Đề tài: Đánh giá khả năng ứng phó và điều hòa không khí đồi với biến đổi khí hậu của rừng
ngập mặn Huyện Cần Giờ
PHẦN 1 - TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1.1 KHÁI NIỆM VÀ NGUYÊN NHÂN
- “Biến đổi khí hậu và “những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu”, là những biến đổi
trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành
phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý
hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của
con người”.(Theo công ước chung của LHQ về biến đổi khí hậu).
- Biến đổi khí hậu Trái Đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển,
sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân
tạo trong một giai đoạn nhất định từ tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm. Sự biển đổi có
thế là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một
mức trung bình. Sự biến đổi khí hậu có thế giới hạn trong một vùng nhất định hay có thế
xuất hiện trên toàn Địa Cầu. (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia).
NGUYÊN NHÂN CHÍNH
Do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá
mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền
khác. Nhằm hạn chế sự biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto nhằm hạn chế và ổn định sáu
loại khí nhà kính chủ yếu bao gồm: CO
2
, CH
4
, N
2
O, HFCs, PFCs và SF
6
.
- CO
2
phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khí nhà
hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác.
- Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của
thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển.
Một số hiện tượng của biến đổi khí hậu :
Hiệu ứng nhà kính;
Mưa axit;
Thủng tầng ô zôn;
Cháy rừng;
Lũ lụt;
Hạn hán;
Sa mạc hóa;
Hiện tượng sương khói.
Nhóm 13 – Môn học : QLMTNC Page 2
Đề tài: Đánh giá khả năng ứng phó và điều hòa không khí đồi với biến đổi khí hậu của rừng
ngập mặn Huyện Cần Giờ
Hình 1.1 : Thủng tầng ozone (trái) và hạn hán (phải) – tham khảo.
Hình 1.2 : Lũ lụt (trái) và hiện tượng sương khói (phải) – tham khảo.
1.3 ẢNH HƯỞNG CỦA BĐKH LÊN ĐDSH TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
Qua những nghiên cứu của các nhà khoa học đã chứng minh rằng thành phần của khí
quyển đang thay đổi chẳng hạn như việc tăng nồng độ một số khí nhà kính như CO2 và CH4
cũng như là sự thay đổi khí hậu của trái đất (nhiệt độ, lượng mưa, mực nước biển, băng tan,
và một số sự kiện khí hậu nghiêm trọng tại một số khu vực bao gồm: nắng nóng kéo dài, mùa
mưa nghiêm trọng và hạn hán). Những thay đổi này sẽ gây nên những ảnh hưởng tiềm tàng
hoặc nghiêm trọng lên hệ sinh thái.
Chẳng hạn, nồng độ CO2 trong không khí sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ và hiệu
quả của cả việc quang hợp và sử dụng nước, và nó có khả năng ảnh hưởng đến năng suất cây
trồng và những quá trình sinh thái khác. Yếu tố khí hậu cũng ảnh hưởng năng suất cây trồng,
vật nuôi và chức năng sinh thái khác.
- Vùng phân bố của nhiều loài cây, côn trùng, chim và cá đã chuyển dịch lên phía bắc và
lên vùng cao hơn;
- Nhiều loài thực vật nở hoa sớm hơn, nhiều loài chim đã bắt đầu mùa di cư sớm hơn,
nhiều loài động vật đã vào mùa sinh sản sớm hơn, nhiều loài côn trùng đã xuất hiện sớm
hơn ở Bắc bác cầu.
- San hô bị chết trắng ngày càng nhiều.
Chúng ta cũng đã biết rằng các loài sinh vật, muốn phát triển một cách bình thường
cần phải có một môi trường sống phù hợp, trong một sinh cảnh tương đối ổn định: về nhiệt
độ, độ ẩm, ánh sáng, đất đai, thức ăn, nguồn nước, v.v và cộng đồng các loài sinh vật trong
sinh cảnh đó. Chỉ một trong những yếu tố trên của môi trường sống bị biến đổi, sự phát triển
của loài sinh vật đó sẽ bị ảnh hưởng nặng hay nhẹ, thậm chí có thể làm cho loài đó bị diệt
vong, tùy thuộc vào mức độ biến đổi nhiều hay ít.
