Sáng kiến kinh nghiệm SKKN rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh lớp 12 qua môn ngữ văn - Pdf 39

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 12 QUA
MÔN NGỮ VĂN"

-1-


A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Xã hội ngày nay, song song cùng những bước tiến tích cực về mọi mặt là những tồn tại
đầy nhức nhối mà bất kì một người có nhân cách, lương tâm nào cũng đều phải trăn trở.
Một trong những tình trạng đáng buồn của ngành giáo dục của chúng ta hiện nay là tình
trạng học sinh đánh nhau, vô lễ với thầy cô giáo, bỏ học, tự tử, tham gia vào các tệ nạn xã
hội…xuất hiện ngày một nhiều. Nguyên nhân thì có nhiều nhưng có lẽ, nguyên nhân cơ
bản nhất vẫn là do các em thiếu kĩ năng sống.
Kĩ năng sống không phải là vấn đề mới mẻ nhưng giáo dục kĩ năng sống cho học
sinh một cách hiệu quả cũng không phải là vấn đề đơn giản. Đặc biệt là học sinh lớp 12
THPT. Đây là lứa tuổi đang ở ngưỡng cửa của một công dân trưởng thành, độ tuổi không
còn là trẻ con nhưng cũng chưa thành người lớn, mọi suy nghĩ và hành động còn nông
nổi, cảm tính; giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá nhưng còn thiếu kinh
nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, mua chuộc, kích động… Là năm cuối cùng của cấp trung học,
các em phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức, phải chịu nhiều áp lực…Vì vậy,
nếu thiếu những kĩ năng sống cơ bản, học sinh lớp 12 dễ mắc những sai lầm nghiêm
trọng như thực tế chúng ta đã chứng kiến không ít trường hợp đau lòng: có học sinh khágiỏi đã tự tử vì thi trượt đại học, có học sinh lớp cuối cấp tìm lẽ sống của mình ở trò chơi
điện tử…Hơn nữa, đã là học sinh lớp 12 thì chỉ cần một thời gian ngắn nữa là đa số các
em phải bước vào cuộc sống tự lập, phải tự mình ứng phó với vô vàn những tình huống
khác nhau của cuộc sống phức tạp và ít có sự can thiệp, giúp đỡ của người thân trong gia
đình. Vì thế giáo dục kĩ năng sống cho các em học sinh lớp 12 càng cấp thiết hơn bao giờ
hết.
Môn ngữ văn trong nhà trường THPT là môn học có nhiều ưu thế trong việc giáo

được, nó phải được hình thành dần qua quá trình học tập, rèn luyện lâu dài trong cuộc
sống.
2. Tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 12.
Ngày nay, những ai quan tâm đến giáo dục đều hiểu rằng: giáo dục thế hệ trẻ không
chỉ chú trọng dạy chữ mà còn phải quan tâm đến nhiệm vụ dạy người , con người không
chỉ cần có tri thức mà phải biết sống đúng, sống đẹp, sống có ích. Muốn như thế con
người nhất thiết phải có kĩ năng sống. Vì người có kĩ năng sống mới luôn vững vàng
trước mọi khó khăn, thử thách; biết ứng xử, giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống
một cách tích cực và phù hợp; luôn lạc quan, làm chủ bản thân và làm chủ hoàn cảnh. Có
thể nói: kĩ năng sống là “chiếc chìa khóa vạn năng” giúp con người từng bước khẳng định
bản ngã của chính mình. Hơn thế, người có kĩ năng sống luôn có hành vi tích cực để góp
phần xây dựng và làm giảm bớt các tệ nạn xã hội, làm cho cuộc sống tươi sáng và văn
minh hơn.
Tuổi trẻ nói chung, đối tượng học sinh lớp 12 nói riêng là những chủ nhân tương lai
của đất nước, là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước trong những năm tới. Nếu
-3-


