Câu 15:
A. Cảnh ngày xuân – Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du.
I.TÁC GIẢ NGUYỄN DU
1 Cuộc đời:
-Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên, sinh năm Ất Dậu (1765).
-Ông quê ở Hà Tĩnh, nhưng sinh ra ở Thăng Long.
- Nguyễn Du xuất thân trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan to dưới triều
vua Lê, chúa Trịnh. Gia đình ông có truyền thống yêu chuộng văn học, rất sành văn thơ
Nôm, thích hát xướng.
-Nguyễn Du đã sống một cuộc đời bi kịch. Xuất thân trong gia đình quý tộc giàu sang,
thế mà cơn lốc lịch sử đã hất đổ hết lầu son gác tía, đẩy ông vào cuộc sống lay lắt, lưu lạc, tha
hương. Nguyễn Du đã sống như một người dân thường giữa thế gian và nhờ thế ông thông cảm
sâu sắc với mọi kiếp người bị đày đọa.
=> Nguyễn Du nhìn đời với con mắt của một người đứng giữa dông tố cuộc đời và điều đó
khiến tác phẩm của ông hàm chứa một chiều sâu chưa từng có trong văn thơ Việt Nam.
2 Sự nghiệp văn học:
a Các tác phẩm văn học của Nguyễn Du:
-Nguyễn Du là tác giả có nhiều thành tựu kiệt xuất về văn chương, ở thể loại nào ông
cũng đạt được sự hoàn thiện ở trình độ cổ điển.
-Về thơ chữ Hán, Nguyễn Du có ba tập thơ: “Thanh Hiên thi tập”, “Nam trung tạp
ngâm”, “Bắc hành tạp lục”, tổng cộng gồm 250 bài.
-Về thơ chữ Nôm, Nguyễn Du có hai kiệt tác là “Truyện Kiều” và “Văn tế thập loại
chúng sinh”.
b Nhà thơ có khuynh hướng hiện thực sâu sắc:
Toàn bộ sáng tác của Nguyễn Du dù rất đa dạng vẫn có một đặc điểm bao trùm là khuynh
hướng hiện thực cuộc sống với những vẫn đề nhức nhối của nó.
c Nhà thơ vĩ đại:
Một điểm chung khác rất nổi bật trong toàn bộ sáng tác của Nguyễn Du là sự quan tâm
sâu sắc tới thân phận con người. Nguyễn Du vượt qua những ràng buộc của ý thức hệ phong
kiến và tôn giáo để vươn tới khẳng định giá trị tự thân của con người. Đó là tư tưởng sâu sắc
nhất mà nhà thơ đem lại cho văn học Việt Nam trong thời ông.
ra theo trình tự cuộc “bộ hành chơi xuân” của chị em Thúy Kiều.
*Bố cục đoạn trích:
- Bốn câu đầu: Khung cảnh mùa xuân.
- Tám câu tiếp: Khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh.
- Sáu câu cuối: Cảnh chị em Kiều du xuân trở về.
III. PHÂN TÍCH NỘI DUNG
Đoạn trích là bức tranh thiên nhiên, lễ hội mùa xuân tươi đẹp, giàu sức sống nhất trong
tuyệt phẩm Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du.
1. Bốn câu thơ đầu: Khung cảnh mùa xuân tinh khôi, giàu sức sống.
" Ngày xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sau mươi
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa"
*2 câu thơ đầu: vừa gợi tả thời gian, vừa gợi tả không gian mùa xuân.
- Câu thơ " Ngày xuân con én đưa thoi":Giữa bầu trời cao rộng, từng đàn chim én rộn ràng
bay lượn rập rờn, chao lượn như chiếc thoi trên khung dệt vải. Hai chữ “đưa thoi" gợi bước đi
sải thật nhanh của mùa xuân, tựa như những cánh én vụt bay trên bầu trời. Phải chăng câu thành
ngữ “Thời gian thấm thoắt thoi đưa, như ngựa chạy, như nước chảy qua cầu" đã nhập vào hồn
Tố Như tự bao giờ?
- Câu thơ “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi": Xung quanh tràn ngập "ánh thiều
quang" - ánh sáng tươi đẹp - đang rọi chiếu lên toàn cảnh vật . Ánh nắng mùa xuân có nét
riêng, không nóng bức như mùa hè cũng không dịu buồn như mùa thu mà trái lại cái sắc hồng
ấm áp của khí xuân, cái mênh mông bao la của đất trời gợi cho ta một cảm giác tươi vui, trẻ
trung, mới mẻ trong sự nồng ấm của những ngày xuân đầu năm Ta còn có thể cảm nhận được
thời gian ở câu thơ này rằng: chín chục ngày xuân mà nay đã hơn sáu mươi ngày rồi, tức là đang
độ xuân tháng 3.
