A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Xã hội ngày nay, song song cùng những bước tiến tích cực về mọi mặt là
những tồn tại đầy nhức nhối mà bất kì một người có nhân cách, lương tâm nào
cũng đều phải trăn trở. Một trong những tình trạng đáng buồn của ngành giáo
dục của chúng ta hiện nay là tình trạng học sinh đánh nhau, vô lễ với thầy cô
giáo, bỏ học, tự tử, tham gia vào các tệ nạn xã hội…xuất hiện ngày một nhiều.
Nguyên nhân thì có nhiều nhưng có lẽ, nguyên nhân cơ bản nhất vẫn là do các
em thiếu kĩ năng sống.
Kĩ năng sống không phải là vấn đề mới mẻ nhưng giáo dục kĩ năng sống
cho học sinh một cách hiệu quả cũng không phải là vấn đề đơn giản. Đặc biệt là
học sinh lớp 12 THPT. Đây là lứa tuổi đang ở ngưỡng cửa của một công dân
trưởng thành, độ tuổi không còn là trẻ con nhưng cũng chưa thành người lớn,
mọi suy nghĩ và hành động còn nông nổi, cảm tính; giàu ước mơ, ham hiểu biết,
thích tìm tòi, khám phá nhưng còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, mua
chuộc, kích động… Là năm cuối cùng của cấp trung học, các em phải đương đầu
với nhiều khó khăn, thách thức, phải chịu nhiều áp lực…Vì vậy, nếu thiếu những
kĩ năng sống cơ bản, học sinh lớp 12 dễ mắc những sai lầm nghiêm trọng như
thực tế chúng ta đã chứng kiến không ít trường hợp đau lòng: có học sinh khá-
giỏi đã tự tử vì thi trượt đại học, có học sinh lớp cuối cấp tìm lẽ sống của mình ở
trò chơi điện tử…Hơn nữa, đã là học sinh lớp 12 thì chỉ cần một thời gian ngắn
nữa là đa số các em phải bước vào cuộc sống tự lập, phải tự mình ứng phó với vô
vàn những tình huống khác nhau của cuộc sống phức tạp và ít có sự can thiệp,
giúp đỡ của người thân trong gia đình. Vì thế giáo dục kĩ năng sống cho các em
học sinh lớp 12 càng cấp thiết hơn bao giờ hết.
- 1 -
Môn ngữ văn trong nhà trường THPT là môn học có nhiều ưu thế trong
việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh nói chung và cho học sinh lớp 12 nói
riêng.
Vì những lí do trên, với tư cách là một giáo viên dạy ngữ văn, tôi đã trăn
trở và thử nghiệm cách rèn luyện những kĩ năng sống cho học sinh lớp 12 qua
trẻ không chỉ chú trọng dạy chữ mà còn phải quan tâm đến nhiệm vụ dạy người ,
con người không chỉ cần có tri thức mà phải biết sống đúng, sống đẹp, sống có
ích. Muốn như thế con người nhất thiết phải có kĩ năng sống. Vì người có kĩ
năng sống mới luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách; biết ứng xử, giải
quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống một cách tích cực và phù hợp; luôn lạc
quan, làm chủ bản thân và làm chủ hoàn cảnh. Có thể nói: kĩ năng sống là “chiếc
chìa khóa vạn năng” giúp con người từng bước khẳng định bản ngã của chính
mình. Hơn thế, người có kĩ năng sống luôn có hành vi tích cực để góp phần xây
dựng và làm giảm bớt các tệ nạn xã hội, làm cho cuộc sống tươi sáng và văn
minh hơn.
Tuổi trẻ nói chung, đối tượng học sinh lớp 12 nói riêng là những chủ nhân
tương lai của đất nước, là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước trong
những năm tới. Nếu thiếu kĩ năng sống, các em không thể thực hiện tốt trách
nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và đất nước. Do đó đất nước khó có
thể phát triển theo chiều hướng tích cực như mong muốn.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và nền kinh tế thị trường của nước ta hiện
nay, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh còn nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo
dục phổ thông, hướng tới mục tiêu: đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn
- 3 -
diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, nghề nghiệp; trung thành với lí tưởng độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất
và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất
nước.
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong các nhà trường phổ thông cũng
là xu thế chung của nhiều nước trên thế giới.