thiếu kĩ năng sống, các em không thể thực hiện tốt trách nhiệm đối với bản thân, gia đình,
cộng đồng và đất nước. Do đó đất nước khó có thể phát triển theo chiều hướng tích cực
như mong muốn.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay,
giáo dục kĩ năng sống cho học sinh còn nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ
thông, hướng tới mục tiêu: đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức,
tri thức, sức khỏe, nghề nghiệp; trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong các nhà trường phổ thông cũng là xu thế
chung của nhiều nước trên thế giới.
3. Đặc trưng của bộ môn ngữ văn lớp 12 và những ưu thế của nó trong việc giáo dục kĩ

2. Thực trạng đối với giáo viên:
Anh chị em giáo viên trường tôi và cả một số trường bạn, khi được hỏi tới vấn đề: giáo
dục kĩ năng sống cho học sinh thế nào để đạt hiệu quả? Đa số chỉ cười lảng tránh hoặc
thú thật: “đối phó thôi, thời gian đâu mà tích hợp”. Có người chân thành và cởi mở hơn
thì tâm sự: chủ trương chung là phải tích hợp rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh nhưng
thực tế chẳng có gì là cụ thể, thậm chí làm cho giờ học phức tạp và rối rắm hơn. Bản thân
tôi, khi mới tiếp cận với vấn đề cũng có những cảm nhận như thế. Hơn nữa, trong bối
cảnh hiện nay, học sinh chẳng mấy thiết tha với môn văn nên việc “tích hợp” càng khó
khăn hơn. Một điều đáng nói nữa là đa số phụ huynh, học sinh lớp 12, ngay cả phần lớn
giáo viên dạy khối học này cũng đều xác định mục tiêu quan trọng nhất của việc học cho
lớp 12 là “học để thi” chứ không phải là “học để làm người”. Xác định mục tiêu như thế
nên kiến thức phải luôn đặt ở thế “thượng phong”, việc giáo dục kĩ năng sống cho học
sinh 12 chỉ mang tính chất “tự phát” và “tùy hứng” chứ không mang tính chiến lược nên
hiệu quả chưa có.
3. Thực trạng đối với học sinh:
Mỗi tháng, trường chúng tôi đều phải tổ chức những buổi họp Hội đồng kỉ luật để xử lí
những vụ đánh nhau mà đôi khi vì những lí do chẳng đâu vào đâu, các em cũng “thượng
cẳng tay, hạ cẳng chân” với nhau để lại hậu quả nghiêm trọng đối với từng cá nhân học
sinh, với gia đình, với nhà trường, với cả xã hội. Học sinh lớp 12 mà chỉ cần một ánh
mắt, một câu nói đùa của bạn đã có thể gây ra một vụ ẩu đả ra trò. Đó chẳng phải do các
em thiếu kĩ năng làm chủ cảm cảm xúc, kĩ năng ra quyết định phù hợp đó sao? Mỗi ngày,
các giáo viên chủ nhiệm đều phải xử lí tại lớp mình bao nhiêu trường hợp nghỉ học để đi
chơi game, bao nhiêu trường hợp vô lễ với thầy cô giáo…Xử lí nhiều, kỉ luật nhiều, thậm
chí có những trường hợp kỉ luật nặng (đuổi học) nhưng tình hình vẫn không thay đổi
được là bao. Trong trường có biết bao nhiêu em rơi vào tình trạng “ăn không nên đọi, nói
không nên lời”, khi được thầy cô giáo chỉ định trả lời một câu hỏi thì ấp úng, lúng túng,
không thể diễn đạt nổi… Vấn đề cốt lõi của cái gốc thực trạng đau lòng ấy chính là do
các em thiếu những kĩ năng sống quan trọng: kĩ năng làm chủ cảm xúc, kĩ năng giải
-5-


nghĩ thật và tình cảm thật của mình)