=>Thời gian đầu năm trôi qua mới nhanh làm sao! Cho nên cả hai câu thơ vừa miêu tả
cảnh thiên nhiên tươi sáng đồng thời thể hiện được niềm tiêc nuối trước sự trôi nhanh của
thời gian. Thoắt một cái đã cuối xuân rồi, cái đẹp của mùa mở đầu một năm sắp hết.
*2 câu thơ sau: bức tranh thiên nhiên tuyệt mĩ về cảnh ngày xuân với sắc màu xanh và
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử giai nhân,
Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.
Ngổn ngang gò đống kéo lên,
Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay”
Đoạn thơ có sự chuyển tiếp nhịp nhàng, tự nhiên. Từ khung cảnh mùa xuân tươi mới, êm
đềm ấy, nét bút của Nguyễn Du bắt đầu tập trung khắc họa những hoạt động của con người. Họ
là những người đi tảo mộ, đi chơi xuân ở miền quê kiểng. Và trong lễ hội dập dìu đó có những
nhân vật của Nguyễn Du - chị em Thúy Kiều- đang thong thả chơi xuân:
“ Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh”
- Tiết Thanh minh vào đầu tháng ba, khí trời mát mẻ, trong trẻo. Người người đi viếng, quét
dọn, sửa sang và lễ bái, khấn nguyện trước phần mộ tổ tiên. Sau "lễ tảo mộ" trên là đến "hội
đạp thanh", khách du xuân giẫm lên cỏ xanh - một hình ảnh quen thuộc trong các cuộc chơi
xuân đầy vui thú ở chốn làng quê. Cách sử dụng điệp từ "lễ là", "hội là" gợi ấn tượng về sự
diễn ra liên tiếp của các lễ hội dân gian, niềm vui tiếp nối niềm vui. Ca dao xưa cũng đã có câu:
“Tháng Giêng là tháng ăn chơi – Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè”.
- Không khí lễ hội rộn ràng, huyên náo bỗng hiện ra thật sinh động trong từng dòng thơ giàu
hình ảnh và nhạc điệu:
“Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử giai nhân,
Ngừa xe như nước áo quần như nêm”.
Tài năng của Nguyễn Du được thể hiện qua cách sử dụng ngôn từ. Sự xuất hiện của hàng
loạt các từ ngữ hai âm tiết bao gồm danh từ, động từ, tính từ như: gần xa, yến anh, chị em, tài
tử, giai nhân, nô nức, sắm sửa, dập dìu, đã gợi lên bầu không khí rộn ràng của lễ hội đồng
thời làm rõ hơn tâm trạng của người đi trẩy hội. Hầu hết các câu thơ đều được ngắt nhịp đôi
(2/2) cũng góp phần gợi tả không khí nhộn nhịp, đông vui của lễ hội. Cách nói ẩn dụ "nô nức
yến anh" gợi hình ảnh từng đoàn người náo nức du xuân như chim én, chim oanh bay ríu rít.
Câu thơ "Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân", Nguyễn Du không chỉ nói lên một lời thông
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
Nao nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”.
-Nếu câu thơ mở đầu của "Cảnh ngày xuân" chan hòa ánh sáng "thiều quang" thì đến đây,
hoàng hôn dường như bắt đầu nhuốm dần xuống phong cảnh và con người. Hội đã hết, ngày đã
tàn nên nhịp thơ không còn cái rộn ràng, giục giã mà trái lại thật chậm rãi, khoan thai. Cảnh vật
vì thế mang cái vẻ nên thơ, diu êm, vắng lặng trong ánh nắng nhạt dần. Dòng khe có chiếc cầu
nho nhỏ cuối ghềnh tạo thành đường nét thể hiện linh hồn của bức tranh một buổi chiều xuân.
Nhịp chân có chút tâm tình man mác nên "thơ thẩn" và đến đây là "bước dần", chẳng có gì
nao nức, vội vàng. Các từ láy "tà tà", "thanh thanh", "nho nhỏ", "nao nao" góp phần làm
nên sự yên ắng và nỗi buồn của cảnh vật, của con người. Cảnh vật và thời gian được miêu tả
bằng bút phá ước lệ cổ điển nhưng vẫn gợi cho người đọc cảm giác gần gũi, thân quen vì nó đã
thấm hồn dân tộc, mang bóng dáng cảnh sắc quê hương Việt Nam.
