CHUYÊN ĐỀ: ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CỦA CHẤT GIỮ ẨM CH
ĐỐI VỚI CÂY BẮP TẠI HUYỆN ĐỊNH QUÁN, ĐỒNG NAI.
1. CHẤT GIỮ ẨM:
Chất giữ ẩm CH là một loại polymer có trọng lượng phân tử cao, có khả năng
trương nở khi gặp nước nên có thể giữ được lượng nước lớn, không độc hại và dễ bị
phân hủy sinh học. Vì vậy, chất giữ ẩm được dùng trong nông nghiệp để giữ ẩm cho
những vùng đất khô hạn, đất cát hoặc trên đồi núi, nơi nước dễ trôi đi, cung cấp dần
nước cho cây trồng trong quá trình sinh trưởng và phát triển, giúp cây không bị thiếu
nước trong điều kiện khô hạn, giảm lượng nước tưới tiêu. Ngoài ra, chất giữ ẩm còn có
khả năng hút các chất dinh dưỡng khi bón phân và nhả dần ra cho cây trồng hấp thu,
hạn chế thất thoát chất dinh dưỡng khi trời mưa, giúp tiết kiệm phân bón, làm tăng
năng suất, giảm được ảnh hưởng tới môi trường.
Năm 2004, Viện Công nghệ Hóa học đã nghiên cứu thành công chất giữ ẩm CH
được điều chế dựa trên nền tảng ghép cellulose với acid acrylic. Chất giữ ẩm CH có
khả năng thay thế các chất giữ ẩm ngoại nhập do giá thành rẻ (nguyên liệu sử dụng là
cellulose từ các phế thải nông nghiệp như bã mía, mùn cưa…), thời gian sử dụng dài
(từ 2-3 năm), có độ hấp phụ nước cao. Vì vậy, CH có khả năng ứng dụng trong sản
xuất nông nghiệp, cung cấp nước cho cây trồng trong mùa khô hạn ở nước ta. Chất
giữ ẩm CH copolymer cellulose/acrylic đã được triển khai ứng dụng tại vùng đất bazan
ở Tây Nguyên trên cây Bắp, Bông, Cà phê (Công ty cà phê Chư Păh, công ty cà phê
Gia Lai, trung tâm nghiên cứu giống cây trồng – Sở Nông nghiệp và phát triển nông
thôn tỉnh Gia Lai). Khi sử dụng chất giữ ẩm, lượng nước tưới tiết kiệm từ 30-60% và
năng suất cây trồng tăng từ 5-15%, trong đó tại vùng đất khô hạn thiếu nước tại Công
ty cà phê Chư Păh năng suất tăng lên đến 2.5 lần.
Viện Công nghệ Hóa học đang thực hiện đề tài “Ứng dụng quy trình thử
nghiệm chất giữ ẩm CH cho cây trồng cạn trên địa bàn huyện Định Quán” nhằm tăng
năng suất sản xuất nông nghiệp, tiết kiệm nước tưới, giảm áp lực nước cho các trạm
bơm trên địa bàn huyện Định Quán, Đồng Nai khi mùa khô và hạn hán ngày càng kéo
dài. Trong chuyên đề này, chúng tôi trình bày về kết quả thử nghiệm, thu hoạch và
1
đánh giá khả năng ứng dụng của chất giữ ẩm CH đối với cây Bắp tại huyện Định
(Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai)…Trong đó, Đồng Nai là tỉnh có diện tích trồng bắp
lớn của cả nước, hàng năm gieo trồng khoảng 68.000ha, tập trung chủ yếu ở các huyện
Cẩm Mỹ (14.000ha), Định Quán (13.000ha), Xuân Lộc (12.000ha) và được trồng rải
2
rác ở các huyện trong toàn tỉnh. Năng suất bình quân từ 5-6 tấn/ha, cá biệt có hộ nông
dân ở huyện Xuân Lộc đã đạt năng suất từ 10-12tấn/ha.