3. Đặc trưng của bộ môn ngữ văn lớp 12 và những ưu thế của nó trong việc giáo
dục kĩ năng sống cho học sinh.
“Văn học là nhân học” (M.Gorki), văn học với tư cách là môn khoa học xã
hội và nhân văn, nó không chỉ giúp học sinh hiểu biết về văn hóa, xã hội, lịch sử,
con người mà còn giúp mỗi người tự hiểu hơn về chính mình; với tính chất là
rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh nhưng thực tế chẳng có gì là cụ thể, thậm
chí làm cho giờ học phức tạp và rối rắm hơn. Bản thân tôi, khi mới tiếp cận với
vấn đề cũng có những cảm nhận như thế. Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay, học
sinh chẳng mấy thiết tha với môn văn nên việc “tích hợp” càng khó khăn hơn.
Một điều đáng nói nữa là đa số phụ huynh, học sinh lớp 12, ngay cả phần lớn
giáo viên dạy khối học này cũng đều xác định mục tiêu quan trọng nhất của việc
học cho lớp 12 là “học để thi” chứ không phải là “học để làm người”. Xác định
mục tiêu như thế nên kiến thức phải luôn đặt ở thế “thượng phong”, việc giáo
dục kĩ năng sống cho học sinh 12 chỉ mang tính chất “tự phát” và “tùy hứng” chứ
không mang tính chiến lược nên hiệu quả chưa có.
3. Thực trạng đối với học sinh:
- 5 -
Mỗi tháng, trường chúng tôi đều phải tổ chức những buổi họp Hội đồng kỉ
luật để xử lí những vụ đánh nhau mà đôi khi vì những lí do chẳng đâu vào đâu,
các em cũng “thượng cẳng tay, hạ cẳng chân” với nhau để lại hậu quả nghiêm
trọng đối với từng cá nhân học sinh, với gia đình, với nhà trường, với cả xã hội.
Học sinh lớp 12 mà chỉ cần một ánh mắt, một câu nói đùa của bạn đã có thể gây
ra một vụ ẩu đả ra trò. Đó chẳng phải do các em thiếu kĩ năng làm chủ cảm cảm
xúc, kĩ năng ra quyết định phù hợp đó sao? Mỗi ngày, các giáo viên chủ nhiệm
đều phải xử lí tại lớp mình bao nhiêu trường hợp nghỉ học để đi chơi game, bao
nhiêu trường hợp vô lễ với thầy cô giáo…Xử lí nhiều, kỉ luật nhiều, thậm chí có
những trường hợp kỉ luật nặng (đuổi học) nhưng tình hình vẫn không thay đổi
được là bao. Trong trường có biết bao nhiêu em rơi vào tình trạng “ăn không nên
đọi, nói không nên lời”, khi được thầy cô giáo chỉ định trả lời một câu hỏi thì ấp
úng, lúng túng, không thể diễn đạt nổi… Vấn đề cốt lõi của cái gốc thực trạng
đau lòng ấy chính là do các em thiếu những kĩ năng sống quan trọng: kĩ năng
làm chủ cảm xúc, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng ra quyết
định, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ…Thiết nghĩ, không thể khắc phục được thực
trạng đáng buồn ấy bằng kiểu “học thi” như bây giờ mà phải chú tâm thỏa đáng
đến việc rèn luyện cho các em những kĩ năng sống để “làm Người”
trên một tờ phiếu học tập, tất cả mọi người đều phải đưa ra chủ kiến của riêng
mình. Tôi chọn một số ý kiến (có thể để các em xung phong, cũng có khi chỉ
định bất kì), gọi một học sinh khác đọc to các ý kiến đó lên cho cả lớp cùng
nghe, cùng thảo luận, để thống nhất cách giải quyết tốt nhất. Với tình huống trên,
học sinh có thể có nhiều cách giải quyết khác nhau, chẳng hạn:
- 7 -
- Tìm cách trốn tránh, xa lánh, không chơi với bạn nữa vì sợ bị lây nhiễm.
Con người ta không thể cẩn thận tuyệt đối được và trong khi tiếp xúc với người
bệnh không thể chắc chắn rằng mình không bao giờ bị lây nhiễm.
