con người cô đơn trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng - Pdf 26

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN
TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN: VĂN HỌC TRUNG QUỐC
Đề tài:
CON NGƯỜI CÔ ĐƠN TRONG TIỂU THUYẾT
“HỒNG LÂU MỘNG”
Giáo viên hướng dẫn
NGUYỄN THỊ TỊNH THY
Sinh viên thực hiện
HOÀNG THỊ THÚY NY
Lớp: Văn 3B
Huế, 11/2014
Để hoàn thành tốt được bài
tiểu luận này, em xin gửi lời cám
ơn chân thành nhất đến cô giáo
Nguyễn Thị Tịnh Thy đã tận tình
giúp đỡ em rất nhiều trong việc
hướng dẫn làm đề tài. Em hy vọng
rằng sau này sẽ được cô tiếp tục
hướng dẫn làm những đề tài
nghiên cứu khác. Và em cũng xin
hứa, sẽ làm tốt hơn nữa nếu có cơ
hội. Em xin cảm ơn cô rất nhiều!
Huế, tháng 11 năm 2014
Sinh viên
Hoàng Thị Thúy Ny
MỤC LỤC
Con người cô đơn trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng
A. MỞ ĐẦU

Tuyết Cần có cái nhìn bi quan về cuộc sống, con người và vũ trụ trong xã hội phong
kiến lúc bấy giờ. Nguồn gốc của cái nhìn này bắt đầu từ thực tế cuộc sống gia đình mà
chính Tào Tuyết Cần được sống và trải qua. Từ một “hào môn vọng tộc” rồi gia đình
sa sút đến mức rau không có mà ăn, chính điều này làm cho tác giả nuối tiếc quá khứ
vàng son của gia đình mình. Mượn câu chuyện thần thoại Nữ Oa vá trời và hòn đá còn
thừa, Tào Tuyết Cần đã phán ánh lại hiện thực cuộc sống thời buổi suy tàn của xã hội
phong kiến với những tệ nạn như quan liêu, bất bình đẳng, đa thê… Chính hiện thực
xã hội như vậy đã khiến cái nhìn của Tào Tuyết Cần trong Hồng lâu mộng mang đậm
màu sắc bi quan, buồn bã về cuộc đời, vũ trụ và con người. Điều này được nhà văn thể
hiện trực tiếp qua các con người- nhân vật trong tiểu thuyết. Trong tiểu thuyết hồng
Bài tiểu luận văn học Trung Quốc Trang 4
Con người cô đơn trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng
lâu mộng, vấn đề về con người được nhiều nhà nghiên cứu bàn đến, nhưng những con
người cô đơn, cô độc trong tâm hồn, dằn vặt trong thể xác thì có lẽ ít được đề cập. Vì
vậy, tôi muốn chọn đề tài “ Con người cô đơn trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng” để
đi vào nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề nói trên. Đây là một đề tài khá mới mẽ và hấp
dẫn, có tính cá nhân. Hơn nữa tôi cũng muốn nghiên cứu kiểu con người cô đơn để
thấy được cái hay, cái đẹp, quan niệm sống phong phú của các nhân vật con người
trong tiểu thuyết so với những con người ở ngoài thực tế.
2. Lịch sử vấn đề
Hồng lâu mộng là một tác phẩm lớn của văn học Trung Quốc, được xem như là
một mốc quan trọng trong lịch sử văn học của đất nước này, nó đánh dấu sự phát triển
mới của tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc. Nghiên cứu về Hồng lâu mộng là một quá trình
nghiên cứu đã từ lâu đời đến nay, vì đây là một kiệt tác đồ sộ của nền văn học lớn. Từ
khi Hồng lâu mộng ra đời, tại Trung Quốc – cội nguồn sản sinh ra tác phẩm – đã làm mưa
làm gió trong giới nghiên cứu một thời gian. Chính điều này, dẫn đến sự ra đời của một
phong trào, một bộ môn chuyên nghiên cứu về Hồng lâu mộng, gọi là ngành “Hồng học”.
Còn ở Việt Nam, tuy còn ít công trình nghiên cứu về Hồng lâu mộng, nhưng những nội
dung nghiên cứu về nó hầu như đã bao quát toàn bộ tiểu thuyết. Theo sự khảo sát thì có
đến hàng trăm bài viết, nghiên cứu liên quan đến Hồng lâu mộng. Những bài viết, nghiên

hồi của tiểu thuyết Hồng lâu mộng. Đối tượng nghiên cứu chính là những nhân vật
trong tác phẩm, mà những nhân vật đó là những con người có nhiều bi kịch, đẫn đến
trạng tái cô đơn.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong bài viết này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp hệ thống, thống kê
Và một số thao tác khác như tổng – phân – hợp, liệt kê, lấy dẫn chứng….
5. Đóng góp của tiểu luận
Đề tài này sẽ góp phần vào việc khai thác them một khía cạnh về mặt nội dung trong
việc nghiên cứu và tìm hiểu về tiểu thuyết Hồng lâu mộng của tác giả Tào Tuyết Cần.
6. Cấu trúc tiểu luận
- Chương 1: Các kiểu côn người cô đơn trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng
- Chương 2: Bi kịch của con người cô đơn trong tiểu thuyết hồng lâu mộng
- Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật con người cô đơn trong tiểu thuyết.
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1.
CÁC KIỂU CON NGƯỜI CÔ ĐƠN TRONG TIỂU THUYẾT
HỒNG LÂU MỘNG
1.1. Cô đơn do số phận-thân phận
1.1.1. Thân phận của tầng lớp quý tộc thượng lưu
Tiểu thuyết Hồng lâu mộng được Tào Tuyết Cần viết xoay quanh cuộc sống của
những con người sống trong chốn phồn hoa, khuê các. Nhưng những con người ở đây
cũng được phân bậc ra nhiều tầng lớp, xuất thân từ nhiều địa vị khác nhau. Hồng Lâu
mộng bàn về thân phận của những con người sống trong hai phủ Ninh Quốc và Vinh
Quốc. Người đứng đầu là Giả Mẫu- một người có uy lực và quyền hành to lớn nhất
trong nhà. Tầng lớp quý tộc hay còn gọi là tầng lớp được làm chủ có thể kể đến: Giả
Chính, Giả Xá, Giả Trân, Hình phu nhân, Vương phu nhân, Tiết phu nhân, Giả Liễn,
Phượng Thư, Giả Bảo Ngọc, ba chị em Tích Xuân, Nghênh Xuân, Thám Xuân Lâm