Cây bắp được đánh giá là loại cây dễ trồng, có hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều
loại cây trồng khác, ít bị dịch hại nguy hiểm, phù hợp với điều kiện khí hậu đất đai của
Đồng Nai, lại trồng được 3 vụ trong năm. Tại các khu vực trồng bắp tập trung như
huyện Định Quán, Cẩm Mỹ, Xuân Lộc, nông dân thường chia quy trình canh tác bắp
thành 2 vụ: vụ một sẽ chủ yếu là canh tác cây bắp và sang vụ hai, tuỳ theo từng hộ và
từng ấp, từng xã sẽ có sự luân canh khác nhau, nơi thì tiếp tục trồng bắp, nơi thì
chuyển sang trồng đậu, nơi trồng bông vải hoặc những cây ngắn ngày khác.
2.3 Kỹ thuật chăm sóc cây bắp tại huyện Định Quán:
Thời vụ: cây bắp thường được gieo trồng với 3 vụ chính.
- Vụ hè thu: gieo tháng 4 – 5 dương lịch, thu hoạch cuối tháng 7 đầu tháng
8, vụ này thường hay gặp hạn đầu vụ, nhưng giai đoạn sau rất thuận lợi cho cây bắp
sinh trưởng và phát triển nên năng suất đạt khá cao.
- Vụ mùa: gieo tháng 7 - 8 dương lịch, thu hoạch cuối tháng 10 – 11, vụ
này đầu vụ thường mưa nhiều, ẩm độ rất lớn nên cây bắp yếu. Vì vậy, trong vụ này
cần tập trung trồng sớm hay chọn cơ cấu giống ngắn ngày để tránh hạn cuối vụ.
- Vụ đông xuân: gieo từ tháng 11 đến tháng 12 dương lịch, vụ này nhiệt
độ rất thuận lợi cho cây bắp sinh trưởng và phát triển nên cây bắp đạt năng suất rất
cao. Tuy nhiên, cần gieo đúng thời vụ, nếu gieo trễ cây bắp trổ cờ vào thời điểm nhiệt
độ quá cao làm chết hạt phân, bắp sẽ không có hạt.
Cơ cấu mùa vụ:
Nếu trồng bắp liên tục nhiều vụ trên một diện tích thì sâu bệnh phát triển
mạnh, làm đất nghèo đất. Vì vậy, cần phải trồng luân canh, xen canh trên một diện tích
đất trồng, tùy theo cơ cấu mùa vụ của mỗi vùng để xen canh thích hợp.
- Mô hình 1: vụ hè thu trồng bắp xen đậu xanh, đậu nành; vụ mùa trồng bắp xen đậu
3 THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH TRÊN CÂY BẮP NĂM 2008:
3.1 Các mô hình thử nghiệm:
Mô hình 1:
Địa điểm: ấp 3, xã Suối Nho, huyện Định Quán.
Chủ hộ: Vũ Văn Định.
Giống trồng: giống bắp B-06.
Đất trồng: đất đen bazan.
Diện tích thử nghiệm: 0.8 ha
Năm trồng bắp: 2007
4
Thời gian bón chất giữ ẩm: đầu vụ đông xuân (9/12/2007).
Kỹ thuật bón: chất giữ ẩm CH được bón theo hàng bắp.
Mật độ cây: 70 x 30 x 20 cm
Mô hình 2:
Địa điểm: ấp 3, xã Suối Nho, huyện Định Quán.
Chủ hộ: Vũ Văn Năng.
Giống trồng: giống bắp B-06.
Đất trồng: đất đen bazan.
Diện tích thử nghiệm: 0.2 ha
Năm trồng bắp: 2007
Thời gian bón chất giữ ẩm: đầu vụ đông xuân (19/12/2007)
Kỹ thuật bón: chất giữ ẩm CH được bón theo hàng bắp.
Mật độ cây: 75 x 30 x 20 cm
Mô hình 3:
Địa điểm: ấp 3, xã Suối Nho, huyện Định Quán.
Chủ hộ: Phạm Văn Dũng.
Giống trồng: giống bắp B-06.
Đất trồng: đất đen bazan.
