩnh vực tiếp
thị (Marketing). Tiếp thị không đơn giản chỉ là vấn đề bán ra một sản phẩm
nào đó, mà đây là cả một quá trình phát hiện, tìm kiếm khách hàng để tạo
16
16
Học viện Ngân hàng Chuyên đề tốt nghiệp
ra những sản phẩm thích hợp cho họ, thuyết phục họ “mua” chúng thay vào
việc “mua” những sản phẩm có chức năng tương tự do ngời khác cung cấp.
Một trong những biện pháp thuyết phục mà các Ngân hàng hiện đang làm
đó là quảng cáo. Trong hoạt động Ngân hàng hiện đại, quảng cáo được chú
như vậy hiệu quả huy động vốn sẽ là không cao. Ngược lại, nếu nguồn
vốn huy động ổn định Ngân hàng sẽ yên tâm sử dụng phần lớn số vốn đó
vào các hoạt động có thu nhập cao.
Nguồn vốn tăng đều qua các năm, đạt mục tiêu đề ra và có độ gia
tăng đều đặn là nguồn vốn tăng trưởng ổn định.
* Cơ cấu nguồn vốn huy động phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn
Sự biến đổi về cơ cấu vốn sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu cho vay, đầu
tư và kéo theo sự thay đổi trong lợi nhuận, rủi ro của hoạt động kinh
doanh. Xu hướng biến đổi cơ cấu vốn huy động phải đáp ứng được nhu
cầu sử dụng trong tương lai về cho vay ngắn hạn, trung dài hạn, cho vay
nội tệ và ngoại tệ…
1.1.5.2 Tiết kiệm chi phí lãi và chi phí khác về huy động
* Lãi suất huy động:
Lãi suất luôn luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của tất cả các chủ
thể kinh tế. Người gửi tiền muốn một lãi suất cao để đồng tiền gửi của
mình thu về nhiều tiền lãi. Người vay tiền lại muốn một lãi suất thấp để
tiết kiệm chi phí sản suất kinh doanh, tăng lợi nhuận. Là trung gian đóng
vai trò cầu nối giữa hai đối tượng trên, Ngân hàng phải tìm cách dung
hoà lợi ích của tất cả các bên, trong đó điều quan trọng là phải đảm bảo
lợi nhuận cho Ngân hàng. Vì vậy trong huy động vốn, mỗi Ngân hàng
đều cố gắng áp dụng mọi biện pháp có thể nhằm tìm kiếm được những
nguồn vốn sao cho chi phí huy động là nhỏ nhất và sử dụng số vốn đó để
cho vay với một lãi suất được chấp nhận trên thị trường. Chi phí huy
động vốn thường được đánh giá chủ yếu bởi mức lãi suất huy động từng
nguồn; lãi suất huy động bình quân, tính bằng bình quân gia quyền của
lãi suất các nguồn theo khối lượng từng nguồn; chênh lệch đầu vào đầu
ra. Các nguồn huy động của Ngân hàng có mức lãi suất, kỳ hạn, qui mô
18
18
Học viện Ngân hàng Chuyên đề tốt nghiệp
19
Đó là khả năng huy động các nguồn vốn với các kỳ hạn khác
nhau, trong đó có cả nội tệ và ngoại tệ và với mức lãi suất khác biệt
tương ứng sao cho người gửi tiền chấp nhận được và cảm thấy hợp lý.
Nhờ đó Ngân hàng đạt được cơ cấu về kỳ hạn và loại tiền mong muốn để
đáp ứng được tối đa các nhu cầu sử dụng vốn tránh tình trạng thừa vốn
ngắn hạn trong khi thiếu vốn trung dài hạn, thừa vốn nội tệ nhng lại thiếu
vốn ngoại tệ.
1.1.5.4. Một số chỉ tiêu khác:
Ngoài các chỉ tiêu chính trên, hiệu quả công tác huy động vốn còn
được đánh giá qua một số chỉ tiêu sau:
Mức độ hoạt động của vốn huy động: được đánh giá qua chỉ tiêu
hệ số sử dụng vốn. Hệ số sử dụng vốn càng tiến đến một thì càng tốt
(trong điều kiện vẫn đảm bảo các giới hạn an toàn trong hoạt động kinh
doanh), điều này thể hiện nguồn vốn huy động được sử dụng tối đa.
Mức độ thuận tiện cho khách hàng: Được đánh giá qua các thủ tục
gửi tiền, rút tiền, các dịch vụ kèm theo của Ngân hàng… tiết kiệm được
thời gian và chi phí cho khách hàng.
Thời gian để huy động một số lượng vốn nhất định.