đều có anh chị em, có cha có mẹ còn mình thì duy nhất đơn độc: “ Đại Ngọc tự nhiên
gật đầu nghĩ ngay đến chỗ còn có bố mẹ thì sung sướng gì bằng, thế là nước mắt lại
tuôn trào trên mặt” (hồi 35). Rồi thẫn thơ thở dài : “Song Văn tuy là bạc mệnh, nhưng
còn có mẹ già, em bé, chứ Đại Ngọc này, cả mẹ già, em bé cũng không. Người xưa có
câu: “ hồng nhan bạc phận”. Ta chẳng là hồng nhan, mà sao bạc phận thế!” (hồi 35)
Bảo Ngọc và Đại Ngọc là hai nhân vật chính diện bộc lộ nỗi buồn, sự cô đơn
của mình ra bên ngoài, họ tự ý thức được cái tâm can của mình. Còn đối với những
thân phận như Tích Xuân, Thám Xuân, Nghênh Xuân thì sao? Tích Xuân không phải
con cháu ruột trong phủ Vinh là con của Giả Kính ở phủ Ninh, cô sinh ra cũng không
có mẹ, cha thì ẩn đời đi tu, nàng được đem sang phủ Giả sống cùng với các chị em nơi
đây, cuộc sống của Tích Xuân tuy được hưởng thụ trong chốn màn the nhưng nàng lại
thấy cuộc đời sao mà nó dơ bẩn, không trong sạch và rồi thì cứ chôn giật mình trong
những luân lý của nhà phật. Vì vậy lúc nào Tích Xuân cũng tỏ ra là người sống nội
tâm, không hòa đồng với mọi người. Còn đến Thám Xuân, là con của nàng hầu, với
Bài tiểu luận văn học Trung Quốc Trang 7
Con người cô đơn trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng
thân phận như vậy nàng luôn cảm thấy tự ti, sợ mọi người khinh rẻ, tâm hồn Thám
Xuân tuy vui vẻ hòa nhã nhưng cũng không kém phần sâu lắng trầm tư. Hơn nữa số
phận sau này của nàng còn chịu cảnh đi lấy chồng xa, vĩnh viễn không được đoàn tụ
với gia đình thì lại càng đáng buồn hơn. Số phận của Nghênh Xuân cũng không kém
phần bạc bẽo, khi nàng phải chịu kiếp lấy một người chồng vũ phu bạo lực, Nghênh
Xuân phải tự chuốc lấy điều không may mắn trong cuộc đời, nàng cô đơn tuyệt vọng
đến uất ức mà chết đi. Rồi thì đến Nguyên Xuân, là một cô gái tài giỏi nhất trong gia
đình và được tiến cử làm quý phi trong cung. Đáng lẽ nàng phải được hưởng một cuộc
đời hạnh phúc không ai sánh bằng, thế nhưng nàng lại phải chịu kiếp nạn của sự cô
đơn, đến héo mòn cả thể xác, và ra đi trong sự đau thương.
Sống trong cảnh phong gấm giàu sang, tuyết hoa là thế nhưng mỗi một con
người nơi đây đều mang trong mình một bản mệnh, một số phận ai cũng cho là sung
sướng là hạnh phúc ấy vậy mà những con người này lại chịu một kết thúc cuộc đời
trong đau đớn và cô độc

Xá ép cưới làm lẽ, bị Giã Liễn chồng của Phượng Thư để ý. Cô phải chịu cảnh ép buộc
làm nguời hầu đã khổ lắm rồi giờ lại chịu cảnh làm lẽ nữa thì nỗi khổ đó lại làm nhân
đôi. Uyên Uơng đã không thể chấp nhận trước sự ép buộc đó của Giả Xá , cô vừa cảm
thấy tủi nhục, đau đớn và tìm cách tự vẫn nhưng vì Giã Mẫu cảm động trước tấm lòng
trước con người của cô nên cô sống sót, nhưng lại sống trong nỗi bất hạnh cô đơn và
bất an về cuộc sống của mình. Hương Lăng, một số phận còn oan nghiệt hơn so với
những người khác. Hương Lăng là Anh Liên con gái của Chân Sĩ Ẩn, lúc nhỏ bị lạc.
Cô bị bán đi chỗ này đến nơi khác, sau đó bị Tiết Bàn mua về làm vợ lẽ. Được làm lẽ
thì đã hay chớ, thế nhưng số phận Hương Lăng chịu phải đó là sự đánh đập, chửi bới,
bóc lột thể xác của Tiết Bàn. Cuộc đời oan trái, đáng lẽ Hương Lăng được sống trong
một gia đình khuê các, được làm tiểu thư như bao người, ấy vậy mà giờ phải chịu cảnh
lầm lũi, sống cuộc sống hèn hạ phụ thuộc vào nguời khác.Tuy những con người này họ
đều chịu phải một sự tủi nhục, bị khinh rẽ, bị chà đạp nhân cách, nhưng nhìn cái vỏ bề
ngoài thì cứ tưởng họ được sống sung sướng với phong gấm. Đoạn Lý Hoàn nói với
Bình Nhi Ở hồi 4: “Đáng tiếc mặt mũi dáng điệu thế này mà số phận lại kém cỏi, chỉ
là người hầu hạ trong nhà mà thôi!” (hồi 43), cho chúng ta thấy được thân phận tủi
nhục của những con người này bị khinh miệt, bị phân biệt đối xữ mạnh mẽ.
Có lẽ thân phận của Kim Xuyến và Tình Văn là đau đớn nhất trong số những a
hoàn nơi đây. Bởi vì sắc đẹp, tài năng mà bị người ta ghen ghét, rùi vu oan dám họa
bởi thói trăng hoa của cậu chủ Bảo Ngọc mà họ phải chịu một cái chết bi thảm. Oan
nghiệt đến nhường nào, tủi hờn đến nhường nào khi họ phải chịu kiếp tôi đòi, phải làm
theo nguyện vọng ý thích của người khác. Những thân phận hẩm hiu như Tình Văn
chết đi mà không một ai thương tiếc, không một ai quan tâm. Cô chết đi trong sự nhạo
bang của bọn giai cấp địa chủ. Điều này cho ta thấy được cái oan trái của cuộc đời là
như thế nào.
Tóm lại thân phận của các a hoàn trong Giả phủ là những thân phận rẻ rúng, bạc
bẽo, đó là những thân phận phải chịu sự cô độc, đau đớn, chịu sự hành hạ của kẻ
mạnh, của tầng lớp quý tộc. Qua đây Tào Tuyết Cần muốn lên án tố cáo xã hội Trung
Quốc thời bấy giờ là một xã hội thối nát, mục ruỗng, một xã hội phân biệt đẳng cấp.
Đọc Hồng lâu mộng chúng ta là càng thương cảm hơn cho những số phận đó.

