SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT CHUYÊN LAM SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NĂM HỌC 2011- 2012
Đề tài:
GIÁO DỤC SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT
KIỆM VÀ HIỆU QUẢ TRONG DẠY – HỌC
MÔN ĐỊA LÍ TRƯỜNG THPT
CHUYÊN LAM SƠN
Tác giả: Đỗ Thị Hằng
Chức vụ: Giáo viên
Bộ môn: Địa lí
Đơn vị: Tổ Địa lí
Thanh Hoá, tháng 5 năm 2012
PHẦN MỘT
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lời mở đầu
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới kéo theo nhu
cầu ngày càng lớn trong việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên
nhiên nói chung và các nguồn năng lượng nói riêng, khiến nhiều loại tài
nguyên, đặc biệt là các loại khoáng sản năng lượng đứng trước nguy cơ cạn
kiệt. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển bền vững thì việc sử dụng tiết kiệm
và hiệu quả các nguồn năng lượng là một yêu cầu thiết yếu được đặt ra trên
toàn thế giới. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, chúng ta cũng không
nằm ngoài xu thế đó. Vậy làm thế nào để mỗi người dân đều có ý thức cao
trong việc sử dụng năng lượng? Điều đó đòi hỏi phải có sự chung tay của cả
cộng đồng, trong đó ngành Giáo dục là một lực lượng nòng cốt, bởi không
nghiên cứu về vấn đề tích hợp “Giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và
hiệu quả” thông qua các môn học nói chung và môn Địa lí nói riêng.
3. Mục đích nghiên cứu
- Nhằm đổi mới phương pháp, gây hứng thú học tập, phát triển tư duy
và biết vận dụng vào thực tiễn cuộc sống, hình thành cho học sinh ý thức biết
sử dụng tiết kiệm nguồn năng lượng, bảo vệ nguồn tài nguyên, bảo vệ môi
trường sống.
- Góp phần vào chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng
tiết kiệm và hiệu quả theo công văn số 50/2010 QH12 ngày 28/6/2010 của
Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam. Chương trình được thực hiện từ năm
2006 đến năm 2015, chia làm 2 giai đoạn: Mục tiêu của chương trình là tiết
kiệm từ 3% đến 5% tổng mức tiêu thụ năng lượng toàn quốc trong giai đoạn
2006-2010 và từ 5% đến 8% tổng mức tiêu thụ năng lượng trong giai đoạn
3
2011-2015 so với dự báo hiện nay về phát triển năng lượng và phát triển kinh
tế - xã hội theo phương án phát triển bình thường.
- HS có ý thức sử dụng tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường.
- Ủng hộ các hoạt động, các chính sách của Nhà nước về sử dụng
NLTK& HQ; phê phán các hoạt động, hành vi sử dụng lãng phí điện, xăng,
dầu; khai thác tài nguyên không hợp lí làm ảnh hưởng xấu đến MT và lãng
phí tài nguyên, cạn kiệt tự nhiên.
- Tuyên truyền cho những người xung quanh mình cũng cần phải có ý
thức trong việc sử dụng nguồn năng lượng.
4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ
- Nâng cao nhận thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành thái độ và hành vi
đúng đắn cho học sinh trong việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
(NLTK&HQ).
- Học sinh thực hành tiết kiệm tài nguyên và năng lượng.
- Có khả năng tìm hiểu các phương tiện sử dụng tiết kiệm điện, xăng,
Như vậy, giáo dục sử dụng NLTK&HQ là một nội dung hết sức cần
thiết trong cuộc sống. Nhưng sẽ rất khô khan nếu đưa thành một môn học
riêng lẻ; hơn nữa kiến thức về giáo dục sử dụng NLTK&HQ có liên quan đến
rất nhiều môn học khác như Vật lí, Hoá học, Địa lí, Giáo dục công dân,… Do
đó, chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo là lồng ghép nội dung này với các
môn học khác, nhằm thực hiện chủ trương giảm tải chương trình giáo dục phổ
thông, vừa tạo hứng thú cho học sinh và nâng cao hiệu quả giáo dục.
