ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CHẤT GIỮ ẨM CH ĐỐI VỚI CÂY ĐIỀU
1. Sơ lược về chất giữ ẩm
Chất giữ ẩm là polymer có trọng lượng phân tử cao, có khả năng trương nở khi gặp
nước nên có thể giữ được lượng nước lớn, không độc hại và dễ bị phân hủy sinh học. Vì
vậy, chất giữ ẩm được dùng trong nông nghiệp để giữ ẩm cho những vùng đất khô hạn,
đất cát hoặc trên đồi núi, nơi nước dễ trôi đi, cung cấp dần nước cho cây trồng trong quá
trình sinh trưởng và phát triển, giúp cây không bị thiếu nước trong điều kiện khô hạn,
giảm lượng nước tưới tiêu. Ngoài ra, chất giữ ẩm còn có khả năng hút các chất dinh
dưỡng khi bón phân và nhả dần ra cho cây trồng hấp thu, hạn chế thất thoát chất dinh
dưỡng khi trời mưa, giúp tiết kiệm phân bón, làm tăng năng suất, giảm được ảnh hưởng
tới môi trường.
Năm 2004, Viện Công nghệ Hóa học đã nghiên cứu thành công chất giữ ẩm CH
được điều chế dựa trên nền tảng ghép Cellulose với Acid Acrylic. Cellulose phản ứng với
Acid Acrylic với chất liên ngang tạo vật liệu không gian có khả năng trương nở trong môi
trường nước. Chất giữ ẩm CH với cấu trúc không gian này có khả năng thay thế các chất
giữ ẩm ngoại nhập do giá thành rẻ (nguyên liệu sử dụng là Cellulose từ các phế thải nông
nghiệp như bã mía, mùn cưa), thời gian sử dụng dài (từ 2-3 năm). Khi gặp nước, CH
trương nở ra và hút rất nhiều nước vào trong nó để tạo thành những túi nước nhỏ. Khi gặp
môi trường đất khô hạn hoặc môi trường khô khan, những túi nước này sẽ phóng thích
nước ra ngoài. Do đó, môi trường đất luôn giữ được độ ẩm nhất định và ổn định trong
thời gian khô hạn nhiều ngày. Đây là điều quan trọng và cần thiết để cây phát triển bình
thường. Vì vậy, CH có khả năng ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp, bổ sung nước cho
cây trồng trong mùa khô hạn ở nước ta. Chất giữ ẩm CH copolymer Celluluose/Acrylic đã
được triển khai ứng dụng tại vùng đất bazan ở Tây Nguyên trên cây Cà phê, Bông, Bắp
(Công ty cà phê Chư Păh, công ty cà phê Gia Lai, trung tâm nghiên cứu giống cây trồng –
Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai). Khi sử dụng chất giữ ẩm tiết kiệm
từ 30-60% lượng nước tưới và năng suất cây trồng tăng từ 5-15% , trong đó tại vùng đất
khô hạn thiếu nước tại Công ty cà phê Chư Păh năng suất tăng lên đến 2.5 lần.
Với kết quả nghiên cứu triển khai ứng dụng vật liệu giữ ẩm tại tỉnh Gia Lai, đồng
thời cùng với việc khô hạn tại huyện Định Quán, Viện Công nghệ Hóa học đang thực hiện
Trang 1
0
C tập trung vào các tháng 11, 12 trong năm.
2.2.2. Lượng mưa
Lượng mưa bình quân từ 1.500 – 2.500 mm/năm và mưa tập trung từ tháng 5- 10,
lượng mưa lớn nhất vào khoảng tháng 6, 7 trong năm và mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến
tháng 4 năm sau.
2.2.3. Nguồn nước và khả năng sử dụng
Nước mặt: Nguồn nước mặt của huyện Định Quán chủ yếu từ hệ thống sông Đồng
Nai với dòng chảy chính là sông Đồng Nai (phần chảy qua huyện dài 32 km, hồ
Trị An nằm trên địa bàn huyện trên 17.000 ha) và các chi lưu của sông La Ngà
(phần chảy qua huyện dài khoảng 46 km). Tuy nhiên do cao trình mặt nước sông,
Trang 3
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CHẤT GIỮ ẨM CH ĐỐI VỚI CÂY ĐIỀU
suối thấp hơn tầng đất canh tác rất lớn, nên khả năng khai thác nước tưới phục vụ
cho sản xuất nông nghiệp không cao.