khoa cử. Thái độ đầu tiên của anh ta đối với chế độ này là trốn học, bỏ học. Anh ta
“không chịu nghiền ngẫm” các loại sách như Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh
Tử, Tả truyện … thì “nhớ làm sao được”. Ở hồi 82, Bảo Ngọc nói chuyện với Đại
Ngọc về việc đi học : “cô còn nhắc đến làm gì? Tôi ngán cái trò đạo học ấy rồi, buồn
cười nhất là thứ văn bát cổ, người ta mượn nó để lừa bịp, bòn chút công danh, kiếm
bát cơm ăn, nói thế còn được. Bây giờ lại còn bảo là nói thay lời thánh hiền cơ. Nhiều
lắm thì chẳng qua là đem kính truyện ra nhồi nhét vào đầu đấy thôi. Lại còn một điều
buồn cười hơn nữa là có những kẻ trong bụng rỗng tuếch chỉ vơ chỗ nọ, bỏ ra chỗ kia,
làm lếu láo thế mà lại cho mình là học sâu rộng, làm thế đâu có phải là phát triển đạo
lý thánh hiền!”. Anh ta cho rằng “ Văn bát cổ” không phải văn của thánh hiền đặt ra,
nên không thể khơi sâu được ý nghĩa, chẳng qua (nó) chỉ là cái bậc thang để cầu mồi
danh lợi của bọn người sau đó thôi”(hồi 82). Bảo Ngọc chán ngấy lời khuyên của
Tương Vân “Dù anh không muốn thi đỗ cử nhân, tiến sĩ thì cũng nên gặp gỡ những
bậc quan sang, bàn đến bước đường tiến cử để ra gánh vác việc đời, giúp nước giúp
dân, nên cần phải có bạn bè, quan lại, chứ quanh năm anh cứ luẩn quẩn với bọn chị
em chúng tôi thì còn được trò trống gì nữa” (hồi 32). Tai Bảo Ngọc không muốn nghe
điều “nhảm nhí” bèn đáp: “ Xin mời cô sang ngồi chơi bên nhà khác, chứ nhà tôi đây
thật nhơ bẩn đến những người hiểu biết việc trị nước giúp dân ấy”. Thấy được sự thối
nát của chế độ khoa cử, quan liêu thời đó, Giả Bảo Ngọc không chọn và đi theo con
đường ấy. Chàng xem kẻ đọc sách là mọt sách, mọt công danh. Nhiều lần BảoThoa
khuyên chàng lập thân dương danh, chàng trả lời:“Một người con gái trong trắng như
em mà cũng ham công danh phú quý như phường mọt dân hại nước sao?”.
Bài tiểu luận văn học Trung Quốc Trang 10
Con người cô đơn trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng
Bảo Ngọc lạc lõng giữa thế giới người, vì ai cũng mưu cầu danh lợi, địa vị, ai
cũng có những suy nghĩ tiến thủ tiến thân. Đặc biệt khi Tào Tuyết Cần cho xuất hiện
nhân vật Chân Bảo Ngọc ở hồi 115, con người giống y hệt Bảo Ngọc từ ngoại hình,
khuôn mặt đến dáng điệu đi đứng. Bảo Ngọc mừng thầm vì như gặp được tri kỷ vậy,
nhưng khi nói chuyện tiếp xúc với anh ta thì Bảo Ngọc lại nhận ra đây cũng là một
trong số bọn “mọt ăn lộc nước” mà thôi. Bảo Ngọc thấy sự có mặt của mình ở trong

Ngọc, nàng đã vứt nó đi và nói : “Cái thứ đàn ông thối tha nào đã cầm là tôi không thèm
nhận”. Đại Ngọc không khuyên Bảo Ngọc lập thân công danh, cũng không thèm nịnh nọt
với mọi người trong phủ Giả. Những hành động của nàng hoàn toàn khác biệt với những
con người khác ở đất Kim Lăng. Chính vì sự chán ghét cái đồi bại của xã hội phong kiến
đó, nên Đại Ngọc không lấy được sự yêu mến của mọi người trong gia đình. Nàng bị mọi
Bài tiểu luận văn học Trung Quốc Trang 11
Con người cô đơn trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng
người cho là tinh ranh, là một đứa con gái ngang bướng, không đủ chuẩn mực của con
nhà quý tộc. Do vậy mà Đại Ngọc thấy như mình cũng bị lạc lõng, bị bỏ rơi. Nàng thấy
buồn khi phải chịu đựng sự bó hẹp của lễ giáo, chính vì thế mà tình yêu của nàng dành
cho Bảo Ngọc là chân thành thực đó, nhưng nàng đâu có dám nói ra, suốt ngày nàng chỉ
cứ âm thầm lặng lẽ, rồi buồn tủi, khóc lóc.
Tóm lại, chế độ phong kiến, lễ giáo của giai cấp phong kiến đã làm cho con
người phải đi vào khuôn khổ. Nhưng đó là một sự bó hẹp chật chội đến nghẹt thở, làm
cho con người muốn thoát ra, để họ được sống một cuộc sống vui vẽ, hòa đồng
1.2.2. Con người khao khát được hòa đồng với cộng đồng người
Trong cuộc sống, ai cũng muốn sống vui vẽ, hòa nhã, hạnh phúc hòa đồng với tất
cả mọi người trong gia đình và ngoài xã hội. Trong quan niệm sống hiện đại thì điều đó
qủa là dễ dàng. Nhưng trong xã hội phong kiến thì vì nhiều quan niệm xã hội như phân
biệt giới, đẳng cấp … đã làm cho những con người nơi đây bị cô đơn lạc lõng. Tiểu thuyết
Hồng Lâu mộng của Tào Tuyết Cần là một bức tranh về hiện thực đó. Trong hồng lâu
mộng có nhiều lớp người, không chỉ là những lớp người thuộc tầng lớp quý tộc mà còn
một lớp người thuộc tầng lớp a hoàn. Sự đối lập giữa hai tầng lớp đó đã tạo ra một khoảng
cách cực kì lớn. Ấy vậy nhưng trong đây đã tồn tại một vài con người họ muốn gắn kết lại
cái khoảng cách ấy. Trong một xã hội đầy rẫy sự phân biệt đối xử với nhiều quan niệm
khác nhau nhưng những con người như Bảo Ngọc, Đại Ngọc lại đấu tranh cho sự phân
biệt đó. Đặc biệt là Bảo Ngọc, chàng không có gì phân biệt với các a hoàn mà ngược lại,
vô cùng thân thiện hòa nhã, quý trọng họ giống chị em của mình vậy. Vì sinh ra có sự
khác người, nên Bảo Ngọc luôn cảm thấy mình cô đơn trống vắng, không ai muốn thân
thiện với mình, không ai muốn chơi với mình. Vì thế nên hàng ngày chàng cứ muốn tìm