-Rõ ràng, cảnh ở đây được nhìn qua tâm trạng nhân vật tham gia vào lễ hội. Hai chữ "nao
nao" (Nao nao dòng nước uốn quanh) đã nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật. Dòng nước nao
nao, trôi chậm lưu luyến bên chân cầu nho nhỏ, phải chăng cũng là nỗi lưu luyến, tiếc nuối của
lòng người khi ngày vui chóng qua? Nguyễn Du đã từng viết: "Người buồn cảnh có vui đâu bao
giờ?". Vì vậy, khi vào lễ hội, người vui thì cảnh sắc rộn ràng tười mới. Lúc lễ hội tan rồi, người
về sao tránh khỏi sự xao xuyến, cảnh sắc sao tránh khỏi màu ảm đạm! Dường như có một nỗi
niềm man mác, bâng khuâng thấm sâu, lan tỏa trong tâm hồn vốn đa tình, đa cảm như Thúy
Kiều. Và ở sáu dòng cuối này, Nguyễn Du không chỉ nhằm nói tâm trạng buồn tiếc khi lễ hội
vừa tàn, mà hình như, ông chuẩn bị đưa nhân vật của mình vào một cuộc gặp gỡ khác, một thế
giới khác. Như ta đã biết, ngay sau buổi Thanh minh, Nguyễn Du đã sắp đặt để Thúy Kiều gặp
Đạm Tiên và Kim Trọng. Vì thế, cảnh vật trong hoàng hôn này cũng là một dự báo, một linh
cảm cho đoạn trường mà đời kiều sắp phải bước qua. Tả cảnh, tả tình như thế thật khéo, cách
chuyển ý cũng thật tinh tế, tự nhiên.
IV. NGHỆ THUẬT
Nghệ thuật chung
-Đoạn trích đã thể hiện bút pháp tả cảnh giàu chất tạo hình, cùng với bút pháp tả cảnh ngụ tình
lên đến trình độ bậc thầy của đại thi hào dân tộc.
đó là thuý kiều gặp mộ đạm tiên bên vệ đường.
-Những từ láy “tà tà”, “thanh thanh”,”nao nao”… không chỉ biểu đạt sắc thái cảnh vật
mà còn bộc lộ tâm trạng con người. Cảm giác bâng khuâng, xao xuyến về một ngày vui
xuân đang còn mà sự linh cảm về điều sắp xảy ra đã xuất hiện.
V. SẮC THÁI GIỌNG ĐỌC
♥Ngày xuân♥
Ngày xuân / con én đưa thoi
Thiều quang chín chục / đã ngoài sáu mươi
Cỏ non / xanh tận chân trời
Cành lê / trắng điểm / một vài bông hoa
Thanh minh / trong tiết tháng ba
Lễ là /tảo mộ / hội là/ đạp thanh
Gần xa / nô nức yến anh
Chị em /sắm sửa / bộ hành chơi xuân
Dập dìu tài tử giai nhân,
Ngừa xe như nước/ áo quần như nêm.
Ngổn ngang /gò đống kéo lên
Thoi vàng vó rắc/, tro tiền giấy bay.
Tà tà / bóng ngả về tây
Chị em thơ thẩn / dan tay ra về
Bước dần/ theo ngọn tiểu khê
Lần xem phong cảnh / có bề thanh thanh
Nao nao / dòng nước uốn quanh
Nhịp cầu nho nhỏ / cuối ghềnh bắc ngang.
-Tốc độ đọc: chậm rãi, vừa phải ( Khổ 2 nhanh hơn một chút so với tốc độ đọc toàn
bài).
-Giọng đọc : trầm lắng, buồn chất chứa đầy tâm trạng ( Khổ 2 vui tươi hơn, đặc biệt ở
khổ 3 thể hiện rõ nhất giọng đọc toàn đoạn trích).
-Nhấn giọng ở những từ in đậm, nghiêng.
-Đoạn thơ sử dụng nhiều từ ngữ Hán-Việt điển tích, điển cố chú ý nghĩa của các từ để
rồi từ cao xa trở lại gần. Điểm nhìn cảnh thu được nhìn từ chiếc thuyền câu đến mặt ao rồi nhìn
lên bầu trời, nhìn tới ngõ trúc rồi nhìn ra mặt ao. Từ khung ao hẹp tác giả miêu tả mùa thu đựơc
cả không gian và thời gian cảnh sắc mùa thu mở ra nhiều hướng thật sinh động.
Bài thơ kể việc câu cá mùa thu nhưng thực ra đó lại là nói chuyện mùa thu, miêu tả cảnh
mùa thu của vùng quê đồng bằng Bắc Bộ, quê hương của tác giả Nguyễn Khuyến. Trong bài thơ
có ao thu, thuyền câu, có lá vàng, có tầng mây, có sóng, có cá và người câu cá. Không gian mùa
thu, vắng lặng và chính sự vắng lặng này mới tả được khoảnh khắc lặng lẽ của mùa thu và tả
được tâm trạng, tĩnh lặng của tác giả.