Nước ngầm: Nước ngầm của huyện Định Quán có trữ lượng nhỏ, xuất hiện ở độ
sâu trung bình từ 20 – 30m, có những nơi lên tới từ 80 – 100 m phân bố ở các xã:
Phú Ngọc, Ngọc Định.
Định Quán trong những năm gần đây thường xảy ra hạn hán và mùa khô kéo dài
nên hệ thống thủy lợi tại huyện với 3 trạm bơm (Trạm bơm Hòa Thành xã Ngọc Định có
công suất tưới được cho 240 ha, Trạm bơm ấp 1 – 2 xã Thanh Sơn có công suất tưới được
cho 190 ha, Trạm bơm ấp 6 – 8 xã Thanh Sơn có công suất tưới được cho 265 ha) không
đáp ứng đủ nhu cầu về nước tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp.
2.3. Đất đai: Huyện Định Quán có 4 nhóm đất chính:
Nhóm đất đá bọt núi lửa: Diện tích 504 ha, chiếm 0,5% phân bổ tập trung ở các
xã Phú Tân, Phú Lợi, Phú Vinh và Gia Canh. Đất có nguồn gốc phát sinh từ đá
Bazan nhưng có nhiều đá lẫn và kết von trên địa hình dốc.
Nhóm đất đỏ: Diện tích 13.050 ha chiếm 13,4% diện tích tự nhiên, phân bố tập
trung ở các xã: Phú Túc, Phú Cường, La Ngà và phần phía bắc xã Thanh Sơn. Đây
là loại đất tốt trên địa bàn huyện được hình thành từ đá Bazan, tầng đất dày, thành
nông dân. Cây giữ được trạng thái ổn định sẽ giúp tăng năng suất và phát triển bình
thường.
Trang 5
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CHẤT GIỮ ẨM CH ĐỐI VỚI CÂY ĐIỀU
3. Cây điều
Cây điều (Anacardium occidentale L.; Anacardium curatellifolium A.St Hil.) là
một loại cây công nghiệp dài ngày thuộc họ Đào lộn hột, có nguồn gốc từ đông bắc
Brazil. Ngày nay điều được trồng khắp các khu vực khí hậu nhiệt đới để lấy nhân hạt chế
biến làm thực phẩm. Cây điều chịu được những điều kiện khí hậu đa dạng và khắc nghiệt.
Là cây ưa nhiệt độ cao nhạy cảm với giá lạnh, khí hậu nhiệt đới với một mùa khô rõ rệt là
điều kiện thích hợp để cây điều phát triển tốt.
Nhân hạt điều chủ yếu dùng để sản xuất snach (60%), số còn lại phần lớn dùng để
sản xuất bánh kẹo. Dầu vỏ hạt điều CNSL (cashew nut shell liquid) dùng làm bố thắng,
lớp phủ cho bộ phận ly hợp hoặc được xử lý hóa học để tạo ra các loại sơn, vecni, các loại
nhựa, chất dẻo.
3.1. Tình hình sản xuất cây điều
Theo FAO trên thế giới hiện nay có 32 nuớc sản xuất điều thương mại thế nhưng
cây điều chỉ phát triển tốt ờ những nước nhiệt đới và cận nhiệt đới 10 nước trồng điều
nhiều nhất trên thế giới hiện nay là: Ấn Độ, Việt Nam, Braxin, Nigenia, Tanzania,
Indonesia, Guinea Bissau, Cotolvore, Monzambique và Benin. Điều trở thành cây trồng
chính thức đặc biệt được quan tâm phát triển, giữ một vị trí quan trọng trên thị trường
nông sản của một số nước nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Hiện nay, Đồng Nai có diện tích cây điều đứng thứ hai cả nước (sau Bình Phước),
khoảng 45.000 ha, trong đó có khoảng 15.000 ha cây điều ghép, có những mô hình cây
điều ghép năng suất > 3 tấn/ha. Quy hoạch tổng thể Đồng Nai định hướng phát triển các
loại cây trồng chính theo 3 nhóm cây ngắn ngày, cây công nghiệp và cây ăn quả. Nhóm
cây công nghiệp tập trung vào hai loại cây chính đạt giá trị xuất khẩu cao là điều và hồ
tiêu. Trong đó, những vùng đất xám bạc màu không chủ động được nước tưới như Cẩm
Mỹ, Xuân Lộc, Tân Phú, Long Thành, Định Quán, Trảng Bom, Vĩnh Cửu rất phù hợp để
phát triển cây điều.
chiều dài khoảng 1cm thường cao hơn nhị lớn.