thằng Hưng với Vưu thị về tính tình của Bảo Ngọc:“ – Gặp bọn tôi, hễ vui thì cậu ta
chẳng kể đâu là chủ, đâu là tớ, nô đùa loạn xạ một hồi, nếu không thích thì ai đi đằng
nấy, cậu ta cũng làm ngơ. Bọn tôi đang ngồi hoặc nằm, thấy cậu ta cũng mặc kệ, cậu ta
chẳng nói năng gì”(hồi 66). Điều này ta thấy rằng Bảo Ngọc tìm đến niềm vui cho mình
bằng sự đối xử hòa nhã với tất cả mọi người, chàng muốn mọi người xem mình như là
anh, là em, là người bạn tốt. Vì Bảo Ngọc nhận thấy bản thể của mình là một con người
cô độc, tuy được mọi người yêu mến, nhưng không một ai làm chàng có thể tin tưởng, vì
vậy chàng càng khao khát bao nhiêu, thì chàng lại càng mất đi tất cả.
Bài tiểu luận văn học Trung Quốc Trang 13
Con người cô đơn trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng
CHƯƠNG 2.
BI KỊCH CỦA CON NGƯỜI CÔ ĐƠN
TRONG HỒNG LÂU MỘNG
2.1. Bi kịch về tình yêu
2.1.1. Tình yêu dưới sự áp đặt của gia đình trong lễ giáo phong kiến
Tình yêu là một thứ tình cảm thiêng liêng và cao quý, đó là một kết quả tốt đẹp để
dẫn tới hôn nhân. Thế nhưng trong Hồng lâu mộng, tình yêu ở trong cái xã hội đó lại
không có kết quả như vậy. Hôn nhân, tình yêu dưới xã hội phong kiến đương thời chịu sự
áp đặt của lễ giáo, của khuôn khổ “cha mẹ đặt đâu con ngôi đấy”. Vì vậy mà những con
người nơi đây họ không được lấy người mình yêu, để rồi họ đau khổ, đi đến tuyệt vọng,
buồn chán, và tột đỉnh đó là một bi kịch của cái chết. Sự áp đặt của gia đình của dòng tộc
được Tào Tuyết Cần tái hiện lại ở tiểu thuyết khá rõ nét. Trong Phủ Giả, có đến mười hai
tiểu thư xinh đẹp, tài giỏi, đáng nhẽ ra họ phải được hưởng một cuộc sống sung sướng,
hạnh phúc, ấy thế nhưng khi đến tuổi cập kê thì dần dần họ lại bị rơi vào tình cảnh bi đát.
Con người ta dù sống trong chốn phồn hoa có vui vẽ đến cỡ nào nhưng đến lúc bị vùi dập
trong chế độ hôn nhân hà khắc của gia đình thì chắc hẵn sẽ rơi vào trạng thái cảm thấy cô
độc, buồn chán, đầy bi kịch. Ta nói đến Nguyên Xuân, một cô gái tài hoa nhưng có phải
cô được lấy người mình yêu đâu, mà cô bị gả vào làm phi tần trong cung, phải sống một
cuộc đời bị gò bó, mất hết niềm vui. Rồi đến Nghênh Xuân lại không may bị gia đình gả
lấy người chồng bạo lực suốt ngày đập đánh uất phẫn cho đến chết mà không dám than