Diện tích thử nghiệm: 0.3 ha
Năm trồng bắp: 2007
4
T
1
5. Ô thử nghiệm 2(g)/m
2
: Tưới nước theo chu kỳ tưới bình thường. Lượng nước
tưới cho mỗi lần tưới bằng ½ lượng nước bình thường L
1
T
2
6. Ô thử nghiệm 3(g)/m
2
: Tưới nước theo chu kỳ tưới bình thường. Lượng nước
tưới cho mỗi lần tưới bằng ½ lượng nước bình thường L
2
T
2
7. Ô thử nghiệm 4(g)/m
2
: Tưới nước theo chu kỳ tưới bình thường. Lượng nước
tưới cho mỗi lần tưới bằng ½ lượng nước bình thường L
3
T
2
8. Ô thử nghiệm 5(g)/m
2
: Tưới nước theo chu kỳ tưới bình thường. Lượng nước
tưới cho mỗi lần tưới bằng ½ lượng nước bình thường L
4
T
3
T
3
2. Ô thử nghiệm 4(g)/m
2
: Lượng nước tưới bằng với lượng nước tưới ở ô đối
chứng. Thời gian tưới lập lại bằng 1,3 thời gian ô đối chứng L
4
T
3
3. Ô đối chứng 0(g)/m
2
: Tưới nước theo chu kỳ, theo nhu cầu nước tưới của cây
trồng.
3.3 Kỹ thuật bón chất giữ ẩm:
- Tạo 1 rãnh dọc theo hàng bắp sau khi gieo hạt 10 -15 ngày. Nếu trồng theo
phương pháp hàng kép thì tạo rãnh bón chất giữ ẩm giữa hai hàng với kích thước rãnh:
chiều ngang từ 15 – 20cm và chiều sâu từ 10 – 20 cm.
- Bón chất giữ ẩm xuống rãnh, lấp đất kín nhằm đảm bảo chất giữ ẩm khi bón
vào đất không bị trồi lên mặt đất do sự hút nước và trương nở của chất giữ ẩm.
- Tưới nước cho ngập cây, cho vật liệu hút no nước nhằm đảm bảo khả năng hút
và nhả nước ở những lần tiếp theo.
- Tạo rãnh bón chất giữ ẩm trong quá trình làm đất, bón chất giữ ẩm cùng với
phân hữu cơ vi sinh, sau đó gieo hạt, lấp đất và tưới nước.
- So với cách bón chất giữ ẩm 1 thì cách bón chất giữ ẩm này tiết kiệm được
nhân công, tăng khả năng sử dụng phân bón hữu cơ trong quá trình làm đất.
!"#$%&
- Bón chất giữ ẩm sau khi gieo, thao tác cần cẩn thận, tránh làm tổn thương rễ
2
, NPK 50 kg/2000 m
2
, Lân Lâm
Thao 50 kg/2000 m
2
.
Lần 3 (ngày 03/02/2008): urea 40 kg/2000 m
2
, SA 50 kg/2000 m
2
, Kali 50
kg/2000 m
2
.
Mô hình 3:
Lần 1 (ngày 27/12/2007): urea 20 kg/3000 m
2
, lân 50 kg/3000 m
2
Lần 2 (ngày 27/01/2008): urea 62 kg/3000 m
2
Lần 3 (ngày 15/02/2008): SA 30 kg/3000 m
2
.
Tưới tiêu:
Chu kỳ tưới: T
1
= 5 tuần/lần, T
2
4,
sau đó cất NH
3
từ dung dịch kiềm và được
hấp phụ vào một lượng H
3
BO
3
. Chuẩn độ NH
3
bằng dung dịch chuẩn
HCl với sự chỉ thị màu tashiro. Từ lượng HCl chuẩn độ, tính được hàm
lượng N tổng.
Cân 1g mẫu đất cho vào bình Kjeldahl khô. Cho vào 10g K
2
SO
4
, 0,5g
CuSO
4
và 1g FeSO
4
. Thêm 25ml H
2
SO
4
đặc, lắc nhẹ để mẫu thấm đều.
Đậy bình bằng một chiếc phễu nhỏ rồi đặt lên bếp đun, đun nhẹ 15 phút
sau đó đun mạnh đến sôi. Khi dung dịch có màu xanh nhạt trong suốt thì
đun tiếp 15 phút nữa rồi chuyển toàn bộ dung dịch vào bình đựng mức
10014
01
−
=
Trong đó
- V
1
: thể tích (ml) HCl 0,1N chuẩn độ mẫu đất
- V
0
: thể tích (ml) HCl 0,1N chuẩn độ mẫu đất
- N: nồng độ đương lượng của HCl
- W: khối lượng (g) mẫu lấy phân tích
Hàm lượng Photpho dễ tiêu: Phương pháp Oniani
Nguyên lý: Sử dụng H
2
SO
4
0.1N làm chất chiết rút phosphorus dễ tiêu
trong đất. Sau đó dùng phương pháp hiện màu xanh molybdenium để
định lượng P trên máy so màu DR 2000.