Trang 7
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CHẤT GIỮ ẨM CH ĐỐI VỚI CÂY ĐIỀU
Hoa ra tận đầu các cành nhánh, hoa cây điều chủ yếu thụ phấn chéo nên đời con
chủ yếu là con lai, đồng nghĩa với phân ly và thoái hóa giống. Thời gian trổ hoa thường
kéo dài khoảng 85 ngày qua 3 pha rõ rệt:
− Pha đực thứ nhất kéo dài 2,4 ngày (19-100% là hoa đực)
− Pha hỗn hợp kéo dài 69,4 ngày (0 – 60% là hoa đực,0 – 20% là lưỡng tính).
− Pha đực thứ hai kéo dài 13 ngày (0-67% là hoa đực).
Quả:
Hoa đực nở trước hoa lưỡng tính, phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường, thời gian
hoa đực nở từ 9-10h, hoa lưỡng tính từ 10–11h. Trời nóng nhất trong ngày, hoa nở nhanh
và có cơ may tự thụ cao, mưa rào xem như thất bại.
Noãn sẽ tạo thành nhân hạt, bầu nhụy tạo thành vỏ bao nhân, cuống, đế hoa tạo
thành quả giả. Quả chính là phần cứng mà người ta thường gọi là hạt điều, còn phần mà
người ta gọi là quả thực chất là đế hoa phình to, khi chín có màu đỏ, vàng, tím thẫm… tùy
giống.
Trái điều
Thời gian
Hạt điều
Lũy tiến
(ngày)
Khoảng
(ngày)
Sự thụ phấn 0 0 Sự thụ phấn
Hình thành và phát triển 5 5 Thấy được bằng mắt thường
Hình thành và phát triển 20 15 Hồng và xanh lá cây (độ đặc mềm)
Hình thành và phát triển 35 15
Hạt phát triển hoàn toàn bên trong
đế hoa
C, nhiệt độ tối đa trung bình
cây còn khả năng chống chịu là 40
0
C.
Trong giai đoạn sản xuất của cây, nhiệt độ thấp ảnh hưởng đến sự ra hoa. Thời kỳ
quả phát triển, nhiệt độ lớn hơn 40
0
C sẽ gây rụng hoa, quả. Cây điều non thường rất mẫn
cảm với nhiệt độ thấp, cây trưởng thành có thể chịu được nhiệt độ ở 0
0
C. Khi nhiệt độ
dưới 15
0
C điều sinh trưởng và phát triển giảm rõ rệt.
Ánh sáng:
Điều là cây ưa sáng trực xạ. Ngoài ra độ ngày dài và độ mây che phủ cũng ảnh
hưởng đến sự phát triển và năng suất của cây điều.
Ở những vùng có độ dài ngày và đêm bằng nhau rất thích hợp cho việc trồng điều.
Vùng có nhiều sương mù cây vẫn sinh trưởng bình thường nhưng cho trái kém.
Trang 9
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CHẤT GIỮ ẨM CH ĐỐI VỚI CÂY ĐIỀU
Ẩm độ:
Cây thích hợp với ẩm độ tương đối của không khí từ 68-77%. Cây điều trổ bông và
kết hạt thuận lợi trong điều kiện ẩm độ không khí thấp. Nếu ẩm độ cao trong lúc điều trổ
bông sẽ cản trở sự mở của bao, đầu nhụy không thụ phấn, bông sẽ thối rụng.
Lượng mưa:
Lượng mưa thích hợp từ 800-1500 mm/năm, trải đều trong 6-7 tháng và một mùa
khô kéo dài từ 5-6 tháng trùng vào mùa cây điều ra hoa kết quả. Cây điều rất thích hợp
với kiểu khí hậu hai mùa mưa, mùa khô rõ rệt. Mưa nhiều hay ít cũng đều ảnh hưởng đến
cây điều. Mưa nhiều làm cây chậm sinh trưởng và sản phẩm kém chất lượng, bị ký sinh
- Tháng 8: dùng 200kg urê + 300kg lân + 50kg kali, chia làm 3 lần bón, chu kỳ 7
ngày 1 lần.