tủi, thương thương”, “ mừng là mắt không nhầm, ngày thường vẫn cho anh ấy là tri kỷ
giờ quả thật đúng là như vậy. Sợ là trước mặt người khác anh vẫn nghĩ đến mình, vẫn
khen ngợi mình đủ biết mối tình nồng nàn không e ngại tí gì, tủi là anh đã là tri kỷ của
tôi thì tất nhiên tôi cũng là tri kỷ của anh thì tại sao lại có chuyện vàng ngọc ở đây.
Mà dù có chuyện vàng ngọc ấy thì đáng lẽ là của anh và của tôi chứ tại sao lại có cô
Bảo Thoa vào đây? Thương là cha mẹ mất sớm dù có những lời ghi lòng tạc dạ nhưng
không có ai tác thành cho ta, vá chăng gần đây đã chớm có bệnh tinh thần hoảng hốt,
thầy thuốc bảo khí suy huyết kém sợ rồi sinh ra chứng lao. Tôi dù là tri kỷ của anh
nhưng sợ là không thể chờ lâu được anh dù là tri kỷ của tôi nhưng tôi bạc mệnh thì
làm thế nào? Nghĩ đến nông nỗi ấy Đại Ngọc không cầm nỗi nước mắt muốn đi vào để
gặp nhau nhưng lại nghĩ hơi trơ trẽn, đành gạt nước mắt quay về”. Qua đây ta thấy
được nỗi lòng của Đại Ngọc là một con người có nhiều suy nghĩ bề sâu, cô là một con
người có những suy tư âu buồn, khó diễn tả được thành lời. Một trái tim luôn khát
khao được yêu, được bày tỏ tình cảm chân thành. Ngày càng ngày thì tình cảm giữa
Bảo Ngọc và Đại Ngọc ngày càng thêm sâu sắc. Họ đã cố gắng vượt qua sự khắt khe
của lễ giáo để bộc lộ tình yêu, làm theo trái tim mình “ em ơi nỗi lòng có dám nói ra
dù chết cũng cam lòng. Vì em mà anh đeo bệnh nhưng đành chịu không dám nói với
ai, chỉ khi nào em khỏi bệnh thì may ra bệnh anh mới khỏi được, cả trong mơ anh
cũng mong muốn thấy em”. Tình yêu ấy ngày càng phát triển, có lúc nghe tin Đại
Ngọc sắp vào nam mà Bảo Ngọc như ngất đi. Khi Đại Ngọc ốm Bảo Ngọc như ngây
như dại, buồn phiền, đau đớn. Bảo Ngọc thể hiện tình cảm thật chân thành và cảm
động biết nhường nào “tôi chỉ có một trái tim, trước đây đã giao cho em Lâm rồi. Nếu
cô ta đến thì thế nào cũng mang tim đặt vào lòng tôi”.
Lâm Đại Ngọc cũng chỉ vì quá yêu Bảo Ngọc mà khi xem “thấy khăn lụa lúc
Bảo Ngọc đưa tặng và mình đã đề thơ vào dấu nước mắt còn hoen ố nàng quên cả
mặc áo, chỉ cầm hai mãnh lụa ấy ngẫn ngơ xem bài thơ cũ, bất giác nước mắt chảy
ròng”. Nàng vì quá yêu mà khi nghe tin Bảo Ngọc sắp cưới Bảo Thoa mà trong lòng
uất hận, sinh bệnh rồi chết trong đau đớn và cô đơn. Cái chết của Lâm Đại Ngọc là
một bi kịch thảm khốc triệt để. Nó tố cáo xã hội phong kiến đã vùi dập đã chà đạp lên
giá trị tinh thần đẹp nhất, trong sáng nhất của con người nơi đây. Giai cấp phong kiến

yêu bất diệt. Điển hình cho khát vọng tình yêu bên ngọn đèn xanh cửa phật đó là nhân
vật Tích Xuân và Diệu Ngọc.
Phải nói rằng, hai nhân vật Tích Xuân và Diệu Ngọc là hai con người đối lập
tương phản nhau hoàn toàn về tư tưởng lẫn tính cách. Tuy rằng, họ có cùng điểm
chung đó là những cô gái yêu thích cái đẹp, là những mỹ nhân trong hồng lâu mộng.
Sự tương phản dẫn đến bi kịch của mỗi người một khác, Diệu Ngọc từ cửa phật môn
muốn tồn tại ở cỏi trần, còn Tích Xuân thì muốn ẩn trần đi vào cửa phật. Rõ ràng tìm
hiểu kỹ tác phẩm chúng ta có thể nhận rõ ra được điều đó. Bi kịch tình yêu của Diệu
Ngọc đó là bi kịch tính cách, bi kịch của thời đại. Bởi vì sao? Vì Diệu Ngọc xuất thân
vốn không phải là ni cô, nhưng vì hoàn cảnh trớ trêu, như theo lời kể của Lâm Chi
Hiếu và Hình Tụ Yên thì do cô bệnh tật yếu ớt, nên tự mình vào cửa phật để an dưỡng.
Diệu Ngọc xuất thân trong gia đình quyền quý, giàu có, là tiểu thư ngàn vàng vốn
thích chơi khoái lạc, không lo buồn phiền nhưng cuộc đời trớ trêu lại để thân nàng
phải xuất gia vào cửa phật, bầu bạn với ngọn đèn xanh, vì vậy mà tâm hồn tuổi trẻ của
Diệu Ngọc trở nên buồn phiền, rầu não. Khi Diệu Ngọc vào kinh và được sống ở am
Lũng Thúy trong Đại Quan Viên của phủ Giả. Ở đây, cô cùng với các tiểu thư công tử
tài sắc ở đây suốt ngày vui chơi, đùa nghịch, ca hát nên Diệu Ngọc khó lòng tu tâm
tĩnh phật được. Diệu Ngọc làm ni cô nhưng nàng lại ham thích cuộc sống ở cõi trần,
Bài tiểu luận văn học Trung Quốc Trang 16
Con người cô đơn trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng
lòng nàng vẫn bùng cháy sự tươi trẻ của tuổi thanh xuân mãnh liệt. Diệu Ngọc là một
cô gái mạnh mẽ trong tính cách, một cô gái đầy đủ tài năng và sắc đẹp, thế nhưng kết
thúc cuộc đời của cô tràn đầy bi kịch. Đi ngược lại với thực tại, khi cô đang mang trên
mình chiếc áo cà sa và chuỗi trân châu ấy vậy mà tâm hồn cô lại thoát ra khỏi lớp vỏ
bề ngoài đó, để hòa mình vào với cộng đồng, với mọi người xung quanh để được
thưởng thức hương vị của cuộc sống. Khi Diệu Ngọc đến phủ Giả, nàng đã đem lòng
yêu thầm Bảo Ngọc. Nhưng tình yêu củ Diệu Ngọc dành cho Bảo Ngọc không ai hiểu,
không ai biết và ngay chính Bảo Ngọc cũng không hề biết. Vì sao vậy? Bởi vì Diệu
Ngọc đã có ánh hào quang của phật tổ bao trùm cả con người của nàng, có ai biết rằng
tâm hồn của nàng đã thoát phật từ bao giờ đâu. Ngay từ sự quan tâm nhỏ nhặt đối với

