Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh lớp 12 trong dạy học văn nghị luận xã hội - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN HÀ GIANG

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
LỚP 12 TRONG DẠY HỌC VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI – 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN HÀ GIANG

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
LỚP 12 TRONG DẠY HỌC VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60. 14. 01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS. DƢƠNG TUYẾT HẠNH

HÀ NỘI – 2016

i


HS

HS

HTĐS

Hiện tƣợng đời sống

KNS

Kĩ năng sống

NLXH

Nghị luận xã hội

PPDH

Phƣơng pháp dạy học

SGK

Sách giáo khoa

THPT

Trung học phổ thông

THCS

4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu ............................................................................ 15
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ....................................................................................... 16
6. Cấu trúc luận văn .................................................................................................. 16
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI .............. 17
1.1. Cơ sở lí luận ....................................................................................................... 17
1.1.1. Kỹ năng sống và một số kỹ năng sống trong giáo dục ............................... 17
1.1.2. Mục tiêu của giáo dục kỹ năng sống ........................................................... 20
1.1.3. Một số kĩ năng sống hình thành cho HS lớp 12 trong dạy học Làm
văn NLXH. ................................................................................................................ 22
1.1.4. Khái quát về văn nghị luận xã hội............................................................... 28
1.2. Cơ sở thực tiễn ................................................................................................... 32
1.2.1. Thực trạng của việc dạy và học nghị luận xã hội ở lớp 12 THPT .............. 32
1.2.2. Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 12 .......................................................... 35
1.2.3. Thực trạng vận dụng kỹ năng sống của HS lớp 12 trong cuộc sống
hàng ngày. ................................................................................................................. 37

1.2.4. Mục đích của việc dạy Làm văn nghị luận xã hội cho
HS………..................................................................................................…..39
Tiểu kết chƣơng 1...................................................................................................... 40
CHƢƠNG 2: RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 12
TRONG DẠY HỌC LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI ...................................... 41
2.1. Các nguyên tắc định hƣớng việc hình thành và rèn luyện kỹ năng sống
cho HS lớp 12 THPT trong dạy học làm văn nghị luận xã hội. ................................ 41
2.1.1. Dạy học bám sát nội dung ........................................................................ 41
3


2.1.2. Đảm bảo tính giáo dục ............................................................................. 41
2.1.3. Đảm bảo nguyên tắc về lƣợng.................................................................. 41
2.1.4. Đảm bảo tính thƣờng xuyên, liên tục ....................................................... 42

1. Lí do chọn đề tài
Hiện nay, nội dung giáo dục KNS đã đƣợc nhiều quốc gia trên thế giới
đƣa vào dạy cho HS trong các trƣờng phổ thông dƣới nhiều hình thức khác
nhau. KNS là nhịp cầu giúp biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói
quen tích cực, lành mạnh. Giáo dục KNS giúp HS có cách suy nghĩ, thái độ
và hành vi tích cực, đặc biệt giúp tăng cƣờng kĩ năng giao tiếp hiệu quả (giữa
trẻ với nhau, giữa trẻ với ngƣời lớn). Đồng thời giáo dục KNS giúp các em
có kĩ năng phân tích vấn đề và tình huống, có thái độ tự khẳng định và quyết
định chọn lựa trƣớc một tình huống cụ thể trong cuộc sống. Giáo dục KNS
giúp kết nối nhà trƣờng, gia đình và cộng đồng trong cùng mục tiêu giúp HS
có đƣợc những kĩ năng thiết thực cần cho cuộc sống hiện tại và sau này của
các em.
Ở Việt Nam việc triển khai các hoạt động giáo dục theo định hƣớng
tiếp cận KNS trong giáo dục đã đƣợc quán triệt trong đổi mới mục tiêu, nội
dung, và phƣơng pháp giáo dục. Thực chất cũng là những hoạt động giáo dục
gắn liền với bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI mà tổ chức UNESCO đƣa ra:
“Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để tự khẳng định
mình”[44]. Mục tiêu giáo dục của Việt Nam đã chuyển từ mục tiêu cung cấp
kiến thức là chủ yếu sang hình thành và phát triển những năng lực cần thiết ở
HS để đáp ứng sự phát triển và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nƣớc. Tài liệu Giáo dục kỹ năng sống trong môn Ngữ văn ở trường trung học
phổ thông [16, tr.13] nêu rõ mục tiêu giáo dục KNS cho HS trong nhà trƣờng
phổ thông nhằm:
- Trang bị cho HS những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp.
Trên cơ sở đó hình thành cho HS những hành vi, thói quen lành mạnh, tích
cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình
huống và hoạt động hàng ngày.

