CHUYÊN đề ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG của CHẤT GIỮ ẩm CH đối với cây XOÀI tại HUYỆN ĐỊNH QUÁN, ĐỒNG NAI - Pdf 26

CHUYÊN ĐỀ: ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CỦA CHẤT GIỮ ẨM CH
ĐỐI VỚI CÂY XOÀI TẠI HUYỆN ĐỊNH QUÁN, ĐỒNG NAI.
1. CHẤT GIỮ ẨM:
Chất giữ ẩm CH là một loại polymer có trọng lượng phân tử cao, có khả năng
trương nở khi gặp nước nên có thể giữ được lượng nước lớn, không độc hại và dễ bị
phân hủy sinh học. Vì vậy, chất giữ ẩm được dùng trong nông nghiệp để giữ ẩm cho
những vùng đất khô hạn, đất cát hoặc trên đồi núi, nơi nước dễ trôi đi, cung cấp dần
nước cho cây trồng trong quá trình sinh trưởng và phát triển, giúp cây không bị thiếu
nước trong điều kiện khô hạn, giảm lượng nước tưới tiêu. Ngoài ra, chất giữ ẩm còn có
khả năng hút các chất dinh dưỡng khi bón phân và nhả dần ra cho cây trồng hấp thu,
hạn chế thất thoát chất dinh dưỡng khi trời mưa, giúp tiết kiệm phân bón, làm tăng
năng suất, giảm được ảnh hưởng tới môi trường.
Năm 2004, Viện Công nghệ Hóa học đã nghiên cứu thành công chất giữ ẩm CH
được điều chế dựa trên nền tảng ghép cellulose với acid acrylic. Chất giữ ẩm CH có
khả năng thay thế các chất giữ ẩm ngoại nhập do giá thành rẻ (nguyên liệu sử dụng là
cellulose từ các phế thải nông nghiệp như bã mía, mùn cưa…), thời gian sử dụng dài
(từ 2-3 năm), có độ hấp phụ nước cao. Vì vậy, CH có khả năng ứng dụng trong sản
xuất nông nghiệp, cung cấp nước cho cây trồng trong mùa khô hạn ở nước ta. Chất
giữ ẩm CH copolymer cellulose/acrylic đã được triển khai ứng dụng tại vùng đất bazan
ở Tây Nguyên trên cây Bắp, Bông, Cà phê (Công ty cà phê Chư Păh, công ty cà phê
Gia Lai, trung tâm nghiên cứu giống cây trồng – Sở Nông nghiệp và phát triển nông
thôn tỉnh Gia Lai). Khi sử dụng chất giữ ẩm, lượng nước tưới tiết kiệm từ 30-60% và
năng suất cây trồng tăng từ 5-15%, trong đó tại vùng đất khô hạn thiếu nước tại Công
ty cà phê Chư Păh năng suất tăng lên đến 2.5 lần.
Viện Công nghệ Hóa học đang thực hiện đề tài “Ứng dụng quy trình thử
nghiệm chất giữ ẩm CH cho cây trồng cạn trên địa bàn huyện Định Quán” nhằm tăng
năng suất sản xuất nông nghiệp, tiết kiệm nước tưới, giảm áp lực nước cho các trạm
bơm trên địa bàn huyện Định Quán, Đồng Nai khi mùa khô và hạn hán ngày càng kéo
dài. Trong chuyên đề này, chúng tôi trình bày về kết quả thử nghiệm, thu hoạch và
đánh giá khả năng ứng dụng của chất giữ ẩm CH đối với cây Xoài tại huyện Định
Quán, Đồng Nai.