-6-


Sau khi đưa ra tình huống, tôi tổ chức cho học sinh tự giải quyết vấn đề trên một tờ phiếu
học tập, tất cả mọi người đều phải đưa ra chủ kiến của riêng mình. Tôi chọn một số ý
kiến (có thể để các em xung phong, cũng có khi chỉ định bất kì), gọi một học sinh khác
đọc to các ý kiến đó lên cho cả lớp cùng nghe, cùng thảo luận, để thống nhất cách giải
quyết tốt nhất. Với tình huống trên, học sinh có thể có nhiều cách giải quyết khác nhau,
chẳng hạn:
- Tìm cách trốn tránh, xa lánh, không chơi với bạn nữa vì sợ bị lây nhiễm. Con người ta
không thể cẩn thận tuyệt đối được và trong khi tiếp xúc với người bệnh không thể chắc
chắn rằng mình không bao giờ bị lây nhiễm.
- Vẫn giữ mối quan hệ bạn bè nhưng thận trọng và giữ một khoảng cách nhất định khi
tiếp xúc với bạn ấy. Vì mặc dù biết HIV không lây qua đường tiếp xúc thông thường
nhưng vẫn sợ, đó là bệnh nan y chưa có thuốc chữa, nhỡ may sơ ý khi cả 2 cùng bị chảy
máu, mình sẽ tự hủy hoại chính mình.
- Quan tâm chăm sóc, gần gũi, giúp đỡ bạn bằng tất cả những gì mình có thể để bạn
không rơi vào tình trạng mặc cảm, chán nản, bi quan. Vì lúc này là lúc bạn cần mình
nhất, lúc thể hiện tình bạn đẹp nhất.

Sau khi cho các em thảo luận, giáo viên định hướng chung để thống nhất cách giải quyết:
Nên gần gũi, giúp đỡ bạn bằng cả tình thương và trách nhiệm nhưng tất nhiên phải cẩn
thận để tự bảo vệ cho chính mình. Tìm hiểu kĩ để có kiến thức thật vững vàng về căn
bệnh, cũng như chú ý, quan tâm đến diễn biến tâm lí, tình cảm của người bạn để chăm
sóc bạn hiệu quả nhất và an toàn nhất.
Ví dụ 2: Khi dạy “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài, đến chi tiết: A Phủ đánh A Sử trong lễ
hội mùa xuân vì A Sử cậy quyền thế mà phá đám cuộc chơi. Tôi sẽ đặt ra tình huống vận
dụng: Giả sử, bạn là A Phủ, trong hoàn cảnh trên bạn sẽ xử sự thế nào? Học sinh cũng

nhân cho mỗi HS mà còn phát huy vai trò hỗ trợ của tập thể trong học tập khiến cho
những vấn đề đưa ra đối thoại được nhìn nhận đa dạng, phong phú, toàn diện hơn. Hơn
nữa, Khi HS được tự do phát biểu một cách độc lập, sáng tạo theo cảm nhận cá nhân,
giáo viên sẽ có cơ sở và điều kiện để phát huy vai trò chủ thể HS trong giờ học, lớp học
trở nên sinh động, và việc tiếp thu kiến thức của HS trở nên tự nhiên, sâu sắc hơn.
Nhưng một nghịch lí đáng buồn là trong các nhà trường hiện nay hiện tượng lười xây
dựng, phát biểu bài trở nên ngày càng phổ biến. Việc ngại hỏi, ngại nói, ngại tranh luận
trong lứa tuổi học sinh, nhất là học sinh THPT đã và đang để lại những hậu quả bất lợi
cho cả thầy và trò, cho chất lượng dạy-học, trong đó người chịu thiệt thòi nhiều nhất
chính là các em; đã khá nhiều lần chúng tôi và các đồng nghiệp trao đổi, bàn tán về việc
chán nản trước hiện tượng lớp học này, lớp học kia lười phát biểu, xây dựng bài. Nhiều
lần thầy cô giáo ra câu hỏi, dù chỉ là những câu hỏi trong sách giáo khoa nhưng hỏi đi hỏi
lại 2, 3, 4 lượt nhưng các em vẫn ngồi im thin thít như tượng gỗ, và thầy cô rơi vào hoàn
cảnh: “miệng liền tai, nói lấy, nghe lấy rồi tự trả lời lấy” những tình huống như vậy
thường gây tâm lí ức chế cho thầy cô rất nhiều, thậm chí chán nản, không tha thiết với
công việc của mình.
-8-