Địa lí là một môn khoa học vừa mang tính tự nhiên vừa mang tính xã
hội, mở ra trong các em một thế giới khoa học; hơn nữa toàn bộ chương trình
Địa lí THPT nghiên cứu vào các vấn đề về tự nhiên, kinh tế - xã hội (KT-
XH) rất phong phú và đa dạng gần gũi với cuộc sống thực tế của chúng ta,
nên phương pháp dạy học môn Địa lí được xây dựng theo quan điểm chủ đề
và đề cao các phương pháp dạy học tích cực của học sinh. Đặc biệt, trong bộ
môn Địa lí có một nội dung quan trọng là nghiên cứu về các nguồn tài nguyên
thiên nhiên (trong đó có tài nguyên năng lượng), các ngành công nghiệp năng
lượng; có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa việc giáo dục kiến thức và rèn luyện
kĩ năng, do đó có nhiều thuận lợi để tích hợp nội dung giáo dục sử dụng
NLTK&HQ.
2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
2.1 Thực trạng học sinh
Nhìn chung, đa số học sinh trường THPT chuyên Lam Sơn có sự yêu
thích đối với bộ môn Địa lí, có khả năng tư duy tốt, tuy nhiên việc vận dụng
kiến thức Địa lí vào trong cuộc sống thực tế để tích hợp với các môn khoa học
khác để sử dụng tiết kiệm năng lượng có hiệu quả đối với học sinh là không
dễ dàng. Trong quá trình lên lớp thiết kế hoạt động phát triển kỹ năng vận
dụng kiến thức tích hợp của học sinh của trường THPT chuyên Lam Sơn, tôi
nhận định hầu hết các em học sinh còn gặp nhiều khó khăn khi rèn luyện kỹ
năng này. Cụ thể:
6
- Về kĩ năng liên hệ, vận dụng kiến thức trong bài học áp dụng vào thực
ý thức về “sử dụng năng lượng tiết kiệm có hiệu quả” còn hạn chế, vì thế tôi
mạnh dạn đưa ra giải pháp dạy học tích hợp nội dung giáo dục sử dụng năng
lượng tiết kiệm có hiệu quả trong dạy học môn Địa lý ở một số lớp.
2.2 Thực trạng giáo viên
Qua thực tế giảng dạy tại trường THPT chuyên Lam Sơn, tôi nhận thấy
mình còn tồn tại những khó khăn trong việc dạy học tích hợp với vấn đề sử
dụng năng lượng tiết kiệm có hiệu quả:
- Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Bản thân tôi không ngừng học hỏi
nâng cao trình độ tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ, tuy nhiên việc trao đổi
học hỏi kinh nghiệm giảng dạy chưa đạt hiệu quả cao.
- Bản than tôi là một giáo viên còn trẻ, cùng một số đồng nghiệp khác
tuổi nghề chưa quá 5 năm, chưa có kinh nghiệm trong giảng dạy nhiều, lại ít
được tham gia các lớp tập huấn về giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và
hiệuquả nên chưa thể tích hợp được nhiều môn học liên quan đến vấn đề sử
dụng năng lượng tiết kiệm có hiệu quả
- Do sự hạn chế về mặt thời gian của tiết học, một số giáo viên trong
quá trình giảng dạy còn ít lấy các ví dụ cụ thể liên hệ vào trong cuộc sống
hằng ngày, gần gũi với môi trường sống, gần gũi với các dạng năng lượng mà
chúng ta đã và đang sử dụng hàng ngày.
- Ở trường, tôi chưa mạnh dạn đề xuất các chương trình ngoại khóa về
vấn đề bảo vệ môi trường và sử dụng tiết kiệm năng lượng.