- Vẫn giữ mối quan hệ bạn bè nhưng thận trọng và giữ một khoảng cách
nhất định khi tiếp xúc với bạn ấy. Vì mặc dù biết HIV không lây qua đường tiếp
xúc thông thường nhưng vẫn sợ, đó là bệnh nan y chưa có thuốc chữa, nhỡ may
sơ ý khi cả 2 cùng bị chảy máu, mình sẽ tự hủy hoại chính mình.
- Quan tâm chăm sóc, gần gũi, giúp đỡ bạn bằng tất cả những gì mình có
thể để bạn không rơi vào tình trạng mặc cảm, chán nản, bi quan. Vì lúc này là lúc
bạn cần mình nhất, lúc thể hiện tình bạn đẹp nhất.
…
Sau khi cho các em thảo luận, giáo viên định hướng chung để thống nhất
cách giải quyết: Nên gần gũi, giúp đỡ bạn bằng cả tình thương và trách nhiệm
nhưng tất nhiên phải cẩn thận để tự bảo vệ cho chính mình. Tìm hiểu kĩ để có
kiến thức thật vững vàng về căn bệnh, cũng như chú ý, quan tâm đến diễn biến
tâm lí, tình cảm của người bạn để chăm sóc bạn hiệu quả nhất và an toàn nhất.
Ví dụ 2: Khi dạy “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài, đến chi tiết: A Phủ đánh
A Sử trong lễ hội mùa xuân vì A Sử cậy quyền thế mà phá đám cuộc chơi. Tôi
sẽ đặt ra tình huống vận dụng: Giả sử, bạn là A Phủ, trong hoàn cảnh trên bạn
sẽ xử sự thế nào? Học sinh cũng sẽ có nhiều cách xử trí khác nhau như:
- Sẽ đánh A Sử như A Phủ đã đánh hắn để hắn bớt thói hống hách, cậy thế
làm càn.
- Sẽ tự kiềm chế mà bỏ đi để tránh bạo lực và để khỏi “rước vạ” vào thân.
- Sẽ tổ chức một cuộc gặp gỡ để dùng lí lẽ mà thuyết phục đối phương
- 9 -
học tập khiến cho những vấn đề đưa ra đối thoại được nhìn nhận đa dạng, phong
phú, toàn diện hơn. Hơn nữa, Khi HS được tự do phát biểu một cách độc lập,
sáng tạo theo cảm nhận cá nhân, giáo viên sẽ có cơ sở và điều kiện để phát huy
vai trò chủ thể HS trong giờ học, lớp học trở nên sinh động, và việc tiếp thu kiến
thức của HS trở nên tự nhiên, sâu sắc hơn.
Nhưng một nghịch lí đáng buồn là trong các nhà trường hiện nay hiện
tượng lười xây dựng, phát biểu bài trở nên ngày càng phổ biến. Việc ngại hỏi,
ngại nói, ngại tranh luận trong lứa tuổi học sinh, nhất là học sinh THPT đã và
đang để lại những hậu quả bất lợi cho cả thầy và trò, cho chất lượng dạy-học,
trong đó người chịu thiệt thòi nhiều nhất chính là các em; đã khá nhiều lần chúng
tôi và các đồng nghiệp trao đổi, bàn tán về việc chán nản trước hiện tượng lớp
học này, lớp học kia lười phát biểu, xây dựng bài. Nhiều lần thầy cô giáo ra câu
hỏi, dù chỉ là những câu hỏi trong sách giáo khoa nhưng hỏi đi hỏi lại 2, 3, 4 lượt
nhưng các em vẫn ngồi im thin thít như tượng gỗ, và thầy cô rơi vào hoàn cảnh:
“miệng liền tai, nói lấy, nghe lấy rồi tự trả lời lấy” những tình huống như vậy
thường gây tâm lí ức chế cho thầy cô rất nhiều, thậm chí chán nản, không tha
thiết với công việc của mình.