- Tháng 11: dùng 130kg urê + 300kg lân + 60kg kali, chia làm 3 lần bón, chu kỳ 7
ngày 1 lần.
Ghi chú: toàn bộ lượng phân lân bón vào gốc, riêng urê và kali thì bón kết hợp qua đường
ống tưới. Sau tượng trái: dùng 120kg urê + 50kg kali, chia làm 3 lần bón, chu kỳ 7
ngày 1 lần.
Tưới nước:
Cây điều ra bông, đậu trái vào mùa khô cho nên việc giữ nước giữ ẩm cho cây
bằng các tủ rơm rạ quanh gốc hoặc nếu có điều kiện cần phải tưới nước bổ sung cho cây
vào mùa khô để tăng khả năng đậu trái, tăng năng suất.
Trang 11
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CHẤT GIỮ ẨM CH ĐỐI VỚI CÂY ĐIỀU
4. Thử nghiệm chất giữ ẩm CH trên cây điều năm 2008:
4.1. Địa điểm thử nghiệm
Chất giữ ẩm CH được thử nghiệm trên 10 hộ nông dân ở các xã như: Phú Túc, Túc
Trưng, La Ngà, Phú Ngọc, Ngọc Định, Thanh Sơn, Phú Vinh và Phú Lợi.
Bảng 1: các hộ nông dân trồng điều thử nghiệm chất giữ ẩm tại huyện Định Quán
STT Chủ vườn Địa chỉ
Giống
điều
Năm
trồng
Diện tích
(ha)
Thời gian
bón
1 Nguyễn Đức Tình
ấp Suối Son –
Phú Túc
Nguyễn Xuân
Thanh
ấp 1 – Thanh
Sơn
Điều
ghép
2003 1,3 22/01/2008
9 Huỳnh Thị Thu
ấp Suối Soong 1
– Phú Vinh
Điều
ghép
2002 1,3 28/01/2008
10 Mai Văn Lưu ấp 6 – Phú Lợi Điều hạt 2001 1,3 28/01/2008
Trang 12
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CHẤT GIỮ ẨM CH ĐỐI VỚI CÂY ĐIỀU
4.2. Bố trí thí nghiệm
4.2.1 Chuẩn bị đất và cách bón chất giữ ẩm
Chất giữ ẩm là chất giữ nước bên trong và nhả nước từ từ để cung cấp cho rễ cây
để cây hấp thụ nước. Do đó, chất giữ ẩm không được rắc trên bề mặt đất vì khi làm như
vậy, CH giữ nước bên trong và khi gặp ánh sáng chúng hấp thu nhiệt làm nóng nước bên
trong của chất giữ ẩm làm rễ cây bị nóng và có khả năng bị hư rễ tại những khu vực được
bón. Do vậy, khi bón CH nên vùi xuống dưới đất để chúng tránh ánh nắng mặt trời. Có 2
cách bón cho chất giữ ẩm CH là:
- Đào các hốc xung quanh bộ rễ
Với cách đào theo hốc này, một số xã áp dụng như: Phú Túc, La Ngà, Phú Ngọc,
Phú Vinh, Phú Lợi và Ngọc Định. Do tán lá của cây điều khá lớn nên chất giữ ẩm được
bón từ 8 – 10 hốc xung quanh bộ rễ của chúng.
- Đào rãnh xung quanh bộ rễ.
Với cách bón xung quanh bộ rễ này, rãnh được đào xung quanh 2/3 đường kính tán
T
1
4. Ô thử nghiệm 120g/cây: Tưới nước theo chu kỳ tưới bình thường L
3
T
1
5. Ô thử nghiệm 160g/cây:Tưới nước theo chu kỳ tưới bình thường L
4
T
1
6. Ô thử nghiệm 40g/cây: Tưới nước theo chu kỳ tưới bình thường. Lượng nước tưới
cho mỗi lần tưới bằng ½ lượng nước bình thường L
1
T
2
7. Ô thử nghiệm 80g/cây: Tưới nước theo chu kỳ tưới bình thường. Lượng nước tưới
cho mỗi lần tưới bằng ½ lượng nước bình thường L
2
T
2
8. Ô thử nghiệm 120g/cây: Tưới nước theo chu kỳ tưới bình thường. Lượng nước tưới
cho mỗi lần tưới bằng ½ lượng nước bình thường L
3
T
2
9. Ô thử nghiệm 160g/cây: Tưới nước theo chu kỳ tưới bình thường. Lượng nước tưới
cho mỗi lần tưới bằng ½ lượng nước bình thường L
4
T
2
Hàm lượng Nitơ tổng: Phương pháp Kjeldahl
Hàm lượng P
2
O
5
: Phương pháp Oniani
Hàm lượng K
2
O: đo trên máy quang phổ hấp thu nguyên tử AAS Avanta GBC,
Viện Công nghệ Hóa học.