Theo dự báo thì rồi đây, nếu không có biện pháp hữu hiệu để giảm bớt khí thải nhà kính, nhiệt
độ mặt đất sẽ tăng lên 1,8 độ C đến 6,4 độ C vào năm 2100, lượng mưa sẽ tăng lên 5-10%,
băng ở hai cực và các núi cao sẽ tan rã nhiều hơn, và do nhiệt độ nước biển ấm lên, rồi bị dãn
nở mà mức nước biển sẽ dâng lên khoảng 70-100 cm và tất nhiên nhiều biến đổi về khí hậu,
Nhóm 13 – Môn học : QLMTNC Page 4
Đề tài: Đánh giá khả năng ứng phó và điều hòa không khí đồi với biến đổi khí hậu của rừng
ngập mặn Huyện Cần Giờ
thiên tai theo đó sẽ diễn ra với mức độ khó lường trước được cả về tần số và mức độ. Nước
biển dâng lên nhiều hay ít, còn tuỳ thuộc vào điều kiện của từng vùng, sẽ gây nên xói mòn bờ
biển, ngập lụt vùng ven bờ, làm suy thoái đất ngập nước, nước mặn xâm nhập giết chết các
loài thực vật.
Tại những vùng mà biến đổi khí hậu làm tăng cường độ mưa thì các dòng nước mưa
sẽ làm tăng xói mòn đất, lũ lụt, sụt lở đất, và có thể gây ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng
của các thuỷ vực, làm ô nhiễm nguồn nước. Tất cả những hiện tượng đó đều ảnh hưởng đến
các loài sinh vật và tài nguyên sinh vật, làm cho nhiều hệ sinh thái bị suy thoái, gây khó khăn
cho sự phát triển kinh tế và xã hội, nhất là tại các nước nghèo mà cuộc sống đa số người dân
còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên.
Hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu lên đa dạng
đồng bằng Sông Cửu Long và đồng bằng Sông Hồng, các vùng dọc bờ biển và các hệ sinh
thái rừng cả nước.
- Hai vùng đồng bằng và ven biển nước ta, trong đó có rừng ngập mặn và hệ thống đất
ngập nước rất giàu có về các loài sinh vật là những hệ sinh thái rất nhạy cảm, dễ bị tổn
thương. 1) Mức nước biển dâng lên cùng với cường độ của bão tố, thay đổi thành phần
của trầm tích, độ mặn và mức độ ô nhiễm của nước sẽ đe dọa đến sự suy thoái và sống
còn của rừng ngập mặn và các loài sinh vật rất đa dạng trong đó. 2) Khi mức nước biển
dâng lên cao, khoảng một nửa trong số 68 khu đất ngập nước có tầm quan trọng mức
quốc gia, sẽ bị ảnh hưởng nặng; nước mặn sẽ xâm nhập sâu và nội địa, giết chết nhiều
loài động và thực vật nước ngọt của hệ sinh thái quan trong này và ảnh hưởng đến nguồn
nước ngọt cho sinh hoạt và hệ thống trồng trọt của nhiều vùng. 3) 36 khu bảo tồn, trong
đó có 8 vườn quốc gia, 11 khu dự trữ thiên nhiên sẽ nằm trong khu vực bị ngập theo kết
quả đánh giá của ICEM [theo kết quả đánh giá của ICEM].
- Hệ sinh thái biển sẽ bị tổn thương. Các rặng san hô là nơi sinh sống của nhiều loài hải sản
quan trọng và nhiều loài sinh vật biển khác, là lá chắn chống xói mòn bờ biển và bảo vệ
rừng ngập mặn, sẽ bị suy thoái do nhiệt độ nước biển tăng và đồng thời mưa nhiều làm
cho nước bị ô nhiễm phù sa và có thể cả các hoá chất nông nghiệp nữa từ cửa sông đổ ra.
- Nước ta có đa dạng sinh học cao, nhưng đang bị suy thoái nghiêm trọng do nhiều nguyên
nhân khác nhau. Biến đổi khí hậu, cùng với các hệ quả của nó như lũ lụt, hạn hán, cháy
rừng, xói mòn và sụt lở đất sẽ thúc đẩy cho sự suy thoái đa dạng sinh học nhanh hơn,
trầm trong hơn, nhất là những hệ sinh thái rừng nhiệt đới không còn nguyên vẹn và các
loài đang nguy cấp với số lượng cá thể ít.
Nhóm 13 – Môn học : QLMTNC Page 6
Đề tài: Đánh giá khả năng ứng phó và điều hòa không khí đồi với biến đổi khí hậu của rừng
ngập mặn Huyện Cần Giờ
PHẦN 2 - ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ỨNG PHÓ,
ĐIỀU HÒA KHÔNG KHÍ CỦA RỪNG NGẬP
MẶN CẦN GIỜ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
2.1 GIÁ TRỊ VÀ LỢI ÍCH CỦA ĐA DẠNG SINH HỌC
2.1.1. Đa dạng sinh học là gì?
sinh học. Tuy nhiên, lưu ý rằng, không chỉ các loài hoang giã mới có sự đa dạng cao về loài.
Trong thời gian dài, con người tác động, bảo vệ làng mạc như đất canh tác, rừng, đồng cỏ.