Cửu Long như: Tiền Giang (trên 6.000ha, trong đó đang cho trái 4.000ha), Đồng Tháp, Vĩnh
Long, Cần Thơ, Các giống Xoài được trồng phổ biến nhất hiện nay là: Xoài Cát Hoà Lộc,
Xoài Bưởi, Xoài Cát Chu, Xoài Khiêu Xa Vơi, Xoài Hòn, xoài Châu, xoài Thanh, xoài
Thanh Ca dễ trồng cho trái ổn định, năng suất cao.
Tại huyện Định Quán, Đồng Nai, diện tích trồng xoài tăng nhanh từ 866 ha năm 2000
lên 3.170 ha năm 2006, trong đó, có 287 ha trồng mới, diện tích cho sản phẩm: 1.724 ha với
năng suất bình quân 77 tạ/ha, sản lượng 13.275 tấn. Doanh thu đạt 53.900.000đ/ha, lợi nhuận
bình quân: 40.000.000đ/ha. Giống xoài trồng trên địa bàn huyện chủ yếu là xoài ba mùa mưa
chiếm 90%, giá bán thấp từ 1.500 – 2.000 đồng/kg, nhưng năng suất cao 77 tạ/ha.
2
2.3 Kỹ thuật chăm sóc cây xoài tại huyện Định Quán:
 
Trồng đầu mùa mưa, tháng 5 – 7 dương lịch để có đủ nước tưới trong giai
đoạn đầu, nếu chủ động được nước tưới thì có thể trồng bất cứ lúc nào.
 :
Tùy giống và độ màu mỡ của đất, thường trồng khoảng cách 6 x 6 m, hoặc 8
x 9 m, trong đó ở vùng đất cao có thể trồng thưa, cây cho tán lớn và tuổi thọ cao hơn.
 
 Giai đoạn cây con:
- Sau khi trồng, 2 năm đầu bón phân 3 tháng/lần, mỗi lần 70-100g urê/gốc,
lượng phân tăng dần theo thời gian.
- Năm thứ 3 sử dụng phân NPK 16-16-8 với liều lượng 150-200g/gốc/lần
bón. Mỗi năm bón 4 lần. Nếu đất nặng nên trải thêm tro trấu.
- Năm thứ 4 cây cho trái và phát triển thêm cành, bón NPK 16-16-8 với
liều lượng 200-250g/gốc/lần bón. Mỗi năm bón 4 lần, lượng phân tăng nhanh dần hàng
năm. Khi bón nên tạo rãnh xung quanh với kích thước: sâu 10-15 cm, rộng 15-20 cm.
 Giai đoạn cây trưởng thành:
Phân bón là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến hiện tượng cho trái cách
năm của xoài. Sau năm cho năng suất cao, nếu thiếu phân và nước thì xoài sẽ ra hoa ít
và rụng nhiều vào năm sau. Vì vậy ở giai đoạn này lượng phân tối thiểu cần phải bón

sắc vỏ trái và tạo cho trái có hương vị thơm ngon.
- Để khắc phục hiện tượng cho trái cách năm, người ta gia tăng lượng
phân bón vào các năm trúng mùa giúp cây tích luỹ đủ dinh dưỡng cho năm sau. Ngược
lại, ở các năm thất mùa lượng phân bón được giảm lại để cây không cho quá nhiều trái
vào năm trúng mùa, vì trái nhiều có thể gây cho cây bị kiệt sức.
 Tưới tiêu: Trong thời kỳ cây còn nhỏ việc tưới nước có thể tiến hành
quanh năm nhằm cung cấp đủ nước cho các đợt lộc non hình thành và phát triển, đặc
biệt trong thời gian đầu sau khi trồng mới, việc tưới nước cần phải duy trì từ 3-4
ngày/lần. Cây xoài cần được tưới đủ nước khi nắng hạn để giúp cây con hấp thụ dinh
dưỡng tốt, ra đọt được liên tục, cần đảm bảo cung cấp đầy đủ nước cho cây ở giai đoạn
nuôi trái. Lượng nước, thời điểm và chu kỳ tưới cho cây xoài:
Tuổi cây (năm) Tháng tưới
Lượng nước tưới
(lít/gốc/tháng)
Chu kỳ tưới (ngày)
1 - 2
11 - 5
50 - 100 5 - 7
2 - 3 200 – 300 7 - 10
3 -5 300 – 400 10 – 15
3 THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH TRÊN CÂY BẮP NĂM 2008:
3.1 Các mô hình thử nghiệm:

Địa điểm: ấp 6, xã Suối Nho, huyện Định Quán.
Chủ hộ: Huỳnh Tín.
Giống trồng: giống xoài 3 mùa mưa.
Đất trồng: đất xám bạc màu.
Diện tích thử nghiệm: 1.3 ha
Năm trồng xoài: 2000
Thời gian bón chất giữ ẩm: 12/01/2008