Ở hai câu đầu tác giả viết:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Hai câu thơ này không chỉ miêu tả được cả không gian mùa thu (ao thu) mà còn miêu tả
được cả thời gian của mùa thu. Mùa thu được biểu hiện ở làn nước trong veo, đã trong lại còn
trong veo và thêm lạnh lẽo. Ao thu lạnh lẽo càng làm tăng thêm độ buồn của mùa thu. Đó là
mùa thu của lòng của lòng người buồn, của thi nhân buồn mà thôi. Mùa thu thường là mùa của
tâm trạng buồn, qua hai câu thơ này càng thấy Nguyễn Khuyến đã rất tài tình khi miêu tả khung
cảnh mùa thu. Chiếc thuyền câu vốn đã bé lại càng bé tẻo teo. Hai vầng eo càng làm cho không
gian càng thêm thu nhỏ lại. Không nói ao rộng nhưng qua việc miêu tả ao mùa thu lại còn lạnh
lẽo làm cho không gian ở đây có phần mông lung và như tan ra cùng sự lạnh lẽo của ao mùa thu.
Mùa thu nước ao mới trong xanh như vậy làm cho không gian thêm nhỏ, chiếc thuyền đã bé lại
bé thêm, như thu mình thêm nhỏ lại. Cảnh ao càng thêm vắng lặng:
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.
Cảnh trên bờ ao lúc này chỉ có gió mà lại rất khẽ, làm cho sóng chỉ hơi gợi tí ta cũng thấy
được gió ở đây rất nhẹ chỉ tạo đủ độ để sóng gợn mà thôi. Khung cảnh mùa thu đượm buồn như
im lìm, lặng lẽ, chỉ có chiếc lá khẽ đưa mà thôi, không tạo ra âm thanh từ khẽ miêu tả được cả
âm thanh, đó là âm thanh, đó là âm thanh, tĩnh chứ không động, tả được cái trạng thái tĩnh lặng
của mùa thu. Ngày cả từ vèo cũng vậy đó không chỉ là bay qua của chiếc lá khi có làn gió mà từ
vèo đó còn là thể hiện tâm trạng, thời thế của nhà thơ, một tâm sự đầy đau buồn trước tình hình
của đất nước đầy đau thương.
bao trùm được gợi lên từ cái động rất nhẹ. Thủ pháp lấy động tả tĩnh là thủ pháp quen thuộc của
thơ cổphương Đông.
Tất cả những vầng eo trong bài đều tạo nên sự vắng lặng im lìm trong khung cảnh mùa thu
gợi lên cái gì thu hẹp lại, nhỏ lại, lắng vào hư không nó cũng góp phần làm cho không khí vắng
lặng được tăng thêm.
Qua bài Thu Điếu ta như cảm nhận được ở tác giả một tâm hồn gắn bó thiết tha với thiên
nhiên, một tấm lòng yêu nước thầm kín. Bên cạnh đó còn vẽ ra một khung cảnh mùa thu giản dị,
thanh đạm, đơn sơ của làng cảnh Việt Nam, một tâm trạng buồn khép kín phù hợp với tâm trạng
của tác giả.
2 Giá trị nghệ thuật
+Bài thơ "thu điếu" là một bài thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Bằng những nét vẽ nhẹ nhàng,
thi nhân đã gợi lên trong lòng người đọc những xúc cảm cũng như những hoài niệm về quê
hương đất nước.
+Bài thơ mang nét đặc sắc của nghệ thuật phương Đông, đậm nét nghệ thuật của
Đường thi: lối lấy động tả tĩnh, tả cảnh ngụ tình – một thủ pháp gợi tả quen thuộc
+Ngôn từ giản dị, trong sáng
+Nghệ thuật gieo vần của Nguyễn Khuyến rất độc đáo. Vần "eo" đi vào bài thơ rất tự nhiên
thoải mái, để lại ấn tượng khó quên cho người đọc, giàu giá trị tạo hình, âm hưởng của những
vần thơ như cuốn hút chúng ta: trong veo - bé tẻo teo - đưa vèo - vắng teo - chân bèo như vẽ ra :
Không gian vắng lặng, thu nhỏ dần
Tạo cãm giác co cụm lại
Phù hợp tâm trạng nhiều uẩn khúc
Thi sĩ Xuân Diệu đã từng viết: “Cái thú vị của bài Thu điếu ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ,
xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu xanh vàng đâm ngang của chiếc lá thu
rơi…”
III Định hướng cách dạy – Xác định cách đọc
1 Đọc đúng
+ “bé tẻo teo’ : từ láy “tẻo teo” đã cá thể hóa tính từ ‘bé’, gợi độ bé đến mỏng mảnh, càng về sau
càng bé hơn.
+ “ gợn tí ’’ : sóng gợn rất nhẹ
- Góp phần diễn tả tâm trạng của chủ thể trữ tình. Bài thơ có nói đến việc câu ca nhưng thực ra
nhà thơ không tập trung vào việc đó. Câu cá chỉ là một trong những thú nhàn của nho sĩ. Cõi
lòng nhà thơ đã hòa vào trời thu, cảnh thu. Cái tĩnh lặng như sự tĩnh lặng trong tâm hồn thi
nhân, khiến ta cảm nhận có nỗi cô đơn, uẩn khúc trong lòng ông. Cảnh thanh vắng, người thanh
nhàn trong khi bản thân ông là một người mang nặng hoài bãi. Trí quân tạch dân. Mà không
thực hiện được. Tâm sự u uất, buồn bã len vào lúc ngắm cảnh là điều dễ cảm nhận được.
e Cách gieo vần.