Nhiều nơi trên thế giới, các thành phố phát triển và nền công nghiệp đang phát triển cũng như
sự biến động dân số nhanh chóng đe dọa/làm ảnh hưởng tới cảnh quan cũng như hiểu biết và
phong tục của người dân.
Hình 2-1: Bản đồ về đa dạng sinh học chỉ ra một số khu vực trên Thế giới có sự đa dạng sinh
học cao hơn những khu vực khác. Màu sắc thể hiện số lượng loài trên 10.000km2
(Nguồn: Barthlott và cộng sự. 1999)
2.1.2. Giá trị và lợi ích của đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học có giá trị riêng của nó. Hầu hết các nền văn hóa trên thế giới đều tôn thờ giá
trị tự nhiên, đất đai và cuộc sống trong truyền thống, tín ngưỡng và tâm linh, trong giáo dục,
sức khỏe và các hoạt động mang tính giải trí của chúng. Nhưng nhân loại cũng phụ thuộc vào
đa dạng sinh học, những hàng hóa và dịch vụ mà nó cung cấp.
Hàng hóa
Các loài động vật, thực vật khác nhau hình thành nên chức năng của hệ sinh thái như rừng,
nước ngọt, đất hay đại dương. Hệ sinh thái có đa dạng sinh học cao không chỉ cung cấp hàng
hóa như thực phẩm, gỗ và nhiên liệu sinh học mà còn y tế và nước sạch cho con người. Sự đa
dạng sinh học cũng là nguồn cho trồng giống mới và nuôi giống con mới vì hầu hết các giống
cây trồng và động vật nuôi có nguồn gốc từ cuộc sống hoang dã. Tổng hợp/ Chiết xuất từ các
loại động thực vật và vi sinh vật thiên nhiên là cơ sở sản xuất ra thuốc/ dược liệu chữa bênh
cho con người.
Dịch vụ
Dịch vụ cung cấp sự đa dạng sinh học (có thể gọi là dịch vụ hệ sinh thái) được cho là miễn
phí và không thể thiếu được. Chẳng hạn như: vi sinh vật cung cấp dinh dưỡng cho sự phát
triển tươi tốt của cây cối tạo ra oxy; mưa và gió hình thành đất từ tảng đá; thực vật và các loài
sinh vật khác giúp thực thể dày hơn theo thời gian. Đại dương chiếm ¾ diện tích của hành
tinh. Nó không chỉ chứa lượng nước lớn mà gồm hệ động thực vật hình thành nên trái đất. Đại
Nhóm 13 – Môn học : QLMTNC Page 8
Đề tài: Đánh giá khả năng ứng phó và điều hòa không khí đồi với biến đổi khí hậu của rừng
40’00’’ Vĩ độ Bắc; là một trong năm huyện ngoại thành của Tp HCM, nằm về hướng
Đông Nam, cách trung tâm thành phố khoảng 50 Km theo đường chim bay; có hơn 20 Km bờ
biển chạy dài theo hướng Tây Nam – Đông Bắc; có các của sông lớn của các con sông Lòng
Tàu, Cái Mép, Gò Gia, Thị Vải, Soài Rạp, Đồng Tranh. Chiều dài từ Đông sang Tây là 30
Km, từ Bắc xuống Nam là 35 Km.
Nhóm 13 – Môn học : QLMTNC Page 9
Đề tài: Đánh giá khả năng ứng phó và điều hòa không khí đồi với biến đổi khí hậu của rừng
ngập mặn Huyện Cần Giờ
Tổng diện tích tự nhiên của huyện Cần Giờ là 70.421,58 ha, chiếm 1/3 diện tích thành
phố, là huyện duy nhất ven biển của thành phố có các mặt giáp giới như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Nhà Bè – Tp HCM và huyện Nhơn Trạch – tỉnh Đồng Nai;
- Phía Nam giáp biển Đông;
- Phía Đông giáp huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai;
- Phía Tây giáp huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An và tỉnh Tiền Giang;
Khí hậu
Cần Giờ có hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến
tháng 4 năm sau. Nhiệt độ tương đối cao và ổn định, trung bình khoảng 25
0
C – 29
0
C, cao
tuyệt đối là 14,4
0
C. Độ ẩm trung bình từ 73% - 85%, độ bốc hơi từ 3,5 – 6 mm/ngày, trung
bình 5 mm/ngày, cao nhất 8 mm/ngày. Lượng mưa trung bìn hàng năm từ 1000 mm – 1402
mm, trong mùa mưa lượng mưa thấp nhất khoảng 100mm và nhiều nhất 240mm. Mùa mưa
hướng gió chính là Tây – Tây Nam, mùa khô hướng gió Bắc – Đông Bắc.
Địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng
Địa hình trũng thấp, lầy: độ cao phổ biến từ 1-2m phân bố phía Bắc huyện Cần Giờ.
