Luận văn Cao học
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
ĐỖ THỊ BÍCH THUẬN
NGHIÊN CỨU VÀ CHẾ TẠO VẬT LIỆU SIÊU
HẤP THỤ NƯỚC TỪ TINH BỘT VÀ
ACID ACRYLIC
Chuyên ngành : HÓA HỮU CƠ
Mã số:
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
Ts. NGUYỄN CỬU KHOA
Cần Thơ – 2006
LỜI CẢM ƠN
Đỗ Thị Bích Thuận Trang 1
Luận văn Cao học
Xin chân thành cảm ơn!
- Sở GD-ĐT Đồng Tháp, BGH nhà trường THPT Tràm Chim đã tạo điều kiện cho
tôi được đi học để nâng cao trình độ và kiến thức.
- Phòng QLĐT-SĐH Trường Đại học Cần Thơ đã tạo điều kiện cho tôi tham gia
lớp học này.
- Viện Công nghệ Hóa học đã tạo điều kiện, và giúp đỡ cho tôi hoàn thành luận văn
Cao học
- Thầy Nguyễn Cửu Khoa đã hướng dẫn em trong suốt thời gian qua để em hoàn
thành luận văn này.
- Anh Ngọc Quyển, anh Thanh Tùng, chị Kim Dung và các bạn của phòng hóa
polymer đã chỉ bảo tận tình, giúp đỡ em hoàn thành đề tài
- Anh Đặng Vũ Lương, Vũ Văn Bình đã giúp em có các mẫu phổ, hình SEM cần
thiết cho đề tài.
- Tập thể HĐSP trường THPT Tràm Chim đã động viên và giúp đỡ về mặt tinh
thần cho em trong suốt thời gian qua.
Tran
g
MỞ ĐẦU
PHẦN I : TỔNG QUAN
1. Giới thiệu vật liệu hấp thụ nước
1.1. Phân loại
1.1.1. Vật liệu thiên nhiên
1.1.2. Vật liệu tổng hợp
1.2. Thành phần cơ bản của vật liệu tổng hợp
2. Giới thiệu về acid acrylic
2.1. Công thức cấu tạo
1
1
1
1
1
2
2
2
Đỗ Thị Bích Thuận Trang 4
Luận văn Cao học
2.2. Tính chất
2.3. Các phương pháp tổng hợp
.
4.3.2. Khả năng hấp thụ của hạt tinh bột
4.4. Tính chất chức năng của tinh bột
4.4.1. Tính chất thuỷ nhiệt và sự hồ hóa tinh bột
4.4.2. Khả năng tạo hình của hạt tinh bột
4.5. Biến hình tinh bột
3
3
3
3
3
3
4
4
4
5
6
6
7
8
10
12
12
12
12
6.2. Tạo gốc tự do bằng phản ứng quang hóa kết hợp với hóa chất
6.3. Tạo gốc tự do bằng phản ứng quang hóa
PHẦN II : PHƯƠNG PHÁP VÀ THỰC NGHIỆM
Mục tiêu của đề tài, phương pháp và nội dung nghiên cứu
1. Hóa chất, dụng cụ, thiết bị
1.1. Hóa chất
1.2. Dụng cụ
1.3. Thiết bị
1.4. Hệ thống phản ứng tạo vật liệu2. Tổng hợp các vật liệu hấp phụ nước
2.1. Tổng hợp vật liệu PAA/DEG-DAA
2.1.1. Phương pháp tổng hợp
2.1.2. Quy trình tổng hợp
2.1.3. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ nước của
vật liệu
26
26
28
29
29
2.2.1. Phương pháp tổng hợp
2.2.2. Quy trình tổng hợp
2.2.3. Mẫu đối cứng không dùng chất xúc tác khơi mào
2.2.4. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ nước của
vật liệu
3. Xác định vật liệu tạo thành
3.1. Phổ IR của vật liệu PAA/DEG-DAA
3.2. Vật liệu PAA/DEG-DAA - tinh bột
3.2.1. Hình SEM
3.2.2. Phổ IR
3.2.3. Phổ NMR
4. Phương pháp xác định khả năng hấp thụ nước và thời gian phân hủy vật
liệu
4.1. Phương pháp đo độ hấp thụ nước
4.2. Phương pháp đo thời gian phân hủy cấu trúc
PHẦN III : KẾT QUẢ
1. Tổng hợp vật liệu hấp thụ nước
1.1. Phân loại
1.1.1. Vật liệu thiên nhiên
Là các loại rơm rạ, bã mía, mùn cưa, vỏ lúa (trấu), thân các loại cây ngắn
ngày sau khi thu hoạch, các loại cỏ, là loại polymer thiên nhiên và các loại khoáng
thiên nhiên diatomic, bentomic đều có khả năng hấp thụ hoặc trương nở. Các vật
liệu này có sẵn trong nông nghiệp và tự nhiên, tuy nhiên hiệu quả giữ nước rất kém.
1.1.2. Vật liệu tổng hợp
a. Vật liệu vô cơ:
Đỗ Thị Bích Thuận Trang 8
Luận văn Cao học
Gồm silicagel, Na
2
SO
4
, CaCl
2
, là những vật liệu có khả năng hút ẩm nhưng
không thể một lượng nước lớn.
b. Vật liệu hữu cơ:
Có rất nhiều loại vật liệu hữu cơ có khả năng hút nước cao đã được tổng hợp
và thương mại hóa. Các hóa chất dùng để tổng hợp các loại vật liệu này phần lớn
xuất phát từ nguồn nguyên liệu dầu mỏ như acid acrylic, methacrylic, acrylamide,
các polymer