Trong bài thơ rất đặc biệt. Vần “eo” “từ vốn” rất khó gò vào mạch thơ, ý thơ nhưng tác giả lại
sử dụng rất tài tình, độc đáo. Vần “eo” góp phần diễn tả một không gian nhỏ dần, khép kín, phù
hợp với tâm trạng đầy oan khúc của thi nhân.
3 Đọc diễn cảm
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối buông cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Cách đọc diễn cảm:
Giọng đọc: Đọc chậm, chú ý âm điệu (vần “eo” ) để cảm nhận vẻ thanh sơ, êm đềm của mùa thu
Nhấn giọng: Nhấn vào các từ có vần “eo”: trong veo, tẻo teo,…
Ngắt giọng: Sáu câu đầu: 2/2/3
Hai câu cuối: 4/3.
C. Ngắm trăng – Hồ Chí Minh.
A Văn bản:
Ngắm trăng – Hồ Chí Minh
Trong tù không rượu cũng không hoa
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
thuật, truyền thống và hiện đại
+ Văn chính luận: giàu tri thức văn hoá, giàu tính luận chiến, lập luạn chặt chẽ, lí lẽ sắc sảo
+ Truyện và kí: là những tác phẩm mở đaauf, đặt nền móng cho văn xuôi cách mạng, lối kể linh
hoạt, giọng điệu uyển chuyển, giàu trí tuệ
+ Thơ ca: hàm súc uyên thâm, giàu tính nghệ thuật, có sự kết hợp sâu sắc giữa cổ điển và hiện
đại.
2 Tác phẩm: Ngắm trăng
Bài thơ rút trong “Nhật ký trong tù”; tập nhật ký bằng thơ được viết trong một hoàn cảnh đoạ
đầy đau khổ, từ tháng 8-1942 đến tháng 9-1943 khi Bác Hồ bị bọn Tưởng Giới Thạch bắt giam
một cách vô cớ. Bài thơ ghi lại một cảnh ngắm trăng trong nhà tù, qua đó nói lên một tình yêu
trăng, yêu thiên nhiên tha thiết. Đọc bài thơ đầu ẩn chứa một nụ cười thoáng hiện.
C Tìm hiểu chi tiết
1 Giá trị nội dung
Bài thơ “Ngắm trăng” được rút ra tập nhật ký bằng thơ được viết trong một hoàn cảnh
đoạ đầy đau khổ, từ tháng 8-1942 đến tháng 9-1943 khi Bác Hồ bị bọn Tưởng Giới Thạch bắt
giam một cách vô cớ. Bài thơ ghi lại một cảnh ngắm trăng trong nhà tù, qua đó nói lên một tình
yêu trăng, yêu thiên nhiên tha thiết. Đọc bài thơ đầu ẩn chứa một nụ cười thoáng hiện.
a Hai câu đầu
Hai câu thơ đầu ẩn chứa một nụ cười thoáng hiện. Đang sống trong nghịch cảnh, và đó
cũng là sự thật “Trong tù không rượu cúng không hoa” thế mà Bác vẫn thấy lòng mình bối rối,
vô cùng xúc động trước vầng tăng xuất hiện trước cửa ngục đêm nay. Một niềm vui chợt đến
cho thi nhân bao cảm xúc, bồi hồi. Trăng, hoa, rượu là ba thú vui tao nhã của khách tài tử văn
chương. Đêm nay trong tù, Bác thiếu hản rượu và hoa, nhưng tâm hồn Bác vẫn dạt dào trước vẻ
đẹp hữu tình của thiên nhiên. Câu thơ bình dị mà dồi dào cảm xúc. Bác vừa băn khoăn, vừa bối
rối tự hỏi mình trước nghịch cảnh: Tâm hồn thì thơ mộng mà chân tay lại bị cùm trói, trăng đẹp
thế mà chẳng có rượu, có hoa để thưởng trăng? “Trong tù không rượu cũng không hoa, Cảnh
đẹp đêm nay khó hững hờ”. Sự tự ý thức về cảnh ngộ đã tạo cho tư thế ngắm trăng của người tù
một ý nghia sâu sắc hơn các cuộc ngắm trăng, thưởng trăng thường tình. Qua song sắt nhà tù,
Bác ngắm vầng trăng đẹp. Người tù ngắm trăng với tất cả tình yêu trăng, với một tâm thế “vượt
ngục” đích thực? Song sắt nhà tù không thể nào giam hãm được tinh thần người tù có bản lĩnh
sĩ lớn, thế giới bên trong tù- thế giới ngoài nhà tù vừa thể hiện sức hút của những vẻ đẹp khác
nhau vừa thể hiện sự hô ứng, cân đối thường thấy trong thơ truyền thống.