Trầm tích cấu tạo nên các bề mặt có nhiều nguồn gốc khác nhau, chủ yếu là các trầm tích trẻ
chua đến trung tính (pH 6,5 – 7) ở độ sâu trên 100 cm. Hàm lượng chất hữu cơ giàu (2,5 – 3,5
%), đạm tổng số tương đối cao (0,2%).
+ Đất phèn: tập trung ở phía Bắc huyện Cần Giờ, được hình thành trên trầm tích đầm
lầy biển (đầm mặn). Phần lớn nằm ở tầng sinh phèn và tầng phèn nông, hàm lượng lưu huỳnh,
Fe
2+
, Fe
3+
, Al
3+
rất cao, có độ pH thấp, hàm lượng Cl
-
và các muối hòa tan rất cao. Đất phèn
thường được dùng cho việc trồng và bảo vệ rừng ngập mặn.
- Tài nguyên nước: phong phú nhưng khan hiếm nước ngọt phục vụ cho sinh hoạt và
sản xuất. Diện tích mặt nước lên đến gần 23.000 ha chiếm 32,6% tổng diện tích đất tự nhiên
của huyện bị nhiễm mặn quanh năm.
- Tài nguyên rừng: tổng diện tích đất rừng chiếm khoảng 46,9% diện tích đất rừng tự
nhiên. Hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ được chính phủ công nhận là rừng phòng hộ vào
năm 2000, được tổ chức UNESCO công nhận là “khu dự trữ sinh quyển” thế giới đầu tiên ở
Việt Nam.
+ Thực vật: rừng ngập mặn Cần Giờ có trên 150 loài, trở thành nguồn cung cấp thức
ăn và nơi cư trú cho rất nhiều loài thủy sinh, cá và các động vật có xương sống khác. Các loài
thực vật điển hình bao gồm bần trắng, mắm trắng, các quần hợp đước đuôi – bần trắng cùng
xu ổi, trang, đưng…và các loài nước lợ như bần chua, ô rô, dừa lá, ráng… Thảm cỏ biển với
các loài ưu thế Halophyla sp., Halodule sp., Thalassia sp.
Nhóm 13 – Môn học : QLMTNC Page 11
Đề tài: Đánh giá khả năng ứng phó và điều hòa không khí đồi với biến đổi khí hậu của rừng
ngập mặn Huyện Cần Giờ
+ Động vật: khu hệ động vật thủy sinh không xương sống với trên 700 loài, khu hệ cá
nhiên; 18.937,46 ha rừng trồng; 2639,89 ha là đất lâm nghiệp (Quyết định số 3122/QĐ-
UBND ngày 15/7/2010 của Ủy ban nhân dân Tp HCM)
Hệ sinh thái RNM Cần Giờ được coi là hệ sinh thái đa dạng có năng suất sinh học cao
nhất, đặc biệt là nguồn lợi thủy sản. Bởi nguồn thức ăn đầu tiên phong phú và đa dạng cung
cấp cho các loài thủy sản là xác hưu cơ thực vật dạng hạt, hoặc còn gọi là mùn bã hữu cơ, đó
là sản phẩm của quá trình phân hủy xác thực vật bao gồm lá, cành, chồi, rễ… của các cây
RNM. Theo thống kê thì RNM Cần Giờ có 36 loài thuộc 21 họ động vật thân mềm, trong đó
25 loài chân bụng và 11 loài thân mềm 2 mảnh vỏ sống tập trung ở bãi bồi. Diện tích rừng và
Nhóm 13 – Môn học : QLMTNC Page 12
Đề tài: Đánh giá khả năng ứng phó và điều hòa không khí đồi với biến đổi khí hậu của rừng
ngập mặn Huyện Cần Giờ
đất rừng: 37.162,53 ha. Theo thống kê, hiện nay có khoảng 1.000 hộ dân đang sinh sống và
sản xuất trong rừng phòng hộ. Trong đó, nghêu là một nguồn lợi lớn của Cần Giờ. Hiện nay ở
Cần Giờ đã có 2.000 ha bãi bồi nuôi nghêu, 2.000 hộ chuyên nuôi nghêu và 1.000 hộ phục vụ
nuôi nghêu (thu hoạch, vận chuyển), năng suất đạt 20 – 25 tấn/ha.
2.2.2.1 Hệ sinh thái thực vật - Tài nguyên rừng
Theo BQL rừng phòng hộ Cần Giờ, hiện nay, tổng diện tích rừng tự nhiên và rừng
trồng của khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ là 33.170 ha, chủ yếu là cây đước (Rhizophora
Apiculata) chiếm 70 % (23.219,07 ha) diện tích cả khu rừng. Thảm thực vật RNM được chia
thành loại cây RNM thật sự và loại cây chịu mặn gia nhập vào RNM. Loại cây RNM thực sự
gồm những loại cây giới hạn chung quanh vùng nước lợ và mặn, trong khi đó cây chịu mặn
gia nhập RNM là những cây thuộc vùng dọc theo bờ biển hoặc thực vật vùng đất liền nhưng
có thể đôi khi tìm thấy tại RNM. Tuy vậy, nhiều nhà phân loại thường gặp khó khăn để phân
biệt loài cây thực sự và loài cây gia nhập, do đó sự phân loại chỉ có tính tương đối.