Thời gian bón chất giữ ẩm: 25/11/2008
Kỹ thuật bón: chất giữ ẩm CH được bón theo rãnh hoặc hốc cây.
Mật độ cây: 6 x 8 m

Địa điểm: ấp3, xã La Ngà, huyện Định Quán.
Chủ hộ: Lê Minh Giang.
Giống trồng: giống xoài 3 mùa mưa.
Đất trồng: đất nâu vàng pha sỏi.
Diện tích thử nghiệm: 1.3 ha
Năm trồng xoài: 1999.
Thời gian bón chất giữ ẩm: 15/12/2007
Kỹ thuật bón: chất giữ ẩm CH được bón theo rãnh hoặc hốc cây.
Mật độ cây: 6 x 8 m
 
Địa điểm: ấp Hòa Thuận, xã Ngọc Định, huyện Định Quán.
Chủ hộ: Nguyễn Xuân Trường
Giống trồng: giống xoài cát Hòa Lộc.
Đất trồng: đất đen bazan pha sỏi.
5
Diện tích thử nghiệm: 0.3 ha
Năm trồng xoài: 1999.
Thời gian bón chất giữ ẩm: 16/01/2008
Kỹ thuật bón: chất giữ ẩm CH được bón theo rãnh hoặc hốc cây.
Mật độ cây: 10 x 10 m
!
Địa điểm: ấp Hòa Trung, xã Ngọc Định, huyện Định Quán.
Chủ hộ: Nguyễn Quang Trung
Giống trồng: giống xoài cát Hòa Lộc.
Đất trồng: đất đen bazan pha sỏi.
Diện tích thử nghiệm: 1 ha

1
T
1
6
3. Ô thử nghiệm 80g/cây: Tưới nước theo chu kỳ tưới bình thường L
2
T
1
4. Ô thử nghiệm 120g/cây: Tưới nước theo chu kỳ tưới bình thường L
3
T
1
5. Ô thử nghiệm 160g/cây:Tưới nước theo chu kỳ tưới bình thường L
4
T
1
6. Ô thử nghiệm 40g/cây: Tưới nước theo chu kỳ tưới bình thường. Lượng nước
tưới cho mỗi lần tưới bằng ½ lượng nước bình thường L
1
T
2
7. Ô thử nghiệm 80g/cây: Tưới nước theo chu kỳ tưới bình thường. Lượng nước
tưới cho mỗi lần tưới bằng ½ lượng nước bình thường L
2
T
2
8. Ô thử nghiệm 120g/cây: Tưới nước theo chu kỳ tưới bình thường. Lượng nước
tưới cho mỗi lần tưới bằng ½ lượng nước bình thường L
3
T

chất giữ ẩm không bị trồi lên lại trên mặt đất.
- Tưới nước cho vật liệu hút no nước nhằm đảm bảo khả hút và nhả nước ở
những lần tiếp theo.
- Liều lượng chất giữ ẩm cho cây tùy thuộc độ tuổi của cây và đường kính tán lá
cây.
- Chất giữ ẩm có hiệu quả tốt hơn đối với vườn cây có làm bồn tưới cho cây.
$%&'()*+,-./0'1234
- Tránh cuốc rãnh quá sâu làm đứt rễ hoặc tổn thương đến bộ rễ của cây, độ sâu
của rãnh tốt nhất từ 25 – 30 cm
- Bón chất giữ ẩm cách gốc khoản 2/3 bán kính tán lá nhằm tăng khả năng hút
nước của cây.
- Cần tưới nước cho chất giữ ẩm hút nước no trong lần đầu sau khi bón xuống đất
để đảm bảo thời gian sử dụng và khả năng hút và nhả nước ở những lần kế tiếp.
- Lượng chất giữ ẩm bón cần cân đối và theo nhu cầu của cây vì bón quá ít không
đảm bảo lượng ẩm trong đất, nếu bón với lượng quá nhiều làm tăng chi phí đầu
tư làm giảm hiệu quả kinh tế cây trồng.
7
- Chất giữ ẩm có thể trộn với các loại phân hữu cơ vi sinh, tro trấu, mùn cưa
trước khi bón nhằm làm tăng hiệu quả bón và khả năng giữ ẩm của chất giữ ẩm.
- Không nên trộn chất giữ ẩm chung với các loại phân bón vô cơ như NPK, lân,
super phosphat, ure… sẽ làm giảm khả năng hút nước và giữ ẩm của chất giữ
ẩm. Bón phân vô cơ trước hoặc sau vài ngày sử dụng chất giữ ẩm.
 Bón phân và tưới nước tại các mô hình thực nghiệm:
567/7839
Phân chuồng 6000 kg/ha; phân trùn quế (1000 kg/ha); NPK 150 kg/ha (giai
đoạn nuôi trái).
Xịt thuốc: do thu trái rải vụ nên xịt từ 25 – 35 lần, với các thuốc chủ yếu là
Amitta, Botrat, Antracol, Pylycur, Tilt, F95, Conpai, Cymethrin, rong biển, Dmida,
Zinet…
,:;-