- Phép đối xứng sử dụng hài hoà, giao hợp giữa ba yếu tố "nhân, song, nguyệt" khiến cho câu
thơ nhịp nhàng, cân đối, thể hiện được sự gắn bó giữa nhà thơ và vầng trăng đồng thời thể hiện
được sự thành công của cuộc vượt ngục về tâm hồn, đó là sự tự do.
-Nhân hoá ánh trăng qua động từ “nhòm”, biến ánh trăng - một vật vô tri thành người bạn thân
thiết của Bác , phép nhân hóa này như thổi hồn vào vầng trăng vốn vô tri nay trở nên có hồn tạo
nên hình ảnh sinh động.
=> thể hiện được cái ý chí, tư tưởng của bác lớn lao, nhà tù, bạo lực đếu ko ngăn được bác tìm
đến tự do.
Hai câu 3 và 4 có cấu trúc đăng đối tạo nên sự cân xứng hài hoà giữa người và trăng, giữa
ngôn từ, hình ảnh và ý thơ:
“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.
-Hình ảnh "trăng" được tác giả khắc hoạ như một người bạn tri kỉ không chỉ thể hiện cái hay,
mới lạ trong bút pháp mà còn thấy được sự nét tinh tế hiện đại của Người khi tìm đến một thi
liệu đã quen thuộc trong cổ điển.
d Đọc đúng bài thơ
Từ đọc khó về âm thanh: hững hờ, rượu.
Từ khó về nghĩa: hững hờ: không để ý đến.
e Đọc hiểu bài thơ
Câu1: Bác Hồ ngắm trăng trong hoàn cảnh nào? -Bác ngắm trăng qua cửa sổ phòng giam trong
nhà tù.
Câu 2: Hình ảnh nào cho thấy tình cảm gắn bó giữa Bác với trăng? –“ Người ngắm trăng soi
ngoài cửa sổ /Trăng nhòm khe của ngắm nhà thơ ."
Câu 3: Bài thơ nói lên điều gì về bác Hồ. –Bác là người không sợ gian khổ, óc tinh thần lạc
quan, yêu đời, yêu thiên nhiên.
Câu 4: Học thuộc lòng bài thơ.
Nhận xét:
-Về số lượng câu: 4 câu là khá phù hợp để giúp các em khi trả lời được hết các câu hỏi này có
• 1948: Phó Tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam;
• 1952: Giám đốc Nha Tuyên truyền và Văn nghệ thuộc Thủ tướng phủ;
• 1954: Thứ trưởng Bộ Tuyên truyền;
• 1963: Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam;
• Tại đại hội Đảng lần II (1951): Ủy viên dự khuyết Trung ương; 1955: Ủy viên chính
thức;
• Tại đại hội Đảng lần III (1960): vào Ban Bí thư;
• Tại đại hội Đảng lần IV (1976): Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Ban chấp hành
Trung ương, Trưởng ban Tuyên truyền Trung ương, Phó Ban Nông nghiệp Trung ương;
• Từ 1980: Ủy viên chính thức Bộ Chính trị;
• 1981: Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, rồi Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng
cho tới 1986. Ngoài ra ông còn là Bí thư Ban chấp hành Trung ương.
Năm 1996, ông được Nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật
(đợt 1).
Ông từng đảm nhiệm nhiều chức vụ khác như Hiệu trưởng Trường Nguyễn Ái Quốc,
Trưởng Ban Thống nhất Trung ương, Trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương, Trưởng Ban Khoa
giáo Trung ương. Ông còn là Đại biểu Quốc hội khoá II và VII.
Trong thời gian phụ trách mảng văn nghệ, ông là người đã phê phán quyết liệt phong trào
Nhân văn-Giai phẩm (1958). Nhiều ý kiến coi ông là tác giả chính của vụ án văn nghệ-chính trị
này. Sau khi Lê Duẩn mất, có sự thay đổi mạnh mẽ tiến tới đổi mới nhằm thoát khỏi khủng
hoảng kinh tế toàn diện. Ông bị mất uy tín vì vai trò "nhà thơ đi làm kinh tế" qua những vụ
khủng hoảng tiền tệ những năm 1980 nên bị miễn nhiệm mọi chức vụ, chỉ còn làm một chức
nghiên cứu hình thức.
Ông mất lúc 9 giờ 15 phút ngày 9 tháng 12 năm 2002 tại Bệnh viện 108.
2 Tác phẩm
Việt Bắc là tập thơ của nhà thơ Tố Hữu, hầu hết trong đó là các bài thơ sáng tác trong những
năm kháng chiến chống Pháp và đã được xuất bản trên báo chí trước khi in thành tập lần đầu
tiên vào năm 1954.