Bên cạnh đó, việc lười xây dựng phát biểu bài của các em còn nảy sinh
tâm lí thụ động, chờ đợi, co cụm, ỷ lại nên học sinh khó nắm bắt và làm chủ kiến
thức của bài học, lâu ngày sẽ tạo thành thói quen thiếu tự tin, hạn chế tính tư duy
sáng tạo của người học, vì vậy trí nhớ giảm sút, học lực giảm, không phát huy
được ưu điểm cũng như không khắc phụ được nhược điểm của mình; đồng thời
việc rèn luyện kỹ năng, khả năng giao tiếp, kỹ năng ứng xử của các em với cộng
đồng sẽ gặp nhiều hạn chế. Điều đó sẽ làm cho giáo dục đào tạo ra một lớp
người lạc hậu, kém năng động, kém sáng tạo, không giám khẳng định mình, co
mình như con rùa rụt cổ, không dám mạnh dạn đứng lên phê phán , chống lại cái
- 10 -
sai, cái ác, bảo vệ cái đúng cái thiện, thậm chí đồng tình, đồng lõa với các thói
hư tật xấu là điều khó tránh khỏi.
lời lẽ, lập luận để chỉ ra cái sai trái trong hành động của người chồng. Nếu bản
chất của người chồng là tốt đẹp thì không có lí do gì mà cảnh tượng ấy lại tái
diễn
Để có những cuộc đối thoại đạt hiệu quả, tôi xác định những vấn đề trọng
tâm, mở ra nhiều cách giải thích khác nhau, kích thích khả năng tư duy sáng tạo,
thúc đẩy HS bộc lộ quan điểm và đối thoại. Những tình huống nêu ra để HS tham
gia đối thoại vừa không thoát li tác phẩm, vừa phù hợp với trình độ tiếp nhận của
các em, đồng thời đảm bảo cuộc tranh luận không mất trật tự, và không mất quá
nhiều thời gian cho phép. Cần tránh những hình thức câu hỏi mà khi trả lời, HS
chỉ dựa vào những quan niệm và kinh nghiệm đã có hay chỉ trình bày một chiều
các luận cứ để khẳng định một kiến giải nào đó. Ngoài ra, tôi cũng dự đoán
những tình huống có thể xảy ra trong sự tiếp nhận của HS để điều khiển cuộc đối
thoại sao cho không rơi vào bế tắc mà luôn đi theo những con đường hợp lí nhất.
3.Tích cực sử dụng phương pháp dạy học nhóm một cách hiệu quả:
3.1.Ý nghĩa, tầm quan trọng của phương pháp dạy học nhóm
Làm việc theo nhóm là một trong những phương pháp dạy học được áp
dụng trong đổi mới phương pháp dạy học hiện nay nhằm phát huy được tính tích
cực của người học, dạy học hướng về người học
Tôi tự nhận thấy rằng: ngày nay, khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát
triển thì yêu cầu làm việc theo nhóm là cần thiết hơn bao giờ hết vì trong thực tế
cuộc sống không có ai là hoàn hảo, do đó làm việc theo nhóm có thể tập trung
- 12 -
được những mặt mạnh của một nhóm người, từng người trong nhóm sẽ bổ sung,
hoàn thiện cho nhau những điểm yếu, hơn nữa nó còn tạo ra được niềm vui và sự
hứng thú trong học tập. Vì vậy, trong những năm học qua tôi luôn có ý thức tích
cực sử dụng phương pháp dạy học nhóm nhằm phát huy được những điểm mạnh
của nó.
Qua thử nghiệm của bản thân trong quá trình dạy học văn trong những năm
học vừa qua, tôi thấy: bên cạnh việc giải quyết tốt nhiệm vụ nhận thức, tăng
cường dạy học theo nhóm giúp học sinh hình thành các phẩm chất nhân cách và
động mang bâù không khí thân mật, cởi mở, sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ trên cơ sở
cố gắng hết sức và trách nhiệm cao của mỗi cá nhân. Học sinh có cơ hội được
tham gia tích cực vào hoạt động nhóm. Mọi ý kiến của các em đều được tôn
trọng và có giá trị như nhau, được xem xét, cân nhắc cẩn thận. Do đó sẽ khắc
phục tình trạng áp đặt, uy quyền, làm thay, thiếu tôn trọng giữa những người
tham gia hoạt động, đặc biệt giữa thầy và trò.
3.2.Cách thức thực hiện:
Để một giờ học trên lớp thành công với phương pháp dạy học nhóm, tôi
thường tiến hành theo 3 bước:
a.Chuẩn bị: Trước khi diễn ra tiết học có sử dụng hoạt động nhóm trên
lớp, hướng dẫn cho học sinh cách chuẩn bị bài theo một dàn ý bao gồm các nội
dung cơ bản sau:
- Đọc kĩ phần “kết quả cần đạt” trong sách giáo khoa.