sau đó dùng cất NH
3
từ dung dịch kiềm và
được hấp phụ vào một lượng H
3
BO
3
. Chuẩn độ NH
3
bằng dung dịch
chuẩn HCl với sự chỉ thị màu tashiro. Từ lượng HCl chuẩn độ, tính được
hàm lượng N tổng.
 Cân 1g mẫu đất cho vào bình Kjeldahl khô. Cho 10g K
2
SO
4
, 0,5g CuSO
4
và 1g FeSO
4
. Thêm vào 25ml H
2
SO
4
đặc, lắc nhẹ để mẫu thấm đều. Đậy
bình bằng một chiếc phễu nhỏ rồi đặt lên bếp đun, đun nhẹ 15 phút sau
đó đun mạnh đến sôi. Khi dung dịch có màu xanh nhạt trong suốt thì đun
8
tiếp 15 phút nữa rồi chuyển toàn bộ dung dịch vào bình đựng mức 100
ml, dùng nước cất tráng bình và lên thể tích đến vạch định mức.


=
Trong đó
- V
1
: thể tích (ml) HCl 0,1N chuẩn độ mẫu đất
- V
0
: thể tích (ml) HCl 0,1N chuẩn độ mẫu đất
- N: nồng độ đương lượng của HCl
- W: khối lượng (g) mẫu lấy phân tích
 Hàm lượng Photpho dễ tiêu: Phương pháp Oniani
 Nguyên lí: Sử dụng H
2
SO
4
0.1N làm chất chiết rút phosphorus dễ tiêu
trong đất. Sau đó dùng phương pháp hiện màu xanh molybdenium để
định lượng P trên máy so màu DR 2000.
 Tiến hành: Cân 5g đất như trên lắc với 100ml H
2
SO
4
0.1N trong erlen
250ml trong 1 phút rồi lọc qua giấy lọc. Đuổi bớt nước còn khoảng 15ml
cho vào bình định mức 25ml. Thêm vào 2ml (NH
4
)
6
Mo

5
/ml):
Phần trăm P
2
O
5
được tính:
%
P
2
O
5
=
a'
a
*
100
a’: khối lượng P
2
O
5
suy ra từ đường chuẩn
a: khối lượng mẫu đất
 Hàm lượng Kali dễ tiêu: đo trên máy quang phổ hấp thu nguyên tử AAS
Avanta GBC, Viện Công nghệ Hóa học.
 Tổng vi sinh vật trong đất: phương pháp đếm tế bào vi sinh vật trực tiếp
dưới kính hiển vi.
 Dùng thìa nhỏ đã vô trùng lấy 1g đất vào chén sứ đã khử trùng, sau đó
nghiền đất bằng chày cao su vô trùng. Chuẩn bị 2 bình tam giác, một
bình đựng 99 ml nước cất vô trùng và 1 bình không đã vô trùng. Lấy