Hoàn cảnh sáng tác
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève về Đông Dương được kí kết (tháng 7 năm
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
Mở đầu bằng câu hỏi, người ra đi có sự đồng vọng về tình cảm với người ở lại, ngay sau
đó người ra đi đã trải lòng mình '' Ta về ta nhớ những hoa cùng người ''. Người ra đi nhớ đến
hoa, đến cảnh sắc thiên nhiên, nhớ con người Việt Bắc.
Hai câu thơ:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Vẽ lại bức tranh mùa đông ở Việt Bắc. Sắc màu đầu tiên là sắc xanh, sắc màu lặng lẽ, trầm
tĩnh và ngút ngàn muôn đời của rừng già. Trên phông nền ấy, điểm nhấn của bức tranh mùa
đông là màu đỏ tươi của hoa chuối. Trước bạt ngàn màu xanh, sắc đỏ xóa đi cái u tịch, cái giá
lạnh của rừng núi mùa đông, đồng thời thể hiện sức sống đang trỗi dậy mãnh liệt giữa sự giá
lạnh và hoang vu ấy. Câu thơ thứ hai không miêu tả cụ thể đường nét mà chỉ tập trung miêu tả
ánh mặt trời lóe trên lưỡi dao của người đi rừng, tưởng như con người là tụ điểm của ánh sáng,
con người mang vẻ đẹp bừng sáng ngay trong công việc lao động bình thường. Đầy trân trọng
và yêu thương, Tố Hữu khẳng định con người chính là linh hồn của bức tranh mùa đông ấy. Họ
giản dị nhưng thật lớn lao. Họ xuất hiện trên đèo cao, nơi ngang tầm với mây trời, nơi lồng lộng
một tầm nhìn rộng mở. Chính những điều đó đã đã đem đến sự ấm áp, căng tràn sức sống cho
bức tranh mùa đông.
Hai câu thơ tiếp theo là bức tranh mùa xuân của Việt Bắc:
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Nhà thơ đã chọn cho mùa xuân một sắc trắng tinh khôi của hoa mơ để trùm phủ không gian
Việt Bắc. Với động từ '' nở '', hình ảnh thơ chợt đem đến cho người đọc liên tưởng về giây phút
cả đất trời, không gian cựa mình thức giấc đón xuân về. Những cánh hoa mơ như đang hé lộ,
khoe vẻ đẹp rạng ngời của mình. Trong bức tranh này, ta vẫn bắt gặp hình ảnh con người lao
động với công việc bình dị : đan nón, chốt giang. Cụm từ '' chuốt từng sợi giang '' gợi đến dáng
vẻ cẩn trọng, tỉ mỉ, kiên trì, khéo léo của người đan nón. Bức tranh mùa xuân thật ý vị, thơ
Trong những ngày đầu kháng chiến gian khổ của giai đoạn cầm cự, phòng ngự, bộ đội
phải dựa vào dân, dựa vào núi rừng Việt Bắc hiểm trở để đánh địch. Trước giờ khắc quyết định
của lịch sử, không chỉ nhân dân mà cả núi rừng cùng đều vùng lên, chung sức đánh Tây. Với
cuộc kháng chiến đầy gian lao của quân và dân Việt Bắc, núi rừng cũng trở nên có chí, có tình
người, đã trở thành những người bạn, những người đồng đội, những chiến sĩ anh hùng của toàn
quân. Chỉ với bốn câu thơ, chữ “rừng” và “núi” được lặp đi lặp lại đến năm lần, nó rải kín câu
thơ, rải kín đất Việt Bắc tạo lên thế hiểm của trường thành của lũy thép vây bọc quân thù. Nhớ
về lúc kháng chiến, khi giặc đánh giặc lùng, cũng là khi quân ta đang khó khăn xoay sở tình thế,
ta biết địch mạnh hơn ta rất nhiều, nhưng trên trận địa quen thuộc nói là thua địch cũng không
phải là dễ. Rừng cây núi đá “ta cùng” đánh Tây, bằng phép nhân hóa, rừng bạt ngàn cây, với núi
bao la đá để rồi trên dưới một lòng cùng con người đánh đuổi quân xâm lược. Đồng thời thể
hiện tình cảm giữa con người kháng chiến và thiên nhiên núi rừng Việt Bắc rất tha thiết, bao la.