- Đồng thời, qua thực tế dự giờ, trao đổi với các đồng nghiệp ở các bộ
môn khác, tôi nhận thấy việc tổ chức học sinh hoạt động nhóm vận dụng tích
hợp kiến thức Địa lí vào các môn khoa học khác chưa thực hiện được và đây
8
là một trong những nguyên nhân cơ bản làm ảnh hưởng đến hiệu quả học tập
theo hướng tích hợp của môn Địa lí nói riêng và các môn khoa học khác nói
chung.
Đứng trước thực trạng của giáo viên và học sinh đã nêu ra ở trên, làm
thế nào để giúp học sinh luyện tập kỹ năng vận dụng kiến thức Địa lí vào đời
trình cơ bản)
Địa chỉ tích hợp
Mức độ tích
hợp
10 Bài 12: Sự phân bố
khí áp. Một số loại
gió chính
Mục II: Một số loại gió
chính
Liên hệ
Bài 16: Sóng. Thuỷ
triều. Dòng biển
Mục II: Thuỷ triều
Liên hệ
Bài 32: Địa lí các
ngành công nghiệp
(tiết 1)
Mục I: Công nghiệp năng
lượng
Liên hệ
11 Bài 5: Một số vấn đề
của châu lục và khu
vực
*Tiết 3: Mục II: Một số vấn
đề của khu vực Tây Nam Á
và khu vực Trung Á
Liên hệ
Bài 9: Nhật Bản
Tiết1: MụcI : Điều kiện tự
nhiên. Mục III: Tình hình
Trung du và miền núi
Bắc Bộ
- Mục 2: Khai thác, chế biến
khoáng sản và thuỷ điện
Liên hệ
3.2 Ứng dụng tích hợp giáo dục sử dụng NLTK&HQ vào dạy học
Địa lí trong trường THPT
3.2.1. Loại bài kiến thức NL được lồng ghép thành một mục trong bài
học.
Trong chương trình Địa lí với loại bài kiến thức giáo dục sử dụng
TKNL&HQ được lồng ghép thành một mục, một ý trong bài học cũng khá
nhiều. Nhưng việc giáo viên tìm ra và xác định đúng để có ý thức hướng dẫn,
truyền đạt kiến thức về sử dụng NLTK&HQ, đảm bảo hiệu quả cao cũng
không đơn giản. Điều cần thiết là giáo viên phải có ý thức làm rõ kiến thức về
năng lượng, chuẩn bị những nội dung, phương pháp để thể hiện ý đồ, tư tưởng
của tác giả sách giáo khoa, để học sinh hiểu và có hành vi, thái độ về những
vấn đề về sử dụng NLTK&HQ mà những mục đích đó, những ý đó cần thể
hiện.
Tính chất đặc biệt thể hiện ở chỗ, ngay trong mục tiêu bài giảng cũng
nên đề cập đến kiến thức này. Trong quá trình dạy học phải đạt được mục tiêu
đề ra. Muốn vậy phải chuẩn bị tài liệu, phương tiện, phương pháp hợp lí và có
hiệu quả để thực hiện mục tiêu đề ra.
3.2.2. Loại bài kiến thức NL được lồng ghép vào kiến thức Địa lí
11
Trong chương trình Địa lí THPT có nhiều kiến thức giáo dục sử dụng
NLTK&HQ được tích hợp trong kiến thức địa lí. Có được những kiến thức
này phải trên cơ sở GV quan tâm, lưu ý đến việc kết hợp, bổ sung, thêm vào
một cách linh hoạt, khéo léo những kiến thức sử dụng NLTK&HQ. Kiến thức
sử dụng NLTK&HQ ở đây thường liên quan đến những hậu quả của việc khai
thác bừa bãi nguồn tài nguyên, phát triển dân số, phát triển kinh tế, hoặc
+ Trong những năm gần đây, khi thế giới càng sử dụng nhiều dầu mỏ
thì khu vực này luôn có những bất ổn về chính trị, thường xuyên xảy ra các
cuộc chiến tranh, xung đột hoặc khủng bố.