C, sau 2 – 3 ngày đếm sơ bộ khuẩn
lạc của vi nấm.
 Số lượng nấm trong đất:
B =
B: số lượng CFU/g đất khô.
A: số lượng CFU đếm được.
DF: độ pha loãng.
W: khối lượng khô của 1g đất phân tích.
3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi đối với cây xoài:
- Trọng lượng trái.
- Năng suất cây xoài.
- Đánh giá so sánh cảm quan.
4 THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH TRÊN CÂY XOÀI NĂM 2009:
Năm 2009 chất giữ ẩm CH được bố trí thử nghiệm tại vườn xoài ông Huỳnh
Tín, ấp 5, xã Suối Nho, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai với hàm lượng sử dụng là 80
g/ cây và bón chất giữ ẩm xung quanh tán lá. Thử nghiệm được chia thành 2 ô nghiệm
thức có diện tích bằng nhau: ô đối chứng không bón chất giữ ẩm và ô thử nghiệm có
bón chất giữ ẩm với liều lượng 80 gam/cây. Giống xoài thử nghiệm là xoài 3 mùa
mưa.
11
5 KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM:
5.1 Kết quả phân tích đất:
Đất trồng cây xoài trước khi bón chất giữ ẩm và sau khi bón tại các mô hình
thử nghiệm được phân tích để đánh giá ảnh hưởng của chất giữ ẩm đối với môi trường
đất.
Bảng 1: Kết quả phân tích đất trước và sau thử nghiệm tại hộ gia đình anh
Huỳnh Tín, trên cây xoài với loại đất xám bạc màu
STT Chỉ tiêu Đơn vị
Kết quả
Trước thử

Kết quả phân tích đất trước và sau khi bón chất giữ ẩm cho thấy: Chất giữ ẩm
làm tăng khả năng trữ ẩm của đất, tăng độ ẩm cho đất, tăng lượng vi sinh vật trong đất.
Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất tăng do bón chất giữ ẩm kết hợp với bón
phân cho cây xoài, cây chưa hấp thu hết chất dinh dưỡng nên còn lưu lại trong đất.
Hàm lượng các chất khoáng trong đất không thay đổi.
12
Bảng 2: Kết quả phân tích đất trước và sau thử nghiệm tại hộ gia đình anh
Trần Văn Nam, trên cây xoài với loại đất đỏ pha sỏi cơm.
STT Chỉ tiêu Đơn vị Kết quả phân
tích đất trước
thử nghiệm
Kết quả phân
tích đất sau
thử nghiệm
1 Khả năng giữ ẩm của đất % 38,81 42,26
2 Độ ẩm héo cây % 8,64 8,56
3 Độ chua của đất (pH) 5,13 5,64
4 Hàm lượng sắt (Fe
2
O
3
) % 15,22 15,29
5 Hàm lượng nhôm (Al
2
O
3
) % 10,62 10,69
6 Tổng vi sinh vật đất CFU/gram 3,42.10
6
3,98.10

6
4,18.10
6
7 Tổng các nấm trong đất CFU/gram 3,20.10
3
3,52.10
3
8 Nitơ tổng % 0,11 0,13
9 Photpho dễ tiêu mg/100g 7,02 7,56
10 Kali dễ tiêu mg/100g 1,67 2,19
Bảng 4: Kết quả phân tích đất trước và sau thử nghiệm tại hộ gia đình bà
Vũ Thị Trâm Phương, trên cây xoài với loại đất nâu vàng pha sỏi.
STT Chỉ tiêu Đơn vị
Kết quả phân
tích đất trước
thử nghiệm
Kết quả phân
tích đất sau
thử nghiệm
13
1 Khả năng giữ ẩm của đất % 38,58 41,28
2 Độ ẩm héo cây % 8,65 8,62
3 Độ chua của đất (pH) 5,41 5,69
4 Hàm lượng sắt (Fe
2
O
3
) % 8,89 8,91
5 Hàm lượng nhôm (Al
2