Tiến hành: Cân 5g đất như trên lắc với 100ml H
2
SO
4
0.1N trong erlen
250ml trong 1 phút rồi lọc qua giấy lọc. Đuổi bớt nước còn khoảng 15ml
cho vào bình định mức 25ml. Thêm vào 2ml (NH
4
)
O
5
/ml).
10
Phần trăm P
2
O
5
được tính:
%
P
2
O
5
=
a'
a
*
100
a’: khối lượng P
2
O
5
suy ra từ đường chuẩn
a: khối lượng mẫu đất
Hàm lượng Kali dễ tiêu: đo trên máy quang phổ hấp thu nguyên tử AAS
Avanta GBC, Viện Công nghệ Hóa học.
Tổng vi sinh vật trong đất: phương pháp đếm tế bào vi sinh vật trực tiếp
dưới kính hiển vi.
Dùng thìa nhỏ đã vô trùng lấy 1g đất vào chén sứ đã khử trùng, sau đó
Nuôi trong tủ ấm ở nhiệt độ 28 – 30
o
C, sau 2 – 3 ngày đếm sơ bộ khuẩn
lạc của vi nấm.
Số lượng nấm trong đất:
B =
B: số lượng CFU/g đất khô.
A: số lượng CFU đếm được.
DF: độ pha loãng.
W: khối lượng khô của 1g đất phân tích.
3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi đối với cây bắp:
- Trọng lượng trái.
- Chiều cao cây.
- Tốc độ ra lá.
- Chiều dài trái
- Số hàng/trái, số hạt/hàng.
- Năng suất cây bắp.
- Đánh giá so sánh cảm quan.
4 THỬ NGHIỆM CHẤT GIỮ ẨM CH TRÊN CÂY BẮP NĂM 2009:
Chất giữ ẩm CH được tiếp tục thử nghiệm trên cây bắp năm 2009 hộ gia đình
anh Hoài, xã Gia Canh, huyện Định Quán. Thử nghiệm được chia thành 2 nghiệm thức
có diện tích bằng nhau: ô đối chứng không bón chất giữ ẩm và ô thử nghiệm có bón
chất giữ ẩm với liều lượng 3 gam/m
2
.
12
Giống bắp thử nghiệm là Bioseed – 06
Thời vụ thử nghiệm: Đông xuân từ 12/2008 – 03/2009.
Chất giữ ẩm được bón cho cây bắp tại hộ gia đình anh Hoài sau 20 ngày gieo
hạt (21/01/2009).
) % 10,08 10,11
6 Tổng vi sinh vật đất CFU/gram 3,96.10
6
4,96.10
6
7 Tổng các nấm trong đất CFU/gram 3,38.10
3
3,78.10
3
8 Nitơ tổng % 0,15 0,16
9 Photpho dễ tiêu mg/100g 3,75 3,85
10 Kali dễ tiêu mg/100g 12,18 12,24
Bảng 2: Kết quả phân tích đất tại hộ gia đình ông Vũ Văn Năng
STT Chỉ tiêu Đơn vị
Kết quả
Trước thử
nghiệm
Sau thử
nghiệm
1 Khả năng giữ ẩm của đất % 33,6 35,75
2 Độ ẩm héo cây % 54,27 54,65
13
3 Độ chua của đất (pH) 5,47 5,68
4 Hàm lượng sắt (Fe
2
O
3
) % 12,66 12,68
5 Hàm lượng nhôm (Al
2
O
3
) % 10,09 10,12
6 Tổng vi sinh vật đất CFU/gram 3,82.10
6
4,23.10
6
7 Tổng các nấm trong đất CFU/gram 2,84.10
3
3,17.10
3
8 Nitơ tổng % 0,13 0,15
9 Photpho dễ tiêu mg/100g 3,52 3,74
10 Kali dễ tiêu mg/100g 12,11 12,29
Nhận xét:
- Kết quả phân tích đất tại các hộ gia đình ông Vũ Văn Định, Vũ Văn Năng và
Phạm Văn Dũng trước thử nghiệm cho thấy đất đen bazan có hàm lượng kali thấp,
photpho dễ tiêu thấp, hàm lượng nitơ tổng tương đối cao, tổng số vi sinh trong đất cao,
hàm lượng sắt trong đất cao.