Bên cạnh đó, việc lười xây dựng phát biểu bài của các em còn nảy sinh tâm lí thụ động,
chờ đợi, co cụm, ỷ lại nên học sinh khó nắm bắt và làm chủ kiến thức của bài học, lâu
ngày sẽ tạo thành thói quen thiếu tự tin, hạn chế tính tư duy sáng tạo của người học, vì
vậy trí nhớ giảm sút, học lực giảm, không phát huy được ưu điểm cũng như không khắc
phụ được nhược điểm của mình; đồng thời việc rèn luyện kỹ năng, khả năng giao tiếp, kỹ
năng ứng xử của các em với cộng đồng sẽ gặp nhiều hạn chế. Điều đó sẽ làm cho giáo
dục đào tạo ra một lớp người lạc hậu, kém năng động, kém sáng tạo, không giám khẳng
định mình, co mình như con rùa rụt cổ, không dám mạnh dạn đứng lên phê phán , chống
lại cái sai, cái ác, bảo vệ cái đúng cái thiện, thậm chí đồng tình, đồng lõa với các thói hư
tật xấu là điều khó tránh khỏi.
2.2.Cách thức thực hiện:

lại tái diễn
Để có những cuộc đối thoại đạt hiệu quả, tôi xác định những vấn đề trọng tâm, mở ra
nhiều cách giải thích khác nhau, kích thích khả năng tư duy sáng tạo, thúc đẩy HS bộc lộ
quan điểm và đối thoại. Những tình huống nêu ra để HS tham gia đối thoại vừa không
thoát li tác phẩm, vừa phù hợp với trình độ tiếp nhận của các em, đồng thời đảm bảo cuộc
tranh luận không mất trật tự, và không mất quá nhiều thời gian cho phép. Cần tránh
những hình thức câu hỏi mà khi trả lời, HS chỉ dựa vào những quan niệm và kinh nghiệm
đã có hay chỉ trình bày một chiều các luận cứ để khẳng định một kiến giải nào đó. Ngoài
ra, tôi cũng dự đoán những tình huống có thể xảy ra trong sự tiếp nhận của HS để điều
khiển cuộc đối thoại sao cho không rơi vào bế tắc mà luôn đi theo những con đường hợp
lí nhất.
3.Tích cực sử dụng phương pháp dạy học nhóm một cách hiệu quả:
3.1.Ý nghĩa, tầm quan trọng của phương pháp dạy học nhóm
Làm việc theo nhóm là một trong những phương pháp dạy học được áp dụng trong đổi
mới phương pháp dạy học hiện nay nhằm phát huy được tính tích cực của người học, dạy
học hướng về người học
Tôi tự nhận thấy rằng: ngày nay, khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển thì yêu cầu
làm việc theo nhóm là cần thiết hơn bao giờ hết vì trong thực tế cuộc sống không có ai là
hoàn hảo, do đó làm việc theo nhóm có thể tập trung được những mặt mạnh của một
nhóm người, từng người trong nhóm sẽ bổ sung, hoàn thiện cho nhau những điểm yếu,
hơn nữa nó còn tạo ra được niềm vui và sự hứng thú trong học tập. Vì vậy, trong những
năm học qua tôi luôn có ý thức tích cực sử dụng phương pháp dạy học nhóm nhằm phát
huy được những điểm mạnh của nó.
Qua thử nghiệm của bản thân trong quá trình dạy học văn trong những năm học vừa qua,
tôi thấy: bên cạnh việc giải quyết tốt nhiệm vụ nhận thức, tăng cường dạy học theo nhóm
giúp học sinh hình thành các phẩm chất nhân cách và các kỹ năng xã hội tốt hơn, cụ thể
là:
- Học theo nhóm phát huy cao độ vai trò chủ thể, tích cực của mỗi cá nhân trong việc
thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao; khi học theo nhóm, vai trò chủ thể, tính tự giác,
- 10 -

3.2.Cách thức thực hiện:
Để một giờ học trên lớp thành công với phương pháp dạy học nhóm, tôi thường tiến hành
theo 3 bước:
a.Chuẩn bị: Trước khi diễn ra tiết học có sử dụng hoạt động nhóm trên lớp, hướng dẫn
cho học sinh cách chuẩn bị bài theo một dàn ý bao gồm các nội dung cơ bản sau:
- Đọc kĩ phần “kết quả cần đạt” trong sách giáo khoa.
- 11 -


- Tìm hiểu trước những kiến thức về tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, đặc trưng thể
loại của tác phẩm (kiến thức này chủ yếu nằm trong phần “tiểu dẫn”)
- Đọc thật kĩ văn bản trước khi học (nếu là văn tự sự, kịch phải tóm tắt được cốt truyện;
nếu là tác phẩm thuộc thể loại trữ tình phải nắm bắt được mạch cảm xúc).
- Đọc phần chú giải trong sách giáo khoa để hiểu một số từ ngữ khó hoặc các điển tích,
điển cố, những chủ ý sáng tạo của nhà văn…
- Tự mình trả lời các câu hỏi trong phần “hướng dẫn học bài”; đánh dấu những chỗ chưa
giải quyết được hoặc còn băn khoăn để trao đổi với thầy cô và các bạn.
Khi đưa ra những yêu cầu chuẩn bị bài cho học sinh, tôi luôn kiểm tra tính hiệu quả
của công việc này bằng cách kiểm tra vở soạn bài kết hợp với những câu hỏi về bài mới.
Bởi vì nếu không chuẩn bị bài tốt, phương pháp dạy học nhóm không thể thành công.
b. Xây dựng được những nội dung thảo luận quan trọng và phù hợp để hoạt động nhóm
có hiệu quả:
- Thảo luận về kết cấu ngôn từ của tác phẩm: từ nhan đề, bố cục cho đến ngôn từ, hình
ảnh, biểu tượng nghệ thuật mang tính sáng tạo của tác giả. Ví dụ: Học tác phẩm “Vợ
nhặt” ( Kim Lân) giáo viên có thể hỏi: Tại sao tác giả lại đặt tên cho tác phẩm là “Vợ
nhặt”? Nhan đề đó có ý nghĩa và có quan hệ như thế nào với nội dung của tác phẩm?
Những từ ngữ tác giả dùng để miêu tả về nạn đói có gì đặc biệt? gợi cho em cảm giác gì?
- Thảo luận về kết cấu hình tượng của tác phẩm: về các hình tượng nhân vật chính trong
tác phẩm tự sự; hình tượng cái tôi trữ tình trong các tác phẩm thuộc thể loại trữ tình. Ví
dụ: Cảm nhận về hình tượng “sóng” khi hạy học bài thơ “Sóng” (Xuân Quỳnh); hình

nhóm, giáo viên thông báo quy trình và quy định thảo luận.
- Giao nhiệm vụ cho từng nhóm; giáo viên chỉ làm nhiệm vụ quan sát, theo dõi mà
không tham gia ý kiến, không cắt ngang lời học sinh, không tỏ vẻ phản ứng nếu câu trả
lời, tranh luận không đúng với ý mình; khi học sinh đưa ra những câu trả lời ngờ nghệch,
không đúng, giáo viên nên nhanh chóng làm cho học sinh nhận thức được sự không đúng
của thông tin đó mà không làm ảnh hưởng đến cảm xúc, lòng tự trọng của học sinh; khi
học sinh trình bày, giáo viên phải nghe cẩn thận những điều học sinh nói để hiểu các em
định nói gì hoặc ghi chép nhanh lại những điểm cơ bản của mỗi ý kiến để chuẩn xác kiến
thức
- Sau khi thảo luận: Giáo viên phải tổng kết những ý kiến phát biểu thống nhất và
chưa thống nhất để mình tham gia vào những ý kiến chưa thống nhất và bổ sung thêm
những ý cần thiết; đánh giá các ý kiến phát biểu, nhận xét tinh thần, thái độ làm việc của
học sinh để thưởng điểm hoặc trừ điểm cho cá nhân của nhóm.
Tuy có nhiều ưu điểm và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc góp phần rèn
luyện những kĩ năng sống cho học sinh, song cũng cần lưu ý một điều rằng: sử dụng một
phương pháp dạy học không có nghĩa là đề cao và coi đó là phương pháp độc tôn, bởi lẽ
không có phương pháp nào là vạn năng. Hoạt động nhóm sử dụng trong dạy học môn
Ngữ văn nói chung và trong dạy học Ngữ văn lớp 12 nói riêng chỉ thực sự phát huy tác
dụng khi được phối hợp linh hoạt với các cách dạy học khác.
4. Tổ chức dạy học tác phẩm văn học theo phương pháp trò chơi.
- 13 -


4.1. Ý nghĩa, tầm quan trọng của phương pháp trò chơi
Trò chơi là phương pháp tổ chức cho học sinh tìm hiểu một vấn đề hay thực hiện những
hành động, những thái độ, những việc làm thông qua một trò chơi nào đó.
Cùng với học tập, giao lưu với bạn bè, vui chơi cũng là một nhu cầu của thanh thiếu niên
học sinh. Lí luận và thực tiễn đã chứng tỏ rằng: nếu biết tổ chức cho thanh thiếu niên vui
chơi một cách hợp lí, lành mạnh thì đều mang lại hiệu quả giáo dục. Qua trò chơi, lớp trẻ
không những được phát triển về các mặt trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ mà còn được hình

- Nhóm 3: Có trách nhiệm chuẩn bị trang phục, trang trí và các phương tiện phục vụ cho
tiết mục biểu diễn.
- Nhóm 4: Có trách nhiệm soạn thảo các câu hỏi và đáp án để khám phá giá trị của tác
phẩm; chủ trì cho hoạt động hội thảo, tranh luận giữa các ý kiến khác nhau trên lớp.
Công việc chuẩn bị phải được giao cho học sinh trước đó 1 tuần, giáo viên cũng tham gia
vào việc tư vấn, điều chỉnh, huấn luyện các em luyện tập cho thật tốt trước khi tiến hành
“chơi”.
Sau thời gian chuẩn bị theo quy định, giáo viên báo trước học sinh thời gian giờ “học chơi”. Vào học, các nhóm sẽ “trình diễn” phần của mình một cách tự giác theo quy định,
giáo viên chỉ là người theo dõi, lắng nghe. Tiết học sẽ được thể hiện theo trình tự sau:
- Mở đầu tiết học, nhóm trưởng của nhóm 1 sẽ trong vai trò một người dẫn chương trình,
giới thiệu khái quát về tác giả - tác phẩm; trình chiếu lên máy chiếu đa năng đoạn phim tư
liệu về tác giả- tác phẩm.
- Sau đó, đại diện của nhóm 2 sẽ giới thiệu về vở diễn; các thành viên lên diễn lại tiểu
phẩm mà các em đã chuẩn bị.
- Đại diện của nhóm 4 sẽ chủ động đưa ra các câu hỏi hội thảo để tất cả thành viên trong
lớp tham gia; tổ chức cho các bạn thảo luận xoay quanh giá trị nội dung và nghệ thuật của
tác phẩm.
- Cuối cùng, giáo viên nhận xét, đánh giá và cho điểm từng phần.
Để tránh nhàm chán và tạo sự cạnh tranh lành mạnh trong học tập giữa các nhóm, tôi
thường thay đổi nhiệm vụ theo kiểu luân phiên giữa các nhóm để nhóm nào cũng được
“thử sức” với các nhiệm vụ khác nhau.
Khi tiến hành thử nghiệm dạy học theo phương pháp này tôi nhận thấy rằng, những giờ
dạy học đó không chỉ đem lại hứng thú cho học sinh, rèn luyện được nhiều kĩ năng sống
quan trọng cho các em mà còn tạo thêm niềm say mê nghề nghiệp, niềm tin yêu học sinh
của giáo viên. Điều thú vị là 100% học sinh trả lời rất thích học những giờ học kiểu như
thế này.
IV. Kiểm nghiệm:
Sau một năm thực hiện thí điểm các biện pháp rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh
lớp 12 qua môn Ngữ văn ở 2 lớp 12A2 và 12A3 của trường THPT Đào Duy Từ, tôi nhận
thấy: kết quả học tập đã có những chuyển biến đáng mừng, nhiều em tiếp thu bài chủ

So với đầu năm học: không khí giờ học văn ì trệ, nặng nề, mỗi lớp trong mỗi giờ
học chỉ khoảng 3-4 em giơ tay phát biểu ý kiến xây dựng bài; thi khảo sát chất lượng đầu
năm không có bài đạt điểm 8 trở lên, điểm khá chỉ có 15/100 em, điểm dưới 4 có tới
20/100em; Rất nhiều em không thể diễn đạt một vấn đề một cách trôi chảy, nhiều em
không tự nhận thức được cái “vốn” của mình, cũng không biết mục đích của mình học để
làm gì; đa số các em giải quyết các vấn đề khoa học cũng như đời sống một cách thụ
động, thiếu tính hợp lí…
Kết quả này là nguồn động viên rất lớn đối với bản thân tôi và đó là tiền đề vững
chắc cho những năm tiếp theo để tôi có thể làm tròn nhiệm vụ của một người thầy đúng
nghĩa- không chỉ dạy chữ mà còn góp phần dạy Người.

- 16 -


C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Xuất phát từ mục tiêu giáo dục của thế kỉ XXI: Học để biết, học để làm, học để tự
khẳng định và học để cùng chung sống; đồng thời xuất phát từ yêu cầu mới của công việc
giảng dạy- lấy học sinh làm trung tâm, cho nên việc thể nghiệm những biện pháp trên vào
việc dạy học ngữ văn lớp 12 không nằm ngoài mục đích phục vụ mục tiêu và yêu cầu ấy.
Việc làm này không chỉ có tác dụng nâng cao việc dạy – học của thầy- trò mà còn có tác
dụng rèn luyện học sinh thành những người có kĩ năng thích ứng với đời sống ngày càng
đa dạng và phức tạp.
Đề tài này tuy không phải là một hướng đi mới mà chỉ là một cách làm cụ thể trong
quá trình lên lớp hằng ngày của giáo viên, hướng tới thực hiện mục tiêu chung của
nghành. Song, để thực hiện một cách có hiệu quả những giải pháp trên với những tiết dạy
cụ thể, đòi hỏi giáo viên phải thực sự có tâm huyết, yêu trẻ, yêu nghề, có các phương tiện
hiện đại hỗ trợ trong quá trình thực hiện.
Để nâng cao hiệu quả dạy- học văn và rèn luyện được những kĩ năng sống quan
trọng cho học sinh nói chung và học sinh lớp 12 nói riêng, đây cũng không phải là những
giải pháp duy nhất mà trong quá trình dạy học người giáo viên còn phải biết vận dụng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status