cảm của nàng khiến chúng ta khó mà quên đi được. Bi kịch mà Tích Xuân nếm phải
đó chính là bi kịch từ cuộc sống và từ tình cảm của gia đình. Nàng cảm giác như bị
Bài tiểu luận văn học Trung Quốc Trang 17
Con người cô đơn trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng
thiếu thốn một thư tình cảm, tình yêu của con người đối với mình, và rồi dần dần nàng
không còn tin vào tình yêu giữa con người với con người nữa. Tích Xuân có một đặc
điểm tính cách hết sức cô độc và lạnh nhạt từ đầu đến cuối tiểu thuyết, chưa một lần
nào tác giả miêu tả nàng vui vẻ, hòa nhã với mọi người xung quanh, lúc nào nàng cũng
nhắc đến thế giới cõi phật, nhắc đến sự giác ngộ. Để lý giải về tính cách của Tích
Xuân, chúng ta thấy rõ chế độ phong kiến thời xưa đã biến con người trở thành như
vậy, họ đã không còn tin tưởng vào luân lý đời người, họ mất niềm tin vào cuộc sống.
Vì vậy mà Tích Xuân cảm thấy cô đơn, lạnh lẽo, để rồi nàng tìm đến cõi phật để giải
thoát. Tích Xuân thấy được cái buồn, nỗi đau khổ trong niềm vui của chị cả Nguyên
Xuân khi về thăm nhà, nàng nhìn thấy Nghênh Xuân sau khi lấy chồng bị ngược đãi
đến nỗi uất ức mà chết đi trong đau đớn, rồi đến Thám Xuân thì lấy chồng xa đến nỗi
không thể trở về thì lại càng thương xót hơn. Dần dần nàng cảm thấy cuộc đời mình
thật trống trải, buông xuôi tất cả.“ Biết rõ ba xuân cảnh chóng già-Thời trang đổi lấy
áo cà sa-Thương thay con gái nhà khuê các-Một ngọn đèn xanh cửa phật bà”. Đọc bài
thơ Tích Xuân viết ra từ nỗi lòng tâm ý của mình chúng ta càng thấy đắng cay, chua
xót cho cô gái trẻ này, một người con gái xinh đẹp tài sắc ấy, vậy mà phải trốn chạy
khỏi chốn bụi trần, thoát tục để bước chân vào cõi thiền. Tội nghiệp biết bao, thương
cảm biết nhường nào cho số phận bi thương đó. Người đọc không khỏi rơm rớm nước
mắt cho cuộc đời của Tích Xuân, chúng ta lại càng lên án tố cáo cái xã hội phong kiến
thối nát đã vùi dập con người, vùi dập đi tình yêu, sức sống của tuổi trẻ. Tuy rằng bi
kịch của Diệu ngọc và Tích Xuân đưa lại một kết cục không giống nhau, một người thì
từ cõi phật thoát ra để đến cõi trần tục, một người thì từ người trần thì lại muốn vào
chốn phật. Nhưng ở họ đều cùng chịu sự đau khổ, đau đớn trong tình yêu, ở đó họ luôn
khao khát có được một tình yêu hạnh phúc, ấy vậy nhưng họ phải nhận lấy một bi kịch
thảm hại của cuộc đời.
2.1.3. Con người khao khát được sống được yêu

giá, đòi hỏi được tôn trọng bình đẳng. Cho dù là tầng lớp nghèo khổ nhưng không chịu hèn,
chịu nhục. Đặc biệt trong tình yêu Vưu Tam Thư thể hiện rõ tư tưởng tiến bộ của mình. Nàng
nhất định giành lấy tự chủ trong lựa chọn trăm năm “ việc này quan hệ suốt đời, chọn được
người như ý muốn mới lấy”. Nàng yêu Liễu Tương Liên và âm thầm chờ đợi “ một trăm năm
nữa anh ấy không về thì đành đi tu” khi bị Liễu Tương Liên đánh đồng, xúc phạm, hiểu
nhầm nàng “trong phủ Giả chỉ còn có hai con sư tử đá là còn trong sạch” và đòi lại bảo kiếm
Uyên Ương, Vưu Tam Thư đã tự vẫn để bảo vệ khí tiết, lòng tự trọng và chứng minh cho trái
tim nồng hậu chung thủy của mình. Cuộc đời ngắn ngủi của nàng đã sống quyết liệt để đấu
tranh đòi quyền tự do dân chủ, mưu cầu hạnh phúc cá nhân chính đáng cho riêng mình.
Tư Kỳ là a hoàn của Nghênh Xuân, nàng yêu Phan Hựu An, và khi người ta
khám xét đại quan viên thấy trong đồ của nàng có một đôi bít tất và một đôi giày của
đàn ông, một thứ đồ chơi kiểu đồng tâm như ý thì nàng bị đuổi ra khỏi vườn nhưng Tư
Kỳ không vì thế mà hổ thẹn, không vì việc đó mà từ bỏ tình yêu của mình. Ngược lại
con người nhỏ bé đó đã yêu, quyết yêu và chung thủy đến cùng với người yêu. Dù xã
hội lên án, gia đình từ bỏ cũng không làm nàng thay lòng đổi dạ. Khi bị mẹ ép gả
chồng, nàng đã lấy cái chết để phản kháng. Tư kỳ là người con gái dám yêu, dám
nhận, dám lấy cái chết của mình để chứng minh trên đời này còn có tình yêu.
Tình Văn cũng là một đại diện tiêu biểu cho lớp người nhỏ bé trong xã hội mà có
tinh thần tiến bộ đấu tranh chống phong kiến. Ở con người này hộ tụ nhiều phẩm chất
xinh đẹp, sắc sảo và tài năng. Tính cách rất trung thực, thẳng thắn, trong sáng. Đặc biệt
Tình Văn mang trong mình tinh thần phản kháng mạnh mẽ đối với những điều xấu xa bất
công ngang trái của cuộc đời. Nàng lên án quan hệ mờ ám giữa Tập Nhân và Bảo Ngọc,
dám lớn tiếng cảnh cáo , dám ra mặt chống đối hành động xúc phạm danh dự con người
của Vương phu nhân. Nàng hiểu thế nào là ô nhục, khẳng định con người phải có lòng tự
trọng, phải biết giữ lấy danh dự của mình. Ở con người Tình Văn luôn có tấm lòng ngay
thẳng có ý chí quyết tâm và khát vọng vươn lên cái đẹp, tự do bình đẳng. Nàng đấu tranh
cho khát vọng ấy đến cuối cùng. Vì tinh thần phản nghịch ấy mà đến lúc chết Tình Văn vẫ
Bài tiểu luận văn học Trung Quốc Trang 19
Con người cô đơn trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng
bị cô lập không được chăm sóc, thế nhưng nàng vẫn tỏ ra không yếu đuối mà chấp nhận