Hiện đã thống kê được 212 loài thực vật thuộc 89 họ (số liệu được cung cấp bởi BQL
rừng phòng hộ Cần Giờ), trong đó quần thể cây đước đôi chiếm ưu thế:
- Loài cây ngập mặn chủ yếu: 33 loài thuộc 15 họ;
- Loài cây tham gia: 53 loài thuộc 29 họ;
- Loài cây nhập cư: 126 loài thuộc 45 họ.
Sự phân bố các quần xã tự nhiên tuân theo quy luật nhất định và phụ thuộc chặt chẽ
muối bị bỏ hoang.
+ Quần hệ Dà – Cóc – Gia – Lức: phân bố trên đất cao có nền đất sét hơi chặt, có thể
xen với tráng, tra lâm vồ.
+ Quần hệ Mắm đen – Chà là – Gõ biển – Quao nước: phân bố vùng đất cao dọc theo
sông (chủ yếu có ở nông trường Đỗ Hòa, nông trường của tổng đội TNXP, nông trường Q5).
+ Quần hệ Mắm quăn: phân bố ở vùng đất chặt ngập triều cao, xuất hiện tự nhiên ngay
trên ruộng muối bỏ hoang.
+ Quần hệ Chà là: phân bố trên vùng đất cao sét chặt, ít ngập triều, mọc thuần loại
hoặc hỗn giao với ráng, lức, tra lâm vồ…
+ Quần hệ ráng: phân bố khá rộng trên vùng đất từ nước mặn sang nước lợ, nơi đất
cao ngập khi triều cường.
Nhóm 13 – Môn học : QLMTNC Page 14
Đề tài: Đánh giá khả năng ứng phó và điều hòa không khí đồi với biến đổi khí hậu của rừng
ngập mặn Huyện Cần Giờ
+ Quần hệ Dừa nước: phân bố dọc theo kênh rạch có độ mặn thấp (nước lợ), cây
thường phát triển mạnh nơi bùn chặt theo sông. Quần xã này mọc thuần loại hay hỗn giao với
mái dầm, Ô rô, Lác, Cói…
Ngoài ra, một số quần xã được trồng với diện tích không lớn lắm tạo thành các thể
khảm thuần loại như quần xã Dà vôi, Dà quánh, Vẹt đen, Xu ổi, Gõ nước…, một số quần xã
thực vật nhập cư như quần xã Bạch đàn, Phi lao, Keo lá tràm và các dạng cỏ thoái hóa.
Theo nghiên cứu khảo sát ở 30 ô tiêu chuẩn về đa dạng họ thực vật của Thạc sỹ
Nguyễn Thị Kiều Nương và Tiến Sỹ Viên Ngọc Nam thuộc bộ môn Quản lý tài nguyên rừng,
Khoa Lâm nghiệp, trường đại học Nông Lâm TpHCM, RNM Cần Giờ bao gồm vùng đất cao,
vùng triều và vùng ngập nước. Thực vật RNM Cần Giờ rất đa dạng và phong phú, bao gồm
những loài cây rừng ngập mặn thực sự, những loài chịu mặn gia nhập và những loài trên vùng
đất cao.
Theo kết quả cho thấy có 36 loài thuộc 22 họ. Trong số 22 họ thực vật tại khu vực
nghiên cứu, họ nhiều nhất là họ Đước (Rhizophoraceae) gồm 7 loài. Các họ còn lại chỉ có từ 1
đến 2 loài.
Có 2 loài ở RNM Cần Giờ có tên trong Sách đỏ Việt Nam (1996) là chùm lé và cóc đỏ
Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Đức Đạt (1997), Viên Ngọc Nam (1993) và Phan
Nguyên Hồng (1996) thì thàn phần loài động vật RNM Cần Giờ như sau:
- Có trên 130 loài tảo thuộc 3 ngành;
- Trên 70 loài động vật không xương sống;
- Trên 139 loài cá nước lợ, nước mặn…
Mặc dù môi trường RNM không thuận lợi cho các loài động vật sống trên cạn như các
rừng vùng cao, nhưng do có nhiều thức ăn nên trước đây khu hệ động vật có xương sống ở
cạn trong RNM cũng đa dạng và phong phú. Có thể kể các loài thú lớn như cọp, nai, heo
rừng; thú nhỏ như khỉ, rái cá, các loài mèo, chồn, chim, nhím, tê tê… ở đây còn có tập đoàn
chim nước, bồ nông, các loài già đẫy, diệc, giang sen, cốc… có số lượng lớn. Bò sát có: cá
sấu hoa cà, kỳ đà nước, trăn, nhiều loại rắn, rùa biển… (hiện nay không còn thấy cọp, nai, cá
sấu hoa cà xuất hiện trong môi trường tự nhiên cũng như thông tin về 3 loài này).