5


6


12 giá trị cơ bản của giáo dục cho thế hệ trẻ. Những nhà nghiên cứu về KNS
trong giai đoạn này với mong muốn thống nhất đƣợc một quan niệm chung về
KNS cũng nhƣ đƣa đến một bảng danh mục các KNS cơ bản mà thế hệ trẻ
cần có. Phần lớn các chƣơng trình nghiên cứu về KNS ở giai đoạn này quan
niệm về KNS theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kĩ năng xã hội. Dự án do
UNESCO (Tổ chức Văn hóa, Giáo dục và Khoa học) tiến hành tại một số
nƣớc Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu
biểu cho hƣớng nghiên cứu KNS nêu trên.
Vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, các tổ chức WHO (tổ chức Y tế thế
giới), UNICEF (Quỹ cứu trợ nhi đồng Liên hợp quốc), UNESCO (tổ chức
Giáo dục, Khoa học, Văn hóa Liên hợp quốc) đã chung sức xây dựng chƣơng
trình giáo dục KNS cho thiếu niên. Trên cơ sở đó, một số nhà nghiên cứu nhƣ
J.H.Fichter (nhà xã hội học ngƣời Mỹ), P.Tugarinov (Liên Xô) hay Dramalier
(Bungari) bắt đầu đề cập đến vấn đề giá trị sống nhƣ những chuẩn mực trong
giá trị đạo đức của con ngƣời… Từ đây, một số tài liệu nghiên cứu về vấn đề
giáo dục KNS cho thanh thiếu niên ra đời nhƣ: Tài liệu tập huấn về kỹ năng
sống của UNICEF (2004) [43], Những hoạt động giá trị sống cho thiếu niên
của Diane TillMan [41], Tài liệu tập huấn kĩ năng cơ bản trong tham vấn,
G.Bandzeladze (1985) [42]
Nhƣ vậy, KNS đã đƣợc giới nghiên cứu xã hội học trên thế giới quan
tâm cách đây gần ba thập kỉ và giáo dục KNS đƣợc thể nghiệm nhƣ là một hệ
quả tất yếu của quá trình nghiên cứu. Hiện nay, đã có hơn 155 nƣớc trên thế
giới quan tâm đến việc đƣa KNS vào nhà trƣờng, trong đó có 143 nƣớc đã
đƣa vào chƣơng trình chính khóa ở tiểu học và Trung học. Giáo dục KNS
đƣợc lồng ghép vào các môn học, chủ đề, nội dung có liên quan trực tiếp đến
những vấn đề bức xúc trên thực tế. Chẳng hạn :
Tại Ruwanda : Giáo dục KNS hƣớng đến giáo dục lòng yêu hoà bình

thể hiện cái chung, vừa mang tính đặc thù của từng quốc gia. Theo đó, vấn đề
giáo dục KNS cho thế hệ trẻ nói chung, cho HS THPT đƣợc đông đảo các
nƣớc quan tâm.
2.1.2. Việc giáo dục KNS
8