Tổng vi sinh vật trong đất: phương pháp đếm tế bào vi sinh vật trực tiếp dưới
kính hiển vi.
Tổng các nấm trong đất: dùng môi trường Czapek.
4.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi đối với cây điều:
- Trọng lượng hạt.
- Năng suất cây điều.
- Đánh giá so sánh cảm quan.
5. Thử nghiệm chất giữ ẩm CH trên cây điều năm 2009:
Tiếp tục thử nghiệm chất giữ ẩm CH trên cây điều năm 2009 tại hộ gia đình ông Lê
Xuân Bàn, xã Thanh Sơn, huyện Định Quán với diện tích thử nghiệm: 0,5 ha
Thử nghiệm được chia thành 2 ô nghiệm thức: ô đối chứng 0,3 ha, ô thử nghiệm
0,2 ha. Lượng vật liệu cung cấp cho 1 cây: 160g/gốc và ngày bón vật liệu thử nghiệm trên
cây điều: 20/12/2008
Trang 15
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CHẤT GIỮ ẨM CH ĐỐI VỚI CÂY ĐIỀU
6. Kết quả thử nghiệm năm 2008:
6.1. Kết quả phân tích đất
Bảng 3: Hộ gia đình ông Nguyễn Hữu Trí ấp II - La Ngà huyện Định Quán có diện tích
thử nghiệm là 1,3 ha trên cây Điều ghép với nền Đất nâu vàng pha sỏi
STT Chỉ tiêu Đơn vị
Bảng 4: Hộ gia đình ông Trịnh Bá Thế ấp I – xã Phú Ngọc huyện Định Quán có diện tích
thử nghiệm 0,8 ha trên cây Điều ghép với nền Đất nâu vàng pha sỏi
STT Chỉ tiêu Đơn vị
Kết quả
Trước thử
nghiệm
Sau thử
nghiệm
1 Khả năng giữ ẩm của đất % 32,8 38,8
Trang 16
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CHẤT GIỮ ẨM CH ĐỐI VỚI CÂY ĐIỀU
2 Độ ẩm héo cây % 18,23 18,44
3 Độ chua của đất (pH) 4,33 4,94
4 Hàm lượng sắt (Fe) % 37,96 35,66
5 Hàm lượng nhôm (Al) % 8,47 7,52
6 Tổng vi sinh vật đất CFU/gram 2,64.10
6
4,34.10
6
7 Tổng các nấm trong đất CFU/gram 2,56.10
3
3,38.10
3
8 Nitơ tổng % 0,10 0,10
9 P
2
O
5
dễ tiêu mg/100g đất 2,11 2,21
10 K
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CHẤT GIỮ ẨM CH ĐỐI VỚI CÂY ĐIỀU
đất
10 K
2
O dễ tiêu
mg/100g
đất
3,59 3,74
Bảng 6: Hộ gia đình Mai Văn Lưu Ấp 6 – xã Phú Lợi huyện Định Quán tỉnh Đồng Nai
với diện tích thử nghiệm là 1,3 ha trên cây Điều ghép với nền đất nâu vàng pha sỏi
STT Chỉ tiêu Đơn vị
Kết quả
Trước thử
nghiệm
Sau thử
nghiệm
1 Khả năng giữ ẩm của đất % 35,8 37,6
2 Độ ẩm héo cây % 18,52 18,64
3 Độ chua của đất (pH) 5,42 5,76
4 Hàm lượng sắt (Fe) % 32,60 31,20
5 Hàm lượng nhôm (Al) % 6,84 6,25
6 Tổng vi sinh vật đất CFU/gram 2,82.10
6
4,73.10
6
7 Tổng các nấm trong đất CFU/gram 3,40.10
3
3,63.10
3
8 Nitơ tổng % 0,08 0,092
3
8 Nitơ tổng % 0,10 0,091
9 P
2
O
5
dễ tiêu
mg/100g
đất
7,12 7,53
10 K
2
O dễ tiêu
mg/100g
đất
1,61 2,17
Nhận xét:
- Kết quả phân tích đất đỏ pha sỏi và đất nâu vàng pha sỏi trước thử nghiệm cho
thấy đất có hàm lượng các nguyên tố dinh dưỡng kali dễ tiêu thấp, photpho dễ tiêu thấp,
hàm lượng nitơ tổng khá, tổng số vi sinh trong đất cao, hàm lượng sắt trong đất cao.