Một số chỉ tiêu khác như số lượng vốn bị rút trước hạn, kỳ hạn
thực tế của nguồn vốn…
Trên đây là một số chỉ tiêu dùng để đánh giá hiệu quả công tác huy
động vốn. Tuy nhiên, một chỉ tiêu thì không thể phản ánh đầy đủ được, ta
phải kết hợp nhiều chỉ tiêu thì mới đánh giá đúng và thực chất hiệu quả
công tác huy động vốn tại một Ngân hàng thương mại.
20
20
Học viện Ngân hàng Chuyên đề tốt nghiệp
1.2. Kế toán huy động vốn.
1.2.1. Nhiệm vụ, yêu cầu của kế toán huy động vốn.
- Tài khoản 424: Tiền gửi tiết tiệm bằng ngoại tệ và vàng.
- Tài khoản 425: Tiền gửi của khách hàng nước ngoài bằng VNĐ
- Tài khoản 426: Tiền gửi của khách hàng nước ngoài bằng ngoại tệ.
- Tài khoản 427: Tiền ký quỹ bằng VNĐ.
- Tài khoản 428: Tiền ký quỹ bằng ngoại tệ.
- Tài khoản 431: Mệnh giá giấy tờ có giá bằng VNĐ.
- Tài khoản 432: Chiết khấu giấy tờ có giá bằng VNĐ.
- Tài khoản 433: Phụ trội giấy tờ có giá bằng VNĐ.
- Tài khoản 434: Mệnh giá giấy tờ có giá bằng ngoại tệ và vàng.
- Tài khoản 435: Chiết khấu giấy tờ có giá bằng ngoại tệ và vàng.
- Tài khoản 436: Phụ trội giấy tờ có giá bằng ngoai tệ và vàng.
- Tài khoản 80: Chi phí hoạt động tín dụng.
- Tài khoản 1011: Tiền mặt tại đơn vị.
- Tài khoản 1031: Tiền ngoại tệ tại đơn vị.
1.2.3. Chứng từ sử dụng:
Nhóm chứng từ sử dụng cho nghiệp vụ huy động vốn khá phong phú
bao gồm:
- Chứng từ tiền mặt: giấy nộp tiền, giấy lĩnh tiền, séc tiền mặt...
- Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt: séc chuyển khoản, séc
bảo chi, ủy nhiệm chi...
- Các loại kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi.
22
22
Học viện Ngân hàng Chuyên đề tốt nghiệp
- Các loại sổ tiết kiệm.
Các chứng từ này có liên quan đến việc nộp và lĩnh tiền từ tài khoản
khách hàng nên phải đảm bảo tính pháp lý cao, không sử dụng lẫn lộn các
loại chứng từ. Một số loại phải bảo quan theo chế độ bảo quản chứng từ có
giá trị như các loại séc, các loại thẻ, phiếu tiết kiệm, các loại kỳ phiếu, trái
phiếu.
khoản, hạn mức thấu chi ( nếu áp dụng thấu chi tài khoản), vào sổ chi tiết
hoặc nhập dữ liệu vào máy tính, làm thủ tục chi tiền cho người có tên ghi
trên tờ Séc.
Hạc toán: Có : TK Tiền mặt (1011)
Nợ : Tk Tiền gửi thanh toán
- Chi trả bằng chuyển khoản: Chủ tài khoản sử dụng các chứng từ
thanh toán không dùng tiền mặt như : UNC, Séc chuyển khoản, Séc bảo
chi… để trích tài khoản của mình chuyển trả cho người bán hoặc UNT trích
tài khoản của người mua chuyển vào tài khoản của người bán.
Kế toán kiểm soát chứng từ, vào sổ tài khoản chi tiết hoặc nhập số
liệu vào máy tính.
Hạch toán:
Nợ : TK Tiền gửi thanh toán của chủ tài khoản (người chi
trả)
Có : - TK Tiền gửi thanh toán của người thụ hưởng
( nếu thanh toán cùng ngân hàng)
- Hoặc TK thanh toán vốn giữa các ngân hàng
( nếu thanh toán khác ngân hàng)
Trường hợp chủ tài khoản trích tiền từ tài khoản Tiền gửi thanh toán
để chuyển đến một ngân hàng khác ( thanh toán khác ngân hàng ) thì ngân
hàng thu lệ phí chuyển tiền và thuế giá trị gia tăng (GTGT) theo số tiền
chuyển.
24
24
Học viện Ngân hàng Chuyên đề tốt nghiệp
Hạch toán: Nợ : TK Tiền gửi thanh toán của chủ tài khoản
Có : - TK Thuế GTGT phải nộp
- TK Thu nhập / phí chuyển tiền
12.4.1.3 Kế toán trả lãi tài khoản tiền gửi thanh toán
Hàng tháng (vào ngày cuối thấng), kế toán tính và trả lãi các tài