Bên cạnh các công trình nghiên cứu về KNS trên thế giới, một số quốc
gia phát triển đã thực hiện đƣợc việc giáo dục KNS cho HS. Thanh thiếu niên
đã đƣợc học kĩ năng về những tình huống sẽ xảy ra trong cuộc sống, cách đối
diện, đƣơng đầu và vƣợt qua những khó khăn cũng nhƣ cách kiềm chế cảm
xúc tránh những mâu thuẫn, xung đột. Chẳng hạn:
Tại Mỹ trong mỗi giờ học Ngữ văn, họ tích cực đƣa văn về với xã hội,
gần gũi với thực tế cuộc sống. Tiết dạy Cô bé lọ lem sau đây của GV ngƣời
Mỹ là một điển hình:
Giờ học văn bắt đầu. Hôm nay thầy giảng bài Cô bé Lọ Lem.
“Trƣớc tiên thầy gọi một HS lên kể chuyện Cô bé Lọ lem. Em HS kể
xong, thầy cảm ơn rồi bắt đầu hỏi.
Thầy: Các em thích và không thích nhân vật nào trong câu chuyện vừa
rồi?
HS (HS): Em thích Cô bé Lọ Lem Cinderella ạ, và cả Hoàng tử nữa
nhƣng không thích bà mẹ kế và chị con riêng bà ấy. Cinderella tốt bụng, đáng
yêu, lại xinh đẹp. Bà mẹ kế và cô chị kia đối xử tồi với Cinderella.
Thầy: Nếu vào đúng 12 giờ đêm mà Cinderella chưa kịp nhảy lên cỗ xe
quả bí thì sẽ xảy ra chuyện gì?
HS: Thì Cinderella sẽ trở lại có hình dạng lọ lem bẩn thỉu nhƣ ban đầu,
lại mặc bộ quần áo cũ rách rƣới tồi tàn. Eo ôi, trông kinh lắm.
Thầy: Bởi vậy, các em nhất thiết phải là những người đúng giờ, nếu
không thì sẽ tự gây rắc rối cho mình. Ngoài ra, các em tự nhìn lại mình mà
xem, em nào cũng mặc quần áo đẹp cả. Hãy nhớ rằng chớ bao giờ ăn mặc

HS: Không ạ.
Thầy: Chỉ có cô tiên giúp thôi thì chưa đủ. Cho nên các em cần chú ý:
Dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta đều cần có sự giúp đỡ của bạn bè. Bạn
của ta không nhất định là tiên là bụt, nhưng ta vẫn cần đến họ. Thầy mong
các em có càng nhiều bạn càng tốt. Bây giờ, đề nghị các em thử nghĩ xem,
nếu vì mẹ kế không muốn cho mình đi dự vũ hội mà Cinderella bỏ qua cơ hội
ấy thì cô bé có thể trở thành vợ của hoàng tử được không?

10


HS: Không ạ! Nếu bỏ qua cơ hội ấy thì Cinderella sẽ không gặp hoàng
tử, không đƣợc hoàng tử biết và yêu.
Thầy: Đúng quá rồi! Nếu Cinderella không muốn đi dự vũ hội thì cho
dù bà mẹ kế không ngăn cản đi nữa, thậm chí bà ấy còn ủng hộ Cinderella đi
nữa, rốt cuộc cô bé cũng chẳng được lợi gì cả. Thế ai đã quyết định
Cinderella đi dự vũ hội của hoàng tử?
HS: Chính là Cinderella ạ.
Thầy: Cho nên các em ạ, dù Cinderella không còn mẹ đẻ để được yêu
thương, dù bà mẹ kế không yêu cô bé, những điều ấy cũng chẳng thể làm cho
Cinderella biết tự thương yêu chính mình. Chính vì biết tự yêu lấy mình nên
cô bé mới có thể tự đi tìm cái mình muốn giành được. Giả thử có em nào cảm
thấy mình chẳng được ai yêu thương cả, hoặc lại có bà mẹ kế không yêu con
chồng như trường hợp của Cinderella, thì các em sẽ làm thế nào?
HS: Phải biết yêu chính mình ạ.
Thầy: Đúng lắm! Chẳng ai có thể ngăn cản các em yêu chính bản thân
mình. Nếu cảm thấy người khác không yêu mình thì em càng phải tự yêu mình
gấp bội. Nếu người khác không tạo cơ hội cho em thì em cần tự tạo ra thật
nhiều cơ hội. Nếu biết thực sự yêu bản thân thì các em sẽ tự tìm được cho
mình mọi thứ em muốn có. Ngoài Cinderella ra, chẳng ai có thể ngăn trở cô

cách sống rộng lƣợng, cảm thông và biết chia sẻ. Tại các trƣờng học Nhật Bản,
HS phải tự mình dọn dẹp lớp học, căng tin và thậm chí cả toilet. Trong khi
làm, các em đƣợc chia thành các nhóm nhỏ và luân phiên trực nhật trong năm.
Đây là cách để giúp các em rèn luyện khả năng làm việc nhóm. Bên cạnh đó,
những công việc tƣởng chừng nhƣ mất vệ sinh, vất vả đó sẽ giúp các em biết
tôn trọng công việc của ngƣời khác và thành quả lao động của bản thân.
Thay vì “đi qua mảnh vỡ thủy tinh để tăng lòng dũng cảm”, trẻ em cấp
1 tại Mỹ và Nhật đƣợc học: tự lấy đồ ăn, tự xếp đồ đạc... Có thể thấy rằng, các
nƣớc trên thế giới đã rất quan tâm đến việc đƣa KNS vào việc dạy học, sự tích
hợp của họ là sự tích hợp có ý thức nhƣng lại vô cùng tự nhiên, khéo léo và
đạt hiệu quả cao.
12