) % 8,79 8,81
5 Hàm lượng nhôm (Al
2
O
3
) % 10,57 10,61
6 Tổng vi sinh vật đất CFU/gram 2,79.10
6
3,93.10
6
7 Tổng các nấm trong đất CFU/gram 3,62.10
3
3,88.10
3
8 Nitơ tổng % 0,11 0,14
9 Photpho dễ tiêu mg/100g 2,17 2,35
10 Kali dễ tiêu mg/100g 3,59 3,73
Nhận xét:
- Kết quả phân tích đất đỏ pha sỏi và đất nâu vàng pha sỏi trước thử nghiệm cho
thấy đất có hàm lượng các nguyên tố dinh dưỡng kali dễ tiêu thấp, photpho dễ tiêu
thấp, hàm lượng nitơ tổng khá, tổng số vi sinh trong đất cao, hàm lượng sắt trong đất
cao.
14
- Kết quả phân tích đất trước và sau khi bón chất giữ ẩm cho thấy: Chất giữ ẩm
làm tăng khả năng trữ ẩm của đất. Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất tăng do
bón chất giữ ẩm kết hợp với bón phân cho cây xoài, cây chưa hấp thu hết chất dinh
dưỡng nên còn lưu lại trong đất. Hàm lượng các chất khoáng trong đất không thay đổi.
- Chất giữ ẩm chỉ tác động đến độ ẩm trong đất, làm tăng độ ẩm trong đất,
không làm thay đổi tính chất đất, không gây hại cho đất. Khi bón chất giữ ẩm vào đất
làm tăng độ ẩm trong đất nên lượng vi sinh vật trong đất cũng tăng.

3,30.10
3
8 Nitơ tổng % 0,12 0,14
9 Photpho dễ tiêu mg/100g 3,57 3,98
10 Kali dễ tiêu mg/100g 12,11 12,38
Bảng 7: Kết quả phân tích đất trước và sau thử nghiệm tại hộ gia đình anh
Nguyễn Quang Trung, trên cây xoài với loại đất đen bazan pha sỏi.
STT Chỉ tiêu Đơn vị
Kết quả
Trước thử
nghiệm
Sau thử
nghiệm
1 Khả năng giữ ẩm của đất % 36,62 38,58
2 Độ ẩm héo cây % 8,38 8,47
15
3 Độ chua của đất (pH) 5,57 5,68
4 Hàm lượng sắt (Fe
2
O
3
) % 12,51 12,57
5 Hàm lượng nhôm (Al
2
O) % 10,08 10,11
6 Tổng vi sinh vật đất CFU/gram 3,78.10
6
3,82.10
6
7 Tổng các nấm trong đất CFU/gram 3,01.10

1 Khả năng giữ ẩm của đất % 35,8 39,4
2 Độ ẩm héo cây % 8,50 8,68
3 Độ chua của đất (pH) 5,87 5,64
4 Hàm lượng sắt (Fe) % 28,74 29,55
5 Hàm lượng nhôm (Al) % 6,32 7,52
16
6 Tổng vi sinh vật đất CFU/gram 3,64.10
6
3,88.10
6
7 Tổng các nấm trong đất CFU/gram 3,64.10
3
3,52.10
3
8 Nitơ tổng % 0,11 0,11
9 Photpho dễ tiêu % 1,48 . 10
-4
3,55 .10
-4
10 Kali dễ tiêu % 0,019 0,036
<=>?
- Kết quả phân tích đất gia đình ông Nguyễn Trước cho thấy đất có hàm lượng
các nguyên tố dinh dưỡng kali cao, photpho thấp, nitơ tổng cao, số vi sinh trong đất
trung bình, hàm lượng sắt trong đất khá cao.
- Chất giữ ẩm không gây ảnh hưởng xấu đến tính chất của đất.
Bảng 9: Kết quả phân tích đất trước và sau thử nghiệm tại hộ gia đình anh
Nguyễn Văn Quân, trên cây xoài với loại đất sét pha cát.
STT Chỉ tiêu Đơn vị
Kết quả
Trước thử