Các công trình nghiên cứu đã xác định được 9 loài lưỡng thê, 31 loài bò sát; trên 150
loài chim thuộc 47 họ, 17 bộ (trong đó có 51 loài chim nước và 79 loài không phải chim
nước) sống trong nhiều sinh cảnh khác nhau; thú có 19 loài thuộc 13 học, 7 bộ. Trong đó có
các loài quý hiếm như rái cá thường (Lutralutra), rái cá vuốt bé (Aouyx cinerea), mèo cá
(Felis viverria), mèo rừng (Felis bengalensi); bồ nông chân xanh – chàng bè (Peiecaunus
philippensis), cò lạo Ấn Độ - Nhan sen (Lepptopilos javanicus), cò lạo xám (Myeteria
cinerea), Choắt lớn móng vàng (Tringaguttif), ác là (Pica pica).
Các loài giáp xác như cua, tôm sống dọc theo kênh rạch để tìm nguồn thức ăn, trong
số chúng có những loài có giá trị kinh tế cao cho cuộc sống của cộng đồng cư dân của vùng
cửa sông ven biển như: cua (Scylla serrata), các loài tôm biển (Penasus indicus, P.
merguiensis, P. monodon) và tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii).
Vùng cửa sông RNM Cần Giờ có trên 137 loài cá thuộc 39 họ và 13 bộ. Chúng là
những loại cá sống ở vùng ven biển cửa sông có nồng độ muối thấp. Những loài cá sống ở
vùng nước lợ thường sinh sản ở ngoài biển và lấy môi trường cửa sông để sinh sống, là đối
Nhóm 13 – Môn học : QLMTNC Page 16
Đề tài: Đánh giá khả năng ứng phó và điều hòa không khí đồi với biến đổi khí hậu của rừng
ngập mặn Huyện Cần Giờ
tượng khai thác ven bờ của ngư dân. Trong số chúng có những loài có giá trị kinh tế cao như
Sau 0,25 0,3 0,25 0,29 0,3 0,3 0,3 0,25 0,24
Hình : Biểu đồ thể hiện độ sóng ở trước và sau rừng trang ở xã Bàng La, Đồ Sơn (cơn
bão số 2 ngày 31/07/2005)
Bảng : Độ cao sóng ở trước và sau rừng trang ở xã Bàng La, Đồ Sơn (cơn bão số 7
ngày 27/09/2005)
STT 08:00 08:30 09:30 10:00 11:00 11:30 12:00 12:30
Trước 1 1,1 1,2 1,1 1,3 1,32 1,25 1,39
Sau 0,1 0,13 0,19 0,19 0,18 0,2 0,19 0,2
Nhóm 13 – Môn học : QLMTNC Page 18
Đề tài: Đánh giá khả năng ứng phó và điều hòa không khí đồi với biến đổi khí hậu của rừng
ngập mặn Huyện Cần Giờ
Hình : Biểu đồ thể hiện độ sóng ở trước và sau rừng trang ở xã Bàng La, Đồ Sơn (cơn
bão số 7 ngày 27/09/2005)
*Nhận xét:
Từ những ghi nhận từ 2 cơn bão đổ bộ vào Việt Nam khi đi qua rừng ngập mặn
ta thấy độ cao của sóng đã giảm đi đáng kể, trung bình đã giảm đi gần 82%, Như vậy
rừng ngập mặn có tác dụng rất lớn trong việc giảm sức gió và cường độ sóng lớn khi
có bão lớn. Khi rừng ngập mặn tự nhiên được bảo vệ hoặc các rừng trồng đủ rộng để
tạo thành những “bức tường xanh” vững chắc, những loài cây ngập mặn với thân cây
và tầng tán dày có tác dụng to lớn trong việc làm giảm gió mạnh và sóng. Hệ thống rễ
chằng chịt trên mặt đất có khả năng làm giảm lực tác động của các đợt sóng, nhờ đó
bảo vệ bờ biển và chân đê khỏi bị xói lở do triều cường và bão.