- Bước 3 : Sau khi HS tìm hiểu vai trò cung cấp dầu mỏ của khu vực
Tây Nam Á và khu vực Trung Á, GV đặt câu hỏi: Nếu các nước tìm ra được
nguồn năng lượng mới; khai thác tốt nguồn năng lượng vô tận như các nước
phát triển; có ý thức sử dụng tiết kiệm năng lượng liệu có góp phần cải thiện
hoà bình ở khu vực Tây Nam Á và khu vực Trung Á không?
Giáo án 2: Bài 32: ĐỊA LÍ CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP (Lớp 10
CB)
Địa chỉ tích hợp giáo dục sử dụng NLTK&HQ: Mục 1.
13
GỢI Ý TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TÍCH HỢP
Các hoạt động dạy – học
Hoạt động: Tìm hiểu về các ngành công nghiệp năng lượng (cả lớp)
- Bước 1 : HS tự tìm hiểu trong SGK để thấy được vai trò của ngành
công nghiệp năng lượng. Sau đó GV khắc sâu kiến thức : Từ khi xuất hiện
trên Trái Đất, loài người đã không ngừng tiêu dùng năng lượng. Thông qua
chỉ số tiêu dùng năng lượng bình quân đầu người hàng năm có thể đánh giá
trình độ phát triển kinh tế – kĩ thuật và văn hoá ở các khu vực và trong từng
quốc gia.
- Bước 2 : Tìm hiểu các ngành công nghiệp năng lượng.
1. Khai thác than
Sau khi nêu vai trò, trữ lượng và sự phân bố than, GV nên đưa ra biểu
đồ tình hình khai thác than trên thế giới để HS nhận xét.
2. Khai thác dầu mỏ
Sau khi nêu vai trò, trữ lượng và sự phân bố dầu mỏ, GV nên đưa ra
biểu đồ tình hình khai thác dầu mỏ trên thế giới để HS nhận xét
14
50kW/h.
18
4.2. Biện pháp thứ hai: Kiến thức năng lượng được lồng ghép vào kiến
thức Địa lí
Ví dụ1. Chương trình lớp 10
Bài 7: Cấu trúc của Trái Đất. Thạch quyển. Thuyết kiến tạo mảng
Nội dung tích hợp giáo dục sử dụng NLTK&HQ là:
- Nhiệt độ, áp suất cao.
- Dùng năng lượng địa nhiệt thay thế năng lượng truyền thống.
- Biết được tiềm năng khổng lồ của nguồn năng lượng trong lòng đất.
Bài 12: Sự phân bố khí áp và một số loại gió chính.
Nội dung tích hợp giáo dục sử dụng NLTK&HQ là:
- Gió được coi là một dạng tài nguyên vô tận.
- Hiện nay, việc sử dụng sức gió để tạo ra điện là vấn đề cần thiết.
Ví dụ 2. Chương trình lớp 11.
Bài 8: Liên Bang Nga
Nội dung tích hợp giáo dục sử dụng NLTK&HQ là:
- Liên bang Nga là một đất nước giàu tài nguyên (trữ lượng than đá,
dầu mỏ và khí tự nhiên đứng thứ 1, 2 thế giới).
19
- Công nghiệp khai thác dầu khí là ngành kinh tế mũi nhọn của Liên
bang Nga.
- Trân trọng những thành quả Liên bang Nga đã giúp đỡ Việt Nam,
trong đó có những công trình thuỷ điện, khai thác dầu khí…
Bài 9: Nhật Bản
Nội dung tích hợp giáo dục sử dụng NLTK&HQ là:
- Nhật Bản là nước nghèo tài nguyên NL nhưng là một cường quốc
kinh tế sử dụng khối lượng lớn nguồn NL.
- Nhật Bản luôn có ý thức sử dụng tiết kiệm tài nguyên, nhất là NL.