5.2 Kết quả thử nghiệm chất giữ ẩm trên cây xoài năm 2008:
5.2.1 Tình hình khí hậu tại Định Quán:
Diễn biến lượng mưa trong quá trình thử nghiệm chất giữ ẩm trong năm 2008
STT Ngày mưa Thời gian mưa (h)
1 16/01/2008 2
2 17/01/2008 2
3 24/01/2008 3
4 03/02 /2008 3
5 13/02 /2008 3
6 23/02/2008 2
7 25/02/2009 1,5
8 05/03/2008 2
9 06/03/2008 3,5
10 08/03/2008 2
11 09/03/2008 3
12 11/03/2008 1
13 19/03/2008 2
14 21 – 23 /03/ 2008 8
15 06/04/2008 1,5
16 17/04/2008 2
17 25/04/2008 3
18 26/04/2008 2
19 28/04/2008 2
20 30/04/2008 3
21 01/05/2009 3
Thời điểm thử nghiệm chất giữ ẩm cho cây xoài vào mùa khô, như hàng năm
thì đây là giai đoạn nắng gắt kéo dài, nhiệt độ trung bình trên 31
o
C trở lên, gây thiếu
nước nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây xoài. Sử dụng

1
325.66 345 311.66 348.33
T
2
315.66 324.66 329 339.66
T
3
331.66 324.66 307.33 339.66
5/04
Đối chứng 275
T
1
250 263.3 236 268.66
T
2
269.33 261.66 261.56 274.33
T
3
271.66 268.66 265 275
12/04
Đối chứng 195
T
1
143.33 146.66 188.33 151.66
T
2
170 178.33 191.66 185
T
3
183.33 130 163.33 183.33

L
3
L
4
Lần
1
Đối chứng 445.0
T
1
426.67 453.33 463.33 466.66
T
2
446.66 461.66 446.67 441.66
T
3
455.66 451.66 443.33 433.33
Lần
2
Đối chứng 364.0
T
1
381.66 378.33 368.33 358.66
T
2
358.33 357.33 366.66 346.66
T
3
350.00 363.00 350.66 383.33
Lần
3

355.44 343.77 348.79 361.66
 Mô hình 3: hộ gia đình ông Nguyễn Thành Nghiệp, xoài được thu hoạch 3 lần
Bảng 12: Trọng lượng trái trung bình tại gia đình ông Nguyễn Thành Nghiệp
Ô thử nghiệm
Trọng lượng trái trung bình (g)
L
1
L
2
L
3
L
4
Lần
1
Đối chứng 344.0
T
1
328.33 328.33 335.0 321.66
T
2
311.65 325.66 326.66 340.0
20
T
3
336.66 343.33 320.0 334.0
Lần
2
Đối chứng 243.33
T

4
Đối chứng 243.78
T
1
260.77 257.22 256.11 250.77
T
2
248.32 236.55 245.00 249.00
T
3
239.99 249.89 231.33 239.11
 Mô hình: hộ gia đình ông Nguyễn Quang Trung và Nguyễn Xuân Trường.
Bảng 13: Trọng lượng trái trung bình tại gia đình ông Nguyễn Quang Trung –
Nguyễn Xuân Trường
Ô thử nghiệm
Trọng lượng trái trung bình (g)
L
1
L
2
L
3
L
4
Đối chứng 479.75
T
1
489 489.5 487.5 500
T
2

T
2
293.33 338.33 338.33 355.0
T
3
319.0 318.33 381.66 321.66
Đối chứng
348.33
Lần
3
T
1
258.33 235.0 248.33 255.0
T
2
235.0 245.0 250.0 231.66
T
3
261.66 239.0 245.0 254.0
Đối chứng
260.0
• Trọng lượng trái trung bình của cả 3 lần thu hoạch xoài:
Ô thử nghiệm
Trọng lượng trái trung bình (g)
L
1
L
2
L
3