2.2. Các công trình nghiên cứu kỹ năng sống ở Việt Nam
Ở Việt Nam, KNS đang đƣợc cả xã hội quan tâm. Thuật ngữ KNS bắt
đầu xuất hiện trong các nhà trƣờng phổ thông Việt Nam từ những năm 19951996, thông qua dự án "Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống
HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường" [43] do UNICEF
phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng Hội Chữ Thập đỏ Việt
Nam thực hiện. Từ đó đến nay, đã có rất nhiều Trung tâm giáo dục KNS ra
đời nhƣ Breakthrough Power, Tâm Việt, TGM Corporation, Trung tâm KNS
trực thuộc Trung ƣơng Hội khoa học tâm lý - Giáo dục Việt Nam... thu hút
đông đảo giới trẻ cũng nhƣ các bậc phụ huynh. Giáo dục KNS cho ngƣời học
đã trở thành trách nhiệm của quốc gia. Điều này đƣợc thể hiện trong mục tiêu
3 và mục tiêu 6 của Chương trình hành động DaKar (Sengal - 2000) [40]
Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu cho hƣớng nghiên cứu này là:
Cẩm nang tổng hợp kĩ năng hoạt động thanh thiếu niên của tác giả Phạm Văn
Nhân [30]; Kĩ năng thanh niên tình nguyện của tác giả Trần Thời [37]… Một
trong những ngƣời đầu tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống về
KNS và giáo dục KNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình. Với một

cuốn Giáo dục KNS trong môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông [34]
một tài liệu dành cho GV gợi ý những KNS có thể tích hợp để dạy trong các
bài học cụ thể của chƣơng trình Ngữ văn 10, 11, 12. Và Luận án tiến sĩ Giáo
dục học của nghiên cứu sinh Phan Thanh Vân (2010): Giáo dục KNS cho HS trung
học phổ thông thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp [38] cũng đề cập đến
tổng quan về KNS và giáo dục KNS cho HS THPT. Bên cạnh đó, tác giả còn chỉ các
phƣơng pháp giáo dục KNS thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho HS
THPT.
Trong một số năm gần đây đã có một số Luận văn thạc sĩ đề cập đến đề
tài giáo dục KNS nhƣ Luận văn thạc sĩ sƣ phạm Ngữ văn: Lê Kim Anh
(2011), Tích hợp rèn luyện KNS cho HS trong dạy học thơ trữ tình hiện đại
Việt Nam ở trường trung học cơ sở, trƣờng Đại học Giáo dục – Đại học Quốc
gia Hà Nội [2]; Lê Thị Hƣơng Giang (2014) Tích hợp giáo dục KNS cho HS
qua dạy học truyện ngắn Việt Nam - Chương trình Ngữ văn 12 - Tập 2, trƣờng
14


Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội [19]. Luận văn thạc sĩ ngành
Quản lí giáo dục của tác giả Nguyễn Hữu Đức (2010), Quản lí giáo dục KNS
cho HS trường THPT Trần Hưng Đạo Nam Định trong giai đoạn hiện nay
(Thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp), Trƣờng Đại học Giáo dục
– Đại học Quốc gia Hà Nội [18].
Tất cả những luận văn trên chỉ tập trung giáo dục KNS cho HS qua các
tác phẩm thơ hoặc truyện ngắn trong chƣơng trình THPT, qua hoạt động
ngoài giờ mà chƣa quan tâm đến giáo dục KNS trong dạy học Làm văn. Gần
đây trong luận văn thạc sĩ sƣ phạm Ngữ văn “Tổ chức dạy học phần Làm văn
(Ngữ văn 10, tập 2) theo hướng tích hợp giáo dục kĩ năng sống” (2015) [21],
Vũ Thị Bích Hằng mới chỉ đề cập đến dạy học phần Làm văn chƣơng trình
ngữ văn 10 để tích hợp giáo dục KNS cho HS mà chƣa có một công trình
nghiên cứu nào đề cập đến phần dạy học Làm văn NLXH lớp 12 để giáo dục

- Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm:
+ Xử lí số liệu kết quả khảo sát và kết quả sau thực nghiệm sƣ phạm.
+ Phân tích số liệu khảo sát và số liệu thực nghiệm.
+ Sử dụng phƣơng pháp thống kê toán học và các thành tựu của công
nghệ thông tin để xử lí kết quả thực nghiệm.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phần phụ lục,
luận văn gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài.
Chƣơng 2: Rèn luyện kỹ năng sống cho HS lớp 12 trong dạy học làm
văn nghị luận xã hội.
Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm.