- Tìm hiểu trước những kiến thức về tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, đặc
trưng thể loại của tác phẩm (kiến thức này chủ yếu nằm trong phần “tiểu dẫn”)
- 14 -
- Đọc thật kĩ văn bản trước khi học (nếu là văn tự sự, kịch phải tóm tắt được cốt
truyện; nếu là tác phẩm thuộc thể loại trữ tình phải nắm bắt được mạch cảm xúc).
- Đọc phần chú giải trong sách giáo khoa để hiểu một số từ ngữ khó hoặc các
điển tích, điển cố, những chủ ý sáng tạo của nhà văn…
- Tự mình trả lời các câu hỏi trong phần “hướng dẫn học bài”; đánh dấu những
chỗ chưa giải quyết được hoặc còn băn khoăn để trao đổi với thầy cô và các bạn.
Khi đưa ra những yêu cầu chuẩn bị bài cho học sinh, tôi luôn kiểm tra tính
hiệu quả của công việc này bằng cách kiểm tra vở soạn bài kết hợp với những
câu hỏi về bài mới. Bởi vì nếu không chuẩn bị bài tốt, phương pháp dạy học
nhóm không thể thành công.
b. Xây dựng được những nội dung thảo luận quan trọng và phù hợp để
hoạt động nhóm có hiệu quả:
- Thảo luận về kết cấu ngôn từ của tác phẩm: từ nhan đề, bố cục cho đến ngôn
từ, hình ảnh, biểu tượng nghệ thuật mang tính sáng tạo của tác giả. Ví dụ: Học
giải như thế nào về ước muốn này của thi nhân, thái độ sống ấy có phù hợp với
những khao khát của tuổi trẻ hiện nay không? Hoặc khi học đoạn trích “Đất
nước” (Nguyễn Khoa Điềm), có thể cho học sinh thảo luận với câu hỏi: Em nghĩ
gì về lời nhắn nhủ của nhà thơ: “Em ơi em! Đất nước là máu xương của mình/
Phải biết gắn bó và san sẻ/ Phải biết háo thân cho dáng hình xứ sở/ Làm nên đất
nước muôn đời”? Lời nhắn nhủ ấy ngày nay có còn tác dụng gì với tuổi trẻ của
đất nước không?
c.Tiến hành tổ chức thảo luận nhóm ở trên lớp:
- Mở đầu thảo luận: Giáo viên tổ chức phân nhóm, cho học sinh tự bầu
trưởng nhóm, giáo viên thông báo quy trình và quy định thảo luận.
- Giao nhiệm vụ cho từng nhóm; giáo viên chỉ làm nhiệm vụ quan sát, theo
- 16 -
dõi mà không tham gia ý kiến, không cắt ngang lời học sinh, không tỏ vẻ phản
ứng nếu câu trả lời, tranh luận không đúng với ý mình; khi học sinh đưa ra
những câu trả lời ngờ nghệch, không đúng, giáo viên nên nhanh chóng làm cho
học sinh nhận thức được sự không đúng của thông tin đó mà không làm ảnh
hưởng đến cảm xúc, lòng tự trọng của học sinh; khi học sinh trình bày, giáo viên
phải nghe cẩn thận những điều học sinh nói để hiểu các em định nói gì hoặc ghi
chép nhanh lại những điểm cơ bản của mỗi ý kiến để chuẩn xác kiến thức
- Sau khi thảo luận: Giáo viên phải tổng kết những ý kiến phát biểu thống
nhất và chưa thống nhất để mình tham gia vào những ý kiến chưa thống nhất và
bổ sung thêm những ý cần thiết; đánh giá các ý kiến phát biểu, nhận xét tinh
thần, thái độ làm việc của học sinh để thưởng điểm hoặc trừ điểm cho cá nhân
của nhóm.