- Kết quả phân tích đất trước và sau khi bón chất giữ ẩm cho thấy: Chất giữ ẩm
làm tăng khả năng trữ ẩm của đất. Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất tăng do bón
chất giữ ẩm kết hợp với bón phân cho cây điều, cây chưa hấp thu hết chất dinh dưỡng nên
còn lưu lại trong đất. Hàm lượng các chất khoáng trong đất không thay đổi.
- Chất giữ ẩm chỉ tác động đến độ ẩm trong đất, làm tăng độ ẩm trong đất, không
làm thay đổi tính chất đất, không gây hại cho đất. Khi bón chất giữ ẩm vào đất làm tăng
độ ẩm trong đất nên lượng vi sinh vật trong đất cũng tăng.
Bảng 8: Hộ gia đình bà Huỳnh Thị Thu Ấp suối soong I – xã Phú Vinh huyện Định Quán
tỉnh Đồng Nai với diện tích thử nghiệm là 1,3 ha trên cây Điều ghép với nền đất nâu
bazan pha sỏi
6
7 Tổng các nấm trong đất CFU/gram 3,62.10
3
3,84.10
3
8 Nitơ tổng % 0,11 0,13
9 P
2
O
5
dễ tiêu mg/100g đất 7,02 7,86
10 K
2
O dễ tiêu mg/100g đất 1,67 2,38
Nhận xét:
- Kết quả phân tích đất gia đình bà Huỳnh Thị Thu trước thử nghiệm cho thấy đất
đỏ bazan có hàm lượng các nguyên tố dinh dưỡng kali dễ tiêu thấp, photpho dễ tiêu thấp,
hàm lượng nitơ tổng khá, tổng số vi sinh trong đất cao, hàm lượng sắt trong đất cao.
- Kết quả phân tích đất trước và sau khi bón chất giữ ẩm cho thấy: Chất giữ ẩm
làm tăng khả năng trữ ẩm của đất. Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất tăng do bón
chất giữ ẩm kết hợp với bón phân cho cây điều, cây chưa hấp thu hết chất dinh dưỡng nên
còn lưu lại trong đất. Hàm lượng các chất khoáng trong đất không thay đổi.
- Chất giữ ẩm chỉ tác động đến độ ẩm trong đất, làm tăng độ ẩm trong đất, không
làm thay đổi tính chất đất, không gây hại cho đất. Khi bón chất giữ ẩm vào đất làm tăng
độ ẩm trong đất nên lượng vi sinh vật trong đất cũng tăng.
- Hàm lượng sắt trong đất cao cần dùng các phượng pháp cải thiện đất để giảm tác
động của sắt lên cây trồng, nâng pH làm giảm tính chua của đất.