nàng cũng chưa được xem là thành viên chính thức ở trong nhà .
Sống trong một địa vị giàu có, những cô chủ, cậu chủ nơi đây chỉ biết tận hưởng
những gì tốt đẹp nhất, ấy vậy mà con người họ cũng còn thấy cô quạnh, trong cái cuộc
sống thanh tịnh đó lại ẩn chứa bao nhiêu “nỗi buồn man mác khôn nguôi”. Có ai bảo
rằng Nguyên Xuân khi được vào hoàng cung và được phong chức quý phi là sung sướng
đâu, nàng phải chịu cảnh làm lẽ, phải đối diện với nhiều lời ra tiếng vào trong hoàng
cung, nàng cảm thấy xa gia đình, xa những người thân là một điều vô cùng đau buồn. Ở
đoạn lúc Nguyên Xuân về thăm nhà mà mừng mừng tủi tủi : “Giả phi ngồi trên kiệu
trông thấy quang cảnh trong và ngoài vườn, lẳng lặng thở dài: “Xa hoa quá”( hồi 18).
Bài tiểu luận văn học Trung Quốc Trang 20
Con người cô đơn trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng
Quang cảnh phủ giả được miêu tả:“Trong vườn đại quan, màn rồng, rèm phượng, vàng
bạc châu báu choáng lên khắp nơi”( hồi 17-18).Trong suy nghĩ của Nguyên Xuân khi
nàng nói hai từ “xa hoa” nó mang nhiều ý nghĩa, thứ nhất đó là niềm vui, tự hào khi gia
đình mình lại giàu sang đến như vậy, nhưng bên cạnh đó còn là nỗi buồn, sự tủi thân, cô
đơn của nàng, khi nghĩ lại bản thân mình tuy được sống ở hoàng cung nhưng lại cực khổ
biết nhường nào, về nhà lại thấy sự xa hoa sung túc thì quả thật vừa mừng vừa tủi.
“Những nhà thôn quê, dưa muối sồi vải, lại được hưởng thú đoàn tụ trong gia đình. Nay
ta phú quý, nhưng cốt nhục phân ly, cũng chẳng có thú gì.”
Cuộc sống của hai phủ Ninh và phủ Vinh ngày nào cũng như ngày nào thời gian
cứ dần trôi nhưng con người ở đây luôn được hưởng cuộc sống sung sướng. Từ tổ
chức yến tiệc sinh nhật đến đám tang cho Tần Khả Khanh,…trong phủ Ninh đều tiêu
xài phung phí, sang trọng, không cân nhắc đến chuyện tiền bạc được bao nhiêu là xài
bấy nhiêu. Nhưng trong cái giàu có, xa hoa đó, đã có biết bao con người họ cảm thấy
nhàm chán, họ cảm thấy cô quạnh khi sống trong đó không phải là thế giới của họ. Đại
Ngọc cũng vậy, nàng thấy rằng cuộc sống ở phủ Giả khiến nàng chán ngắt, tuy vui là
vui thật đấy, sung sướng cũng không nơi nào bằng. Nhưng mà sao nơi đây, cứ có một
cái gì của thể chế, một cái gì của sự ghanh ghét của con người với con người. Vì vậy
nàng luôn đặt mình vào sự bất an, luôn thấy giằn vặt, lo âu cho số phận hẩm hiu của
mình, rồi suy nghĩ nhiều quá thì suốt ngày chỉ có bệnh tật triền miên mà thôi. Thương

cả bọn a hoàn ở nhà bà đến, tuy không tiện tra khảo, nhưng cũng bắt chúng nó quỳ lên
mảnh sành ở ngoài nắng, cơm không cho ăn, nước không cho uống, nếu không thú thực
thì cứ quỳ mãi, dù gan sắt cũng chỉ một ngày là chúng nó thú ra hết”( hồi14). Qua những
lần trách phạt người hầu của nàng, chúng ta thấy có bao nhiêu cái chết oan uổng diễn ra,
thêm vào đó là những trận đòn roi vào thân thể của những người hầu.Cuộc sống của
những con người ấy trong xã hội phong kiến là không được coi trọng, họ chịu khổ, bị bóc
lột một cách tàn nhẫn và các bà chủ, cậu chủ ấy không có cảm giác thương xót. Người ta
chỉ cần vứt thêm mấy đồng tiền là có thể che đậy được những cái chết của những con
người ở đẳng cấp dưới. Chính cái cuộc sống này đã làm cho Tình Văn phải chết đi, mà
không được một lời an ủi, không một sự thương tiếc. Chính cái cuộc sống nghèo hèn đó
mà đã khiến Tư Kỳ phải đập đầu vào tường tự vẫn. Đáng nhẽ ra Tư kỳ phải được thừa
hưởng hạnh phúc với người mình yêu, nhưng vì gia đình quá nghèo túng, cha mẹ nàng đã
ép buộc không cho nàng lấy người mình yêu. Cái chết của Tư Kỳ không những chỉ là sự
vùi dập một mình bản thân nàng, mà nó còn vùi dập cả một cộng đồng, cả hàng vạn con
người phải chịu số kiếp giống nàng.
2.3. Bi kịch của những con người trung thành với đạo đức lễ giáo phong kiến
Nhắc đến những con người trung thành với đạo đức, lễ giáo phong kiến, trong
tiểu thuyết Hồng lâu mộng tồn tại hai con người, đó là Lý Hoàn và Tiết Bảo Thoa. Với
vẽ đẹp sắc sảo của Tiết Bảo Thoa cùng với một triết lý sống “an phận tùy thời”, “giả
ngu giả dại”, lúc nào cũng đều tỏ ra “đoan trang hiền thục”.Cô tiểu thư với phong tư
lộng lẫy này đã có lúc làm cho Giả Bảo Ngọc hể gặp cô chị là quên khuấy cô em.
Như ở hồi thứ 5, lần đầu tiên Bảo Thoa đến Giả phủ, tác giả đã giới thiệu Bảo
Thoa là một người “có hành vi khoát đạt, biết phận biết người, không như Đại Ngọc
tự cao tự đại, mục hạ vô nhân, nên so với Đại Ngọc thì Bảo Thoa có tấm lòng quảng
bát, đại lượng”. Hoặc ở hồi thứ 8, tác giả cũng đánh giá Bảo Thoa như thế “điềm đạm,
ít nói, có người cho già giả dại, tùy thời đối xử, tự mình chỉ biết phận mình”.Qua đây
ta thấy Bảo Thoa là một con người nhã nhặn, không khéo trong ứng nhân xử thế, và là
một người phụ nữ đúng chuẩn mực của xã hội giai cấp, xã hội phong kiến. Tuy cùng
quan hệ là chị em họ ngoại, nhưng Tiết Bảo Thoa lại có được lợi thế, được mọi người
yêu thương hơn Đại Ngọc. Đến phủ họ Giả, nàng luôn lấy được lòng của mọi người:

chịu cảnh góa bụa khi chồng nàng ra đi. Đó là bi kịch của kẻ tôn thờ chủ nghĩa phong
kiến. Mặc dù nàng là một “công dung ngôn hạnh”, là một kiểu phụ nữ lý tưởng.
Nhưng trong tình yêu lại không cần điều đó, tình yêu đó là trái tim, là sự đồng cảm
giữa người với người. “Hồng Lâu Mộng” là một vở bi kịch lớn, bi kịch tình yêu giữa
bộ ba Giả Bảo Ngọc, Lâm Đại Ngọc và Tiết Bảo Thoa là tấn bi kịch tạo nên cốt cách
tác phẩm. Đọc Hồng Lâu Mộng khiến người ta buồn rầu, khiến người ta thương cảm,
khiến người ta khóc. Bi kịch của Bảo Thoa trở thành góa bụa cũng giống như bi kịch
mà Lý Hoàn nhận lấy. Đối với Lý Hoàn, tuy không được miêu tả kỹ càng như Bảo
Thoa nhưng bản chất bên trong của con người Lý Hoàn cũng là một con người trung
thành với chuẩn mực của đạo đức phong kiến. “ Lý Hoàn tuổi trẻ thủ tiết chưa chắc
lòng nàng không đau khổ, nhưng nàng không để nỗi khổ ấy bộc lộ ra ngoài một cách
dễ dàng, nó được hình dung như một loài hoa mà nàng rút được ghi trên một thẻ
thăm. Nàng như một cây mai già chốn “ nhà tranh giậu trúc nhưng lòng vẫn vui”,
nàng thường lấy cái dáng vẻ lạnh lùng đặc biệt của mình xuất hiện trước mọi người”
[3;151]. Lý Hoàn chiu kết cục góa bụa, không phải vì nàng mong muốn như vây,
chẳng qua đó là số phận nàng phải hứng chịu sau khi người chồng của nàng là Giả
Châu qua đời. Nhưng Lý Hoàn lại sống đúng mực của một người phụ nữ đã góa
chồng. Nàng rất e dè trong các công việc của gia đình, nàng sống một cách tù túng bản
thân. Vì vậy, nàng rất cô đơn, rất buồn tủi, nàng sống cho đứa con của mình. Tuy là
Bài tiểu luận văn học Trung Quốc Trang 23
Con người cô đơn trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng
con dâu cả, nhưng khi chồng đã mất đi rồi, Lý Hoàn có đâu được những cái thứ quyền
hành như bao người khác. Vì nàng qúa trung thành với tư tưởng phong kiến khi chồng
chết thì ở vậy thờ chồng. Chính cái tư tưởng và cách sống đó đã đưa nàng dẫn tới bi
kịch nghiệt ngã, sống trong cô đơn, sống trong đau khổ mà thôi.
Tóm lại cả Tiết Bảo Thoa lẫn Lý Hoàn đều là những con người sống đúng
chuẩn mực của giai nhân phong kiến. Thế nhưng nhận được cho mình những gì? Họ
nhận được những sự mến phục của xã hội thời xưa. Nhưng đó chỉ là một phần, còn cái
họ nhận được nhiều hơn đó chính là bi kịch của cuộc đời, bi kịch đau đớn nhất mà họ
phải nhận lấy, đó là sống trong cô đơn. Tào Tuyết Cần đã rất thành công khi xây dựng

là tuyệt vời. Nơi đây đã khiến cho con người có một cảm giác thoải mái, tự do, được
sống một cuộc sống rộn vang tiếng cười vui vẻ, hạnh phúc.
Đại Quan Viên là nơi đẹp đẽ như thế, giúp con người tận hưởng được những
phút giây êm đềm là thế. Nhưng nơi đây đã diễn ra những xung đột tình cảm, sự ra đi
của các nữ tì xinh đẹp với một số phận đầy đau thương và nước mắt cũng như sự tủi
nhục của Tình Văn, Kim Xuyến, Tư Kỳ và đặc biệt hơn là sự ra đi của trong cái chết
uất ức cô độc của tiểu thư Lâm Đại Ngọc. Ở tầm cao hơn nữa, nơi đây đã làm con
người của Giả Bảo Ngọc thay đổi trong vòng xoáy của niềm vui, nỗi buồn, có lúc tuyệt
vọng dẫn đến sự cô đơn trong con người của anh được lộ ra rõ nét. Chốn đại quan thần
tiên này đã trở thành nơi những con người đẹp đẽ ẩn mình và thực hiện những mong
muốn của bản thân. Nó nuôi dưỡng và níu chặt cái đẹp, cái vui, cái hạnh phúc của con
người. Và khi những con người sống trong không gian này ra đi bởi những bi kịch thì
Đại Quan Viên này cũng trở nên hoang lạnh.
Không gian nơi đây gắn liền với những con người và rất phù hợp với tính cách
của họ. Nếu là Bảo Ngọc thì đó là một không gian tươi tắn, sinh động với màu sắc tươi
trẻ, mĩ miều như con gái. Còn không gian của Đại Ngọc ở thì là nơi thanh u, tao nhã,
Bài tiểu luận văn học Trung Quốc Trang 25

Trích đoạn Miêu tả tâm lý trực diện Miêu tả tâm lý gián tiếp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status