2.3.2 Rừng ngập mặn hạn chế tác hại của sóng thần:
Sau đợt sóng thần (26/12/2004), một số nhà khoa học như: Y.Mazda (2006),
G.Sriskanthan (2006) và một số tổ chức quốc tế như IUCN (2005) đều đánh cao vai
trò quan trọng của rừng ngập mặn trong việc giảm nhẹ lực tác động của sóng và bảo vệ
dân cư cũng như hạ tầng cơ sở ở vùng ven biển. Rừng ngập mặn có thể làm giảm 50-
75% chiều cao của sóng và 90% năng lượng của sóng lớn. Rừng ngập mặn có khả
năng chống lại sự tàn phá của sóng thần và bão lớn nhờ 2 phương thức khác nhau. Khi
năng lượng sóng không quá lớn, quần xã các loài cây ngập mặn có thể đứng vững
Đề tài: Đánh giá khả năng ứng phó và điều hòa không khí đồi với biến đổi khí hậu của rừng
ngập mặn Huyện Cần Giờ
kitin có trong xác thực vật, động vật và một số hợp chất phức tạp chư cacboxin,
methyl xenlulozơ (CMC), các chất lighnoxenlulozơ ở các mức độ khác nhau và
khoáng hóa thành các chất này làm thức ăn cho hệ sinh vật nhờ khả năng sinh các
enzym ngoại bào mạnh như xenlulozo, amylaza, proteinaza, kitinaza… Các hợp chất
photpho khó tan cũng được một số nấm sợi phân giải. Kết quả nghiên cứu của Mai Thị
Hằng và Nguyễn Văn Diễn (2006) cho thấy một số nấm sợi trong nước, đất rừng ngập
mặn có hoạt tính kháng sinh mạnh thuộc các chi Paecilomyces, Trichoderma,
pencillium, Cephloporium có tác dụng ức chế vi sinh vật gây bệnh cho động thực vật,
làm sạch môi trường nước biển đặc biệt là những mầm bệnh trong môi trường ô nhiễm
do ngập lụt đổ ra cửa sông, ven biển.
2. 3.4 Rừng ngập mặn hạn chế xâm nhập mặn và làm chậm dòng chảy
Mực nước biển càng cao thì lũ lụt do triều, nước dâng và lũ thượng nguồn gây
ra càng lớn. Đây là mối đe dọa lớn nhất đối với các vùng nông nghiệp ven biển, đất
thấp, đất trũng. Hiện tượng “nước vật” do mực nước dâng cao ở hạ nguồng cũng làm
gia tăng ngập lụt do lũ thượng nguồ. Điều đó có nghĩa là lũ sẽ đến sớm hơn, thoát
chậm hơn, thời gian ngập lụt dài hơn và mực nước lũ cao hơn. Điều này có ý nghĩa
một số vùng đất sẽ chìm liên tục dưới mặt nước hoặc có thời gian chìm ngập quá dài
nên không phù hợp cho canh tác.
Tác động gián tiếp của nước biển dâng là xâm nhập mặn nước mặt và nước
ngầm. Xâm nhập mặn cùng với lũ lụt cũng làm biến đổi hệ sinh thái ven biển. rừng
ngập mặn có tác dụng rất lớn trong việc hạn chế xâm nhập mặn của nước biển, rừng là
nơi dự trữ mạch nước ngầm, tăng diện tích bãi bồi, hạn chế khả năng xâm thực của
nước biển khi các nguồn nước ngọt bổ sung không đủ để rửa mặn các khu vực đã bị
nhiễm mặn trên. Và nhờ có hệ rễ dày đặc trên mặt đất như hệ rễ chồng của các loài
đước (Rhizophora sp.), rễ hình đầu gối của các loài vẹt (Bruguiera sp.), rễ thở hình
chông của các loài mắm (Avicenia sp.) và bần (Sonneratia sp.) cản sóng và tích lũy
phù sa cùng mùn bã thực vật tại chỗ nên chúng có tác dụng làm chậm dòng chảy và
thích nghi với mực nước biển dâng (Hồng và cộng sự 2007).
thái rừng. Kết hợp với nghiên cứu rút mẫu thực nghiệm, phân tích hóa học lượng C
lưu giữ trong thực vật thân gỗ trên mặt đất với mô hình hóa toán học đã được các nhà
khoa học nghiên cứu. Từ đó dự đoán và lượng hóa năng lực hấp thụ CO
2
cho từng
trạng thái rừng.
Rừng ngập mặn Cần Giờ được khôi phục từ những năm sau chiến tranh, đến
nay khu rừng này đã và đang đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho người dân địa
phương. Bên cạch việc đóng vai trò là rừng phòng hộ, khu du lịch sinh thái, nghỉ
dưỡng, học tập, nghiên cứu khoa học và những lợi ích trực tiếp mang lại từ rừng Cần
Giờ thì việc điều tiết và lọc sạch nguồn nước, chóng xói mòn, bảo tồn đa dạng sinh
học, hấp thụ CO
2
là những tiềm năng không thể xem nhẹ. Chính vì thế, cần nghiên cứu
dịch vụ môi trường rừng cho hệ sinh thái này gồm có khả năng hấp thụ CO
2
làm cơ sở
cho việc xác định giá trị thương mại cho rừng đước, nhằm tính mức chi trả cho dịch vụ
môi trường rừng tại huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh trong tương lai.