- Kết quả phân tích đất trước và sau khi bón chất giữ ẩm cho thấy: Chất giữ ẩm
làm tăng khả năng trữ ẩm của đất. Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất tăng do
14
bón chất giữ ẩm kết hợp với bón phân cho cây bắp, cây chưa hấp thu hết chất dinh
dưỡng nên còn lưu lại trong đất. Hàm lượng các chất khoáng trong đất không thay đổi.
- Chất giữ ẩm chỉ tác động đến độ ẩm trong đất, làm tăng độ ẩm, không làm
thay đổi tính chất đất, không gây hại cho đất. Khi bón chất giữ ẩm vào đất làm tăng độ
ẩm trong đất nên lượng vi sinh vật trong đất cũng tăng.
- Hàm lượng sắt trong đất cao cần dùng các phượng pháp cải thiện đất để giảm
tác động của sắt lên cây trồng, nâng pH làm giảm tính chua của đất.
- Hàm lượng dinh dưỡng cơ bản trong đất: kali thấp, photpho dễ tiêu thấp, hàm
05/03/2008
2
9
06/03/2008
3,5
10
08/03/2008
2
11
09/03/2008
3
12
11/03/2008
1
13
19/03/2008
2
14
21 – 23 /03/ 2008
8
15
06/04/2008
1,5
16
17/04/2008
2
17
25/04/2008
3
18
Chiều cao cây (cm)
L
1
T
1
L
2
T
1
L
3
T
1
L
4
T
1
ĐC
1
27/12 17.7 20.5 19.0 22.4 19
03/01 38.0 41.1 39.4 45.4 45.1
10/01 63.3 65.9 67.2 70.9 71.1
17/01 88.7 90.4 88.9 96.7 97
24/01 120.7 124.4 119.9 131.0 137.4
02/02 173.7 174.2 169.5 184.2 178.3
16/02 206.7 211.5 206.7 226.1 217.5
Ngày
Chiều cao cây
L
1
3
L
2
T
3
ĐC
2
31/12 19.3 20.2 18.7
07/01 39.3 40.7 38.9
14/01 70.7 71.2 69.8
21/01 95.9 97.6 98.5
28/01 136.0 138.4 140
16/02 225.3 228.4 220.5
Mô hình 3:
Ngày
Chiều cao cây (cm)
L
3
T
3
L
4
T
3
ĐC
3
10/01 19.8 20.4 17.2
17/01 37.0 38.8 33.8
24/01 69.8 73.0 65.3
02/02 95.5 99.1 90.5
1
L
4
T
1
ĐC
1
14/12 2.2 2.3 2.3 2.4 2.1
31/12 4.2 4.3 4.3 4.4 4.2
07/01 7.7 7.9 8.0 7.9 6.9
14/01 8.7 8.9 9.0 8.9 8.4
21/01 9.7 9.9 10 9.9 9.8
28/01 11.7 12.0 12.0 11.9 10.4
02/02 13.0 13.0 13.0 13.0 12.6
Ngày
Số lá trung bình/cây
L
1
T
2
L
2
T
2
L
3
T
2
L
4
16/02 13.0 13.0 13.0
Mô hình 3:
Ngày
Số lá trung bình/cây
L
3
T
3
L
4
T
3
ĐC
3
18
10/01 2.3 2.4 2.1
17/01 4.3 4.5 4.2
24/01 8.3 8.1 7.8
02/02 9.3 9.1 8.8
16/02 10.3 10.1 9.8
23/02 12.3 12.1 12.1
24/02 13.0 13.0 13.0
Nhận xét:
- Tốc độ hình thành lá của cây bắp ở ơ bón chất giữ ẩm và ơ đối chứng
khơng có sự khác biệt do thời gian thử nghiệm là mùa khơ nhưng mưa nhiều. Tuy
nhiên, theo đánh giá cảm quan thì ở các ơ có bón vật liệu giữ ẩm thử nghiệm thì lá
đứng, còn ở các ơ khơng bón vật liệu lá rũ xuống.