Tuy có nhiều ưu điểm và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc góp phần
rèn luyện những kĩ năng sống cho học sinh, song cũng cần lưu ý một điều rằng:
sử dụng một phương pháp dạy học không có nghĩa là đề cao và coi đó là phương
pháp độc tôn, bởi lẽ không có phương pháp nào là vạn năng. Hoạt động nhóm sử
dụng trong dạy học môn Ngữ văn nói chung và trong dạy học Ngữ văn lớp 12
nói riêng chỉ thực sự phát huy tác dụng khi được phối hợp linh hoạt với các cách
vào việc dạy học một số tác phẩm văn học ở lớp 12 như tác phẩm “Vợ chồng A
Phủ” (Tô Hoài), “Vợ nhặt” (Kim Lân), “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” (Lưu
Quang Vũ)…nhằm hướng tới mục tiêu chủ yếu là rèn luyện các kĩ năng sống
cho học sinh khối lớp này.
- 18 -
Để thực hiện phương pháp này trên lớp, tôi chia học sinh thành 4 nhóm
(thường là theo tổ), giao nhiệm vụ chuẩn bị cụ thể cho mỗi nhóm như sau:
- Nhóm 1: Có trách nhiệm tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp của tác giả; về
xuất xứ, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm; đánh giá khái quát về nội dung, nghệ
thuật của tác phẩm (đọc kĩ phần tiểu dẫn, tham khảo một số tài liệu khác, nếu
chuẩn bị được một clip tư liệu về tác giả và tác phẩm là tốt nhất)
- Nhóm 2: Có nhiệm vụ dàn dựng một tiểu phẩm dựa vào nội dung chính của
tác phẩm.
- Nhóm 3: Có trách nhiệm chuẩn bị trang phục, trang trí và các phương tiện
phục vụ cho tiết mục biểu diễn.
- Nhóm 4: Có trách nhiệm soạn thảo các câu hỏi và đáp án để khám phá giá
trị của tác phẩm; chủ trì cho hoạt động hội thảo, tranh luận giữa các ý kiến
khác nhau trên lớp.
Công việc chuẩn bị phải được giao cho học sinh trước đó 1 tuần, giáo viên
cũng tham gia vào việc tư vấn, điều chỉnh, huấn luyện các em luyện tập cho thật
tốt trước khi tiến hành “chơi”.
Sau thời gian chuẩn bị theo quy định, giáo viên báo trước học sinh thời gian
giờ “học - chơi”. Vào học, các nhóm sẽ “trình diễn” phần của mình một cách tự
giác theo quy định, giáo viên chỉ là người theo dõi, lắng nghe. Tiết học sẽ được
thể hiện theo trình tự sau:
- Mở đầu tiết học, nhóm trưởng của nhóm 1 sẽ trong vai trò một người dẫn
chương trình, giới thiệu khái quát về tác giả - tác phẩm; trình chiếu lên máy
chiếu đa năng đoạn phim tư liệu về tác giả- tác phẩm.
- Sau đó, đại diện của nhóm 2 sẽ giới thiệu về vở diễn; các thành viên lên
diễn lại tiểu phẩm mà các em đã chuẩn bị.
- 20 -
- 55% xếp loại trung
bình
- Không còn học
sinh yếu - kém
- 75% tự nhận thức được năng
lực, sở thích, sở trường của bản
thân, hoàn cảnh của gia đình,
nhu cầu của xã hội.
- 60% có khả năng tự giải quyết
các vấn đề của bản thân, của tập
thể hợp lí, hợp tình
- 65% tích cực tham
gia đối thoại, xây dựng
bài.
- Số học sinh trây lười,
không làm việc trong
mỗi giờ học còn không
đáng kể
So với đầu năm học: không khí giờ học văn ì trệ, nặng nề, mỗi lớp trong
mỗi giờ học chỉ khoảng 3-4 em giơ tay phát biểu ý kiến xây dựng bài; thi khảo
sát chất lượng đầu năm không có bài đạt điểm 8 trở lên, điểm khá chỉ có 15/100
em, điểm dưới 4 có tới 20/100em; Rất nhiều em không thể diễn đạt một vấn đề
một cách trôi chảy, nhiều em không tự nhận thức được cái “vốn” của mình, cũng
không biết mục đích của mình học để làm gì; đa số các em giải quyết các vấn đề
khoa học cũng như đời sống một cách thụ động, thiếu tính hợp lí…
Kết quả này là nguồn động viên rất lớn đối với bản thân tôi và đó là tiền
đề vững chắc cho những năm tiếp theo để tôi có thể làm tròn nhiệm vụ của một
người thầy đúng nghĩa- không chỉ dạy chữ mà còn góp phần dạy Người.
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
- 22 -
Nguyễn Thị Thơ
- 23 -