Từ nghiên cứu khả năng hấp thụ CO
2
của rừng đước 28-32 tuổi ở Cần Giờ của
tiến sĩ Viên Ngọc Nam, khả năng hấp thụ CO
2
của rừng ngập mặn Cần Giờ là rất lớn
và giá trị kinh tế cho việc mua bán phát thải của rừng cũng cần được chú trọng trong
tương lai. Đề tài xác định lượng CO
2
hấp thụ ở tuổi 28-32 của rừng đước đôi, xác định
lượng CO
hấp thụ của từng bộ phận đước trồng tại Cần Giờ
như sau (năm 2009):
Phương pháp co dạng chung là: CO
2
= a.D
1,3
b
với 3,2 cm < D
1,3
< 30m
Trong đó: Tùy từng bộ phận cậy đước, hệ số a và b lần lượt là:
Bảng : Hệ số xác định CO
2
hấp thụ của từng bộ phận cây đước.
Bộ phận trước Hệ số a Hệ số b
Thân 0,5538 2,2675
Cành 0.0343 2,3792
Lá 0,0160 2,0678
Rễ 0,2017 2,4817
Tổng 0,6171 2,2896
Từ tổng lượng (CO
2tổng
) tính toán được lượng CO
2
rừng đước hấp thụ trên diện tích
1ha.
*Khả năng hấp thụ CO
2
của cá thể đước:
Qua tính toán cho thấy tỉ lệ CO
không khác biệt giữa các tuổi 28-32.
*Khả năng hấp thụ CO
2
của quần thể đước:
Từ kết quả tính toán lượng CO
2
hấp thụ của từng bộ phận cây đước đôi cho thấy
lượng hấp thụ của bộ phận thân trên quần thể (CO
2
th
qth
) chiếm 10.494,29 ± 1.318,77
tấn/ha, tiếp đến là cành (CO
2
ca
qth
) chiếm 885,91 ± 114,52 tấn/ha, rễ trên mặt đất
(CO
2
re
qth
) chiếm 745,23 ± 98,86 tấn/ha và thấp nhất là lá (CO
2
la
qth
) chiếm 306,45 ±
39,12 tấn/ha.
Như vậy lượng CO
2
theo các bộ phận cảu quần thể hấp thu theo thứ tự như sau:
qth
(tấn/ha)
CO
2
re
qth
(tấn/ha)
CO
2
la
qth
(tấn/ha)
CO
2
tổng
qth
(tấn/ha)
28
1 2250 510,97 42,75 35,65 14,89 604,25
2 1800 264,81 21,83 17,96 7,63 312,23
3 2500 370,94 30,40 24,87 10,66 436,87
4 1600 142,90 11,49 9,24 4,03 167,65
5 1950 471,14 39,72 33,38 13,75 557,99
6 2300 621,29 52,88 44,82 18,19 737,18
29 7 2600 429,56 35,47 29,24 14,40 506,67
Nhóm 13 – Môn học : QLMTNC Page 24
Đề tài: Đánh giá khả năng ứng phó và điều hòa không khí đồi với biến đổi khí hậu của rừng
ngập mặn Huyện Cần Giờ
TUỔI OTC
MẬT ĐỘ
12 25500 453,98 37,52 30,95 13,13 535,58
30
13 1600 240,90 19,96 16,50 6,96 284,32
14 2850 664,01 55,56 45,34 19,36 785,27
15 2250 659,48 55,81 47,03 19,34 781,65
16 260 552,53 46,25 38,60 16,08 653,46
17 1650 521,73 44,54 37,85 15,32 619,45
18 2700 559,14 46,71 38,90 16,26 661,01
31
19 2250 681,52 57,71 48,65 20,00 807,88
20 3150 728,58 61,88 52,38 21,26 846,10
21 2050 295,35 24,26 19,90 8,49 348,00
22 1750 467,90 40,08 34,19 13,71 555,89
23 1700 321,20 26,80 22,30 9,23 379,61
24 150 267,92 22,34 18,59 7,77 316,62
32
25 1500 551,41 47,27 40,32 16,23 655,24
26 2150 669,91 57,23 48,67 19,66 795,46
27 1550 601,47 52,01 44,71 17,72 715,91
28 2850 725,85 61,42 51,77 21,21 860,25
29 1600 737,74 63,91 55,03 21,79 878,46
30 1850 493,99 41,70 35,07 14,46 585,22
Nhóm 13 – Môn học : QLMTNC Page 25