Trọng lượng trái (gam), năng suất:
Nghiệm
thức
1
1,2 35,2 12,8 199,0 43,6 18,45 983
L
2
1,3 38,9 11,8 222,2 45,4 19,50 1.203
L
3
1,3 36,9 13,4 220,8 44,4 18,75 1.150
L
4
1,0 33,3 14,0 187,2 44,7 18,15 1.044
'
ĐC
1
1,1 39,0 13,0 224,4 45,1 18,91 1.158
L
1
1,4 36,8 12,6 215,1 44,3 19,60 964
19
L
2
1,0 37,0 13,4 224,5 44,4 19,40 1.124
L
3
1,2 35,6 13,2 202,7 42,9 18,80 941
L
4
1,2 34,9 13,0 192,4 44,2 18,45 950
'
quan của các hộ gia đình thì màu sắc cây bắp ở ô có bón chất giữ ẩm xanh và mượt
hơn so với ô không bón vật liệu và bón chất giữ ẩm làm cây lâu bị héo hơn, kéo dài
thời gian tưới giữa 2 lần tưới, tiết kiệm được nước.
Hiệu quả kinh tế:
Chi phí chất giữ ẩm CH:
L
1
(2 g/m
2
) L
2
(3 g/m
2
) L
3
(4 g/m
2
) L
4
(5 g/m
2
)
Lượng bón (kg) 2 3 4 5
Đơn giá (đồng/kg) 40.000 40.000 40.000 40.000
20
Thành tiền (đồng) 80.000 120.000 160.000 200.000
Ô thử
nghiệm
(gr/m
2
T2
ĐC
1
1.158 4000 4632000
L
1
964 4000 3856000 80.000 -856.000
L
2
1124 4000 4496000 120.000 -256.000
L
3
941 4000 3764000 160.000 -1.028.000
L
4
950 4000 3800000 200.000 -1.032.000
T3
ĐC
2
910 4000 3640000
L
1
1042 4000 4168000 80.000 448.000
L
2
1001 4000 4004000 120.000 244.000
ĐC
3
662 4000 2648000
L
Hình 4: Cây bắp ô thử nghiệm 25 ngày
bón chất giữ ẩm (16/02/2009)
Hình 5:
Cây bắp thử
nghiệm chất
giữ ẩm ngày
16/02/2009
Hình 6:
Cây bắp ô đối
chứng ngày
16/02/2009
Kết quả về năng suất cây bắp năm 2009:
Ô Năng suất kg/ha)
Đối chứng 9.020
Thử nghiệm ( 3 g/ m
2
) 9.960
Hiệu quả kinh tế:
Ô thử
nghiệm
(gr/m
2
)
Năng suất
(kg/ha)
Giá bắp
(đồng/kg)
Tổng thu
Chi phí
chất giữ
lượng nước tưới, nâng cao năng suất cây trồng.
- Kết quả phân tích đất trước và sau khi thử nghiệm cho thấy chất giữ ẩm không
gây độc hại cho người, cây trồng, đất và môi trường. Chất giữ ẩm chỉ làm tăng độ ẩm
trong đất giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt hơn trong mùa khô, kéo dài thời gian
giữa 2 lần tưới, tiết kiệm được nước tưới, giảm chi phí tưới nước.
- Kết quả thử nghiệm cho thấy sử dụng chất giữ ẩm trên cây bắp vào mùa khô
hạn góp phần làm cây sinh trưởng và phát triển đồng đều, xanh tốt hơn so với đối
chứng, làm tăng năng suất, tăng hiệu quả kinh tế.
- Ứng dụng chất giữ ẩm trên cây bắp thích hợp nhất là vào vụ Đông Xuân, thời
điểm diễn ra khô hạn nhất với liều lượng từ 3 – 4 gam/m
2
.
- Khi sử dụng chất giữ ẩm phải đào rãnh lớn, trộn chất giữ ẩm với phân và đất,
lấp rơm rạ ngay thời điểm bón thì sẽ làm tăng khả năng giữ ẩm cho đất và tăng hiệu
quả sử dụng kinh tế.
25