Ở cặp lục bát thứ hai ta sẽ thấy rõ hơn công việc của thiên nhiên núi rừng Việt Bắc. Núi thì
giăng thành lũy, rừng thì đảm nhận hai công việc. Như một người mẹ che chở cho con mình,
rừng bao bọc cho bộ đội trước mặt kẻ thù cướp nước. Rừng trở nên kiên quyết đến dữ dằn cùng
với việc vây quân thù để tiêu diệt, cái trùng trùng điệp điệp của rừng, cái khí thế hiên ngang
kiêu hùng của những vách núi đã làm cho biết bao kẻ thù khiếp sợ và bất lực. Quả thật Việt Bắc
đã trở thành “Địa linh nhân kiệt” kể từ đó. Qua đó càng làm sáng tỏ thêm nhận định: Việt Bắc là
cái nôi của cách mạng dân tộc ta. Chiến khu Việt Bắc với thiên nhiên khắc nghiệt, vừa hùng
tráng vừa thơ mộng ở cặp lục bát tiếp theo là hình ảnh thiên nhiên, đất trời Việt Bắc trong giai
đoạn kháng chiến. “Mênh mông bốn mặt sương mù Đất trời ta cả chiến khu một lòng” Trời đất
bị chìm lấp trong cả màn sương giăng khắp nơi, khiên cho khung cảnh chiến đấu trở nên uy linh
và không kém phần lãng mạn. Những dù giữa một biển sương mù khó khăn, con người vẫn
không mất đi vẻ đẹp lãng mạn của lòng mình. Với hình ảnh chọn lọc “mênh mông bốn mặt
sương mù”, chiến khu mang nét đặc trưng rộng lớn, đồng thời thể hiện sự phát triển của kháng
chiến, chiến khu giải phóng được mở rộng hơn. Cùng với cum từ “Đất trời ta cả” khẳng định
quyền làm chủ vùng giải phóng, và sự tương phản “Mênh mông bốn mặt” và “chiến khu một
lòng”: Cả vũ trụ, núi rừng Việt Bắc giờ đây đang cùng nhìn về một hướng, đang hướng về cuộc
chiến đấu, hướng về sứ mệnh bảo vệ quê hương đất nước yêu dấu của mình thầm thể hiện tinh
thần đoàn kết của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Sức mạnh của khối đại đoàn kết
bàn tay của con người lao động: cần mẫn, tỉ mẩn, khéo léo, tài hoa, nhanh nhẹn, chăm chút đó
cũng chính là phẩm chất tần tảo của con người Việt Bắc. Động từ "đổ" là động từ mạnh, diễn
tả sự vàng lên đồng loạt của hoa phách đầu hè. Màu của cây phách đổ vàng cả suối ngàn dường
như làm cho ánh nắng của mùa hè và cả tiếng ve kêu râm ran kia nữa cũng trở nên óng vàng ra.
Có một điều đặc biệt là Tố Hữu dành ra câu lục để nhơ hoa, nhớ cảnh, còn câu bát để thể hiện
nỗi nhớ người tạo nên một cấu trúc độc đáo. Để tạo được bức tranh đẹp như vậy, Tố Hữu đã sử
dụng rất nhiều những hình ảnh quen thuộc, giản dị, gần gũi và đặc trưng của vùng Việt Bắc. Đó
là hoa chuối, hoa mơ, rừng xanh, người đan nón, cô gái hái măng, Sự kết những hình ảnh quen
thuộc cùng với giọng điệu thân mật, gần gũi, ngọt ngào giọng của tình thương mến khiến cho
tình cảm trong bài thơ được bộc lộ chân thực, làm cho bài thơ đạt được thành công và dễ dàng
đi vào lòng người đọc.
Định hướng cách dạy ở tiểu học:
1 Đọc đúng:
Từ khó : núi giăng,mơ nở, hoa chuối, dao gài, thắt lưng,nắng ánh,chuốt.
-Đèo: chỗ thấp và dễ vượt qua nhất trên đường đi qua núi.
-Giang: cây thuộc loại tre nứa, thân dẻo, dùng để đan nát hoặc làm lạt buộc.
-Phách: một loại cây thân gỗ, lá ngả màu vàng vào mùa hè.
-Ân tình: có ơn nghĩa,tình cảm sâu nặng với nhau.
-Thuỷ chung: trước sau không thay đổi.
2. Đọc hiểu:
– Các câu hỏi sách đưa ra nhìn chung là khá phù hợp với lứa tuổi của học sinh lớp3
+ Câu hỏi số 1 “Người cán bộ về xuôi nhớ những gì ở Việt Bắc dòng thơ 2” thì sau khi học sinh
đọc xong câu thơ thứ 2 “ Ta về ta nhớ những hoa cùng người” các em có thể dễ dàng tìm ra
thông tin
+ Câu hỏi số 2 “Tìm những câu thơ cho thấy • Việt Bắc rất đẹp
• Việt Bắc đánh giặc giỏi”
Nếu các em đọc kĩ toàn bài thơ cũng sẽ trả lời được.
+ Câu hỏi số 3 “Vẻ đẹp của người Việt Bắc thể hiện qua những câu thơ nào” thì đây là một câu
hỏi mang tính tổng quát toàn bài, yêu cầu các em phải đọc kĩ toàn bộ đoạn thơ mới có thể trả lời
đủ được.