21
Hoá đạt 33/36 (đạt 91,7%) học sinh có ý thức tốt về việc “sử dụng năng lượng
tiết kiệm” trong nhà trường, gia đình và xã hội.
Cụ thể như sau:
Các em nhận thức được sâu sắc phần lớn các nguồn tài nguyên là có
hạn nên cần khai thác và sử dụng hợp lí. Tuyên truyền đến mọi người dân nơi
bản thân các em sinh sống về Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng
năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
Ở nhà các em có ý thức nhắc nhở anh chị em cũng như bố mẹ, bạn bè
các em sử dụng tiết kiệm điện, sử dụng các đồ dùng có dán nhãn mác tiết
kiệm điện
Đến trường các em luôn có ý thức tiết kiệm điện. Cụ thể là các em có ý
thức tắt các đồ dùng điện như: bóng đèn, quạt,… khi không cần thiết. Các em
cũng đã biết vận dụng kiến thức đã học vào các phong trào đoàn thể.
Ý thức tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường của các em học sinh
lớp 11chuyên Anh và 10 chuyên Hoá cũng lan tỏa đến các bạn học sinh khác,
và lan tỏa đến gia đình các em và đến với các địa phương nơi các em đang
sinh sống mà từ đó bạn bè các em, bố mẹ các em cũng có ý thức sử dụng năng
lượng tiết kiệm có hiệu quả không làm ảnh hưởng đến môi trường. Góp phần
đóng góp vào Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết
kiệm và hiệu quả.
Giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm ở trường THPT không chỉ có
thể áp dụng với môn Địa lí mà có thể áp dụng với nhiều môn học khác. Đã
đến lúc "Mỗi GV phải trở thành một nhà giáo dục môi trường để giảng dạy
các môn trong nhà trường" (GS.TS Vũ Ngọc Hải ).
Kết quả điều tra so sánh thái độ học sinh đối với vấn đề giáo dục sử dụng
22
năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
Các vấn đề về giáo dục
sử dụng NLTK&HQ
mới; khai thác tốt nguồn
năng lượng vô tận; có ý
thức sử dụng tiết kiệm
năng lượng có thể góp
phần tích cực vào việc
cải thiện hoà bình ở khu
vực Tây Nam Á và khu
vực Trung Á.
67,8% 22,2% 10,0% 90,0% 6,0% 4,0 %
5. Mỗi học sinh chúng ta
cần phải sử dụng
NLTK&HQ chính là bảo
vệ môi trường sống của
chính mình.
68,0% 22,5% 9,5% 91,0% 5,4% 3,6%
6.HS cam kết sẽ tuyên 50,7% 22,6% 26,7% 83,5% 9,7% 6,8%
23
truyền sử dụng
NLTK&HQ cho những
người xung quanh
2. Những dự định sẽ làm nhằm đưa việc lồng ghép giáo dục sử
dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả vào giảng dạy môn Địa lý ở
trường THPT chuyên Lam Sơn
- Giáo viên cần kiên trì sử dụng phương pháp này.
- Tổ chức các buổi ngoại khoá về ý thức tiết tiệm năng lượng và
BVMT.
- Phát tờ rơi cho các lớp tuyên truyền về ý nghĩa, vai trò của nguồn
năng lượng từ đó cần thiết phải sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
- Tạo thói quen tiết kiệm điện cho học sinh với các hình dán nhắc nhở.
- Kết hợp với Đoàn thanh niên trong nhà trường tuyên truyền cho học
Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các đồng nghiệp, đặc
biệt các giáo viên trong tổ Địa lí trường THPT Chuyên Lam Sơn đã nhiệt tình
giúp đỡ và có những nhận xét quý báu trong quá trình tác giả xây dựng đề tài.
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng do năng lực bản thân còn hạn chế, đề tài
chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý
của các đồng chí giáo viên giảng dạy cùng bộ môn để đề tài của tác giả hoàn
thiện hơn.
25