16


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Kỹ năng sống và một số kỹ năng sống trong giáo dục
1.1.1.1. Khái niệm KNS
KNS (Life skills) là một khái niệm đƣợc sử dụng rộng rãi trong các lĩnh
vực hoạt động khác nhau. Tuy nhiên, khi nói về KNS thì có nhiều quan niệm
khác nhau:
Theo WHO (1993): KNS là năng lực tâm lý xã hội, là khả năng ứng
phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống. Đó
cũng là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt
tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tƣơng tác với
ngƣời khác, với nền văn hóa và môi trƣờng xung quanh. Năng lực tâm lý xã
hội có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về

Theo tổng hợp của tác giả Nguyễn Thanh Bình [7], KNS đƣợc phân loại nhƣ
sau:
+ Nhóm thứ nhất: nhóm kĩ năng nhận thức gồm: tƣ duy phê phán, giải
quyết vấn đề, nhận thức hậu quả, tƣ duy phân tích, khả năng sáng tạo, tự nhận
thức, đặt mục tiêu, xác định giá trị...
+ Nhóm thứ hai: các kĩ năng đƣơng đầu với xúc cảm gồm các kĩ năng:
ý thức trách nhiệm, cam kết, kiềm chế sự căng thẳng, kiềm chế đƣợc cảm
xúc, tự quản lí, tự giám sát và tự điều chỉnh
+ Nhóm thứ ba: là nhóm kĩ năng xã hội (hay kĩ năng tƣơng tác): giao
tiếp, quyết đoán, thƣơng thuyết, từ chối, hợp tác, sự cảm thông chia sẻ, khả
năng nhận thấy thiện cảm của ngƣời khác.
- UNESCO cho rằng cách phân loại KNS theo 3 nhóm nêu trên mới chỉ
dừng ở các KNS chung, trong khi đó, còn có những KNS thể hiện trong
những vấn đề cụ thể khác nhau trong đời sống xã hội. Vì thế, UNESCO đề
xuất thêm các KNS nhƣ: vệ sinh, vệ sinh thực phẩm, sức khỏe, dinh dƣỡng;
các vấn đề về giới, giới tính, sức khỏe sinh sản; ngăn ngừa và chăm sóc ngƣời
18


bệnh HIV/AIDS; phòng tránh rƣợu, thuốc lá và ma túy; phòng ngừa thiên tai,
bạo lực và rủi ro; hòa bình và giải quyết xung đột; gia đình và cộng đồng;
giáo dục công dân; bảo vệ thiên nhiên và môi trƣờng; phòng chống buôn bán
trẻ em và phụ nữ.
Với mục đích giúp ngƣời học ứng phó với các vấn đề của cuộc sống và tự
hoàn thiện mình, UNICEF phân loại KNS theo các mối quan hệ của cá nhân
với các nhóm KNS gồm:
+ Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với chính mình gồm các kĩ năng: kĩ
năng tự nhận thức, lòng tự trọng, sự kiên định, đƣơng đầu với cảm xúc, đƣơng
đầu với căng thẳng;
+ Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với ngƣời khác gồm các kĩ năng: kĩ