Nguyễn Quang Trung
Nguyễn Thành Nghiệp 71,4
Trần Văn Nam 150,0
Vũ Thị Trâm Phương 200
22
Nguyễn Trước 160
Lê Minh Giang 250
Nhận xét:
- Đánh giá cảm quan: màu sắc lá cây giữa ô thử nghiệm có bón chất giữ
ẩm và ô đối chứng không bón chất giữ ẩm không có sự khác biệt nhiều ở hầu hết các
hộ trong giai đoạn cây đang cho trái. Điều này là do xuất hiện những cơn mưa trái mùa
vào mùa khô và do tâm lý của các hộ gia đình, khi thấy đất vừa khô thì tưới nước,
không tuân theo chu kỳ tưới đã đề ra. Giai đoạn sau thu hoạch cây ở các ô thử nghiệm
có bón chất giữ ẩm cho thấy cây có màu sắc lá xanh đậm hơn, nhiều lá hơn so với ô
đối chứng, khả năng phục hồi cây nhanh hơn so với ô đối chứng.
- Hàm lượng sử dụng chất giữ ẩm thích hợp từ 80 – 120 g/gốc.
- Thời điểm bón chất giữ ẩm là thời kỳ cây xoài đang ra hoa, kết quả nên
nhu cầu nước tưới cho cây cao. Tuy nhiên, do chất giữ ẩm được bón với cách bón cuốc
hốc nên không đủ diện tích để chất giữ ẩm trương nở hết khả năng và thời gian thử
nghiệm có mưa nhiều nên kết quả thử nghiệm (trọng lượng trái, năng suất) không biểu
hiện rõ.
5.3 Kết quả thử nghiệm chất giữ ẩm trên cây xoài năm 2009:
Chất giữ ẩm CH được thử nghiệm trên vườn xoài gia đình ông Huỳnh Tín, trên
giống xoài 3 mùa mưa với 2 ô thử nghiệm: ô bón chất giữ ẩm 80g/cây và ô đối chứng.
Diễn biến khí hậu trong năm 2009: mưa kéo dài từ cuối năm 2008 đến tháng 1
năm 2009. Từ giữa tháng 1 năm 2009 đến đầu tháng 2 năm 2009 không có mưa nhưng
thời tiết không nắng nhiều và không gây khô hạn nặng cho các vườn cây trên địa bàn
huyện Định Quán. Tại địa bàn xã Suối Nho, thời tiết diễn biến phức tạp, mưa thường
xuyên xảy ra, trung bình 10 ngày có 1 lần mưa kéo dài từ 1 – 3h. Do đó, khí hậu trong
năm 2009 cũng đã tác động lớn đến quá trình thử nghiệm.

như thời kỳ ra hoa.
Hình 4: Cây xoài ô thử nghiệm ngày
21/04/2009
Hình 6: Cây xoài ô thử nghiệm ngày
21/04/2009
Hình 5: Cây xoài ô đối chứng ngày
21/04/2009
Hình 7: Cây xoài ô đối chứng ngày
21/04/2009
Hình 9: Cây xoài ô đối chứng ngày
21/04/2009
Hình 8: Cây xoài ô đối chứng ngày
21/04/2009
Trong quá trình thu hoạch do xoài thu hoạch nhiều lần và bán ngay cho người
thu mua, không tách được năng suất giữa ô có bón chất giữ ẩm và ô đối chứng, nên chỉ
thu được kết quả năng suất của cả vườn (diện tích 1.3 ha) là 24 tấn (18,46 tấn/ha).
 KẾT LUẬN:
Từ quá trình thử nghiệm trong năm 2008 và 2009:
- Kết quả phân tích đất trước và sau khi thử nghiệm cho thấy chất giữ ẩm không
gây độc hại cho người, cây trồng, đất và môi trường. Chất giữ ẩm chỉ làm tăng độ ẩm
trong đất giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt hơn trong mùa khô, kéo dài thời gian
giữa 2 lần tưới, tiết kiệm được nước tưới, giảm chi phí tưới nước.
- Chất giữ ẩm làm tăng lượng ẩm trong đất, giúp cây xoài sinh trưởng tốt hơn khi
gặp hạn, hỗ trợ cho quá trình canh tác trên cây xoài để giảm lượng nước tưới trong thời
gian nuôi trái và thời kỳ cây phục hồi sau khi thu hoạch xong trái, vì trong quá trình
nuôi trái nếu cung cấp lượng nước không đủ cho cây nuôi trái sẽ làm giảm khả năng
phát triển của trái xoài và làm rụng trái.
- Chất giữ ẩm góp phần làm ổn định độ ẩm trong đất, giúp cây trong quá trình
nuôi trái không bị sốc nước khi tưới do khi tưới nước nếu tăng lượng ẩm trong đất đột
ngột sẽ làm cây bị sốc nước gây ra rụng trái non nhiều.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status