Trang 20
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CHẤT GIỮ ẨM CH ĐỐI VỚI CÂY ĐIỀU
6.2 Kết quả về thử nghiệm
L
1
T
2
551,67 683,0 647,33 700,00
L
2
T
2
563,33 743,0 656,00 707,66
L
3
T
2
557,00 789,5 662,33 703,33
L
4
T
2
561,33 800,0 653,00 701,00
L
1
T
3
563,67 725,0 651,33 705,00
L
2
T
3
550,33 772,0 655,67 719,00
3
: kéo dài thời gian tưới bằng 1,5 số ngày so với ô đối chứng
Năng suất
Bảng 10: kết quả năng suất của một số hộ trồng điều tại Định Quán
STT Chủ vườn Địa chỉ Năng suất (tấn/ha)
1 Nguyễn Đức Tình ấp Suối Son – Phú Túc 0,800
2 Cáp Nguyện ấp Suối Son – Phú Túc 0,900
3 Võ Văn Lâm ấp Suối Dzui – Túc Trưng 0,070
Trang 21
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CHẤT GIỮ ẨM CH ĐỐI VỚI CÂY ĐIỀU
4 Nguyễn Hữu Trí ấp Phú Quí 2 – La Ngà 0,800
5 Trịnh Bá Thế ấp 1 – Phú Ngọc 0,700
6 Phạm Anh Tuấn ấp 1 – Phú Ngọc 1,1
7 Đỗ Văn Quang ấp Hòa Thành – Ngọc Định 1,7
8
Nguyễn Xuân
Thanh
ấp 1 – Thanh Sơn 0,500
9 Huỳnh Thị Thu ấp Suối Soong 1 – Phú Vinh 0,650
10 Mai Văn Lưu ấp 6 – Phú Lợi 0,800
Nhận xét:
- Kết quả thu được về trọng lượng 100 hạt tại một số hộ gia đình không thấy rõ
sự khác biệt về trọng lượng hạt giữa ô thử nghiệm và ô đối chứng, do trong quá
trình thử nghiệm đang là mùa khô nhưng xuất hiện nhiều cơn mưa trái mùa, xảy
ra sương muối làm cho các vườn điều đang trong thời kỳ ra hoa bị khô, rụng
bông không kết trái được, ảnh hưởng đến kết quả thử nghiệm.
- Các ô thử nghiệm chất giữ ẩm với cùng hàm lượng bón L
i
T
1
Mùa khô 2008 - 2009 thời tiết tại Định Quán, Đồng Nai khá phức tạp: mưa trái
vụ nhiều và nắng nóng gay gắt làm ảnh hưởng mạnh đến một số loại cây trồng, trong
đó có cây điều. Khi cây điều bung bông đều gặp phải mưa trái vụ: đợt trổ bông đầu
Trang 22
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CHẤT GIỮ ẨM CH ĐỐI VỚI CÂY ĐIỀU
tiên (trước Tết Kỷ Sửu) đụng phải mưa kéo dài suốt mấy ngày làm bông bị trôi hết
phấn, hầu như không đậu trái, đợt bông thứ hai vào dịp gần rằm tháng giêng vừa qua
cũng gặp mưa, khiến bệnh thán thư hoành hành làm thui gần hết bông.
Tại hộ gia đình ông Lê Xuân Bàn, năng suất điều giữa ô thử nghiệm và ô đối
chứng không có sự khác biệt rõ ràng, khoảng 0,5 tấn/ha do thời tiết mùa khô năm 2009
khá phức tạp, gây mất mùa điều nên ảnh hưởng đến năng suất điều và kết quả thử
nghiệm chất giữ ẩm.
Đánh giá cảm quan: cây điều ở ô thử nghiệm có bón chất giữ ẩm xanh tốt hơn,
hạt to hơn, quá trình ra hoa kéo dài và nhiều hơn cây ở ô đối chứng. Sau khi thu hoạch
cho thấy cây ở ô thử nghiệm có bón chất giữ ẩm có khả năng hồi phục cây nhanh hơn.
Có nhiều lộc non và nhánh so với cây ở ô đối chứng.
Một số hình ảnh trong quá trình thử nghiệm:
Hình 1: Cây điều thử nghiệm chuẩn bị bón chất giữ ẩm (ngày 18/12/2008)
Trang 23
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CHẤT GIỮ ẨM CH ĐỐI VỚI CÂY ĐIỀU
Hình 2: Cây ô đối chứng (ngày 18/12/2008)
Nhận xét: Cây ở ô thử nghiệm trên vườn thử nghiệm có bón chất giữ ẩm và trên cây ở
ô đối chứng tại thời điểm chuẩn bị bón chất giữ ẩm là như nhau, có màu sắc, tán lá cây
đều phát triển như nhau.
Trang 24
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CHẤT GIỮ ẨM CH ĐỐI VỚI CÂY ĐIỀU
Hình 3: cây ở ô thử nghiệm (07/01/2009) Hình 4: cây điều ở ô đối chứng (7/01/2009)
Hình 5: Cây điều ô thử nghiệm (14/01/2009) Hình 6: Cây điều ô đối chứng (14/01/2009)