+ Kĩ năng phân tích và đánh giá tình hình.
+ Kĩ năng giao tiếp.
+ Kĩ năng quan hệ liên nhân cách.
+ Kĩ năng làm chủ đƣợc cảm xúc.
+ Kĩ năng làm chủ đƣợc cú sốc.
+ Kĩ năng đồng cảm.
+ Kĩ năng thực hành.
Trên thực tế, các KNS có mối quan hệ mật thiết với nhau bởi khi tham
gia vào một tình huống cụ thể, con ngƣời cần phải sử dụng rất nhiều kĩ năng
khác nhau. Ví dụ, khi cần quyết định một vấn đề nào đó, cá nhân phải sử dụng
những kĩ năng nhƣ: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tƣ duy phê phán, kĩ năng tƣ
duy sáng tạo và kĩ năng kiên định,...
Việc phân loại KNS chỉ mang tính tƣơng đối tuỳ thuộc vào khía cạnh
xem xét và nghiên cứu. Qua một số cách phân loại trên có thể thấy rằng cách
phân loại của tổ chức Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) là dễ hiểu hơn
cả, phù hợp với nghiên cứu giáo dục KNS cho HS ở Việt Nam.
1.1.2. Mục tiêu của giáo dục KNS
Xã hội hiện đại ngày nay đặt ra những nguy cơ mới cho con ngƣời nói
chung và đặc biệt là trẻ em nói riêng. Nhịp sống nhanh của xã hội hiện đại
làm cho gia đình không dành nhiều thời gian cho con cái nhƣ trƣớc kia, kết
20


quả là trẻ em nhận ít nhận đƣợc sự chăm sóc cũng nhƣ dạy bảo của bố mẹ.
Thêm vào đó sự thay đổi nhanh chóng của xã hội cũng làm cho giá trị đạo đức,
chuẩn mực xã hội cũng nhƣ phong cách sống thay đổi. Rất dễ dàng nhận thấy
trong xã hội sự khác biệt về cách suy nghĩ, cách sống và ứng xử giữa cha mẹ
và con cái. Điều này làm gia tăng mâu thuẫn gia đình tạo căng thẳng cho trẻ.
Bên cạnh đó là sự bùng nổ thông tin làm cho con ngƣời dễ mất kiểm soát và
dễ bị ảnh hƣởng hơn, con ngƣời cũng trở nên cô độc hơn, sống phụ thuộc

Một trong các nguyên nhân dẫn đến các hiện tƣợng tiêu cực của HS phổ
thông trong thời gian qua nhƣ: nghiện hút, bạo lực học đƣờng, đua xe máy, ăn
chơi sa đọa… chính là do các em thiếu những KNS cần thiết nhƣ: kĩ năng xác
định giá trị, kĩ năng từ chối, kĩ năng kiên định, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn,
kĩ năng thƣơng lƣợng, kĩ năng giao tiếp…
1.1.3. Một số KNS hình thành cho HS lớp 12 trong dạy học Làm văn
nghị luận xã hội
Chƣơng trình Ngữ văn lớp 12 THPT, NLXH đƣợc chia làm 2 dạng là
nghị luận về một TTĐL và nghị luận về một HTXH. Dù ở các vấn đề bàn
luận khác nhau song mục đích của việc tạo lập văn bản nghị luận nói chung,
văn bản NLXH nói riêng là giúp cho HS biết cách tạo lập những kiểu văn
bản mà con ngƣời thƣờng sử dụng trong đời sống hàng ngày. Theo đó khi
trình bày những vấn đề của cuộc sống, con ngƣời cũng cần phải biết thể hiện
những suy nghĩ, nhận thức, tình cảm, thái độ và chính kiến của bản thân về
cuộc sống. Chính vì thế, hƣớng dẫn HS tạo lập văn bản NLXH trƣớc hết là
giúp cho các em biết và có những kĩ năng thiết yếu tạo lập một kiểu văn bản
đƣợc con ngƣời sử dụng khá phổ biến trong cuộc sống hàng ngày. Hơn nữa
gắn với những vấn đề thuộc đời sống xã hội, trong quá trình tạo lập văn bản,
ngƣời tạo lập văn bản bao giờ cũng phải thể hiện nhận thức và chính kiến của
bản thân. Bởi vậy, khi hƣớng dẫn HS tìm hiểu NLXH, GV có thể hình thành
và rèn luyện cho HS một số KNS nhất định. Mỗi bài học lại có một số KNS
cơ bản có thể triển khai tích hợp giáo dục cho HS. KNS rất phong phú, tuy
nhiên trong khuôn khổ nghiên cứu của Luận văn thạc sĩ, chúng tôi đƣa ra một
số KNS cơ bản có thể hình thành cho HS lớp 12 qua việc dạy học văn NLXH
22


nhƣ sau: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng ra quyết
định, kĩ năng tư duy phê phán.
1.1.3.1. Kĩ năng tự nhận thức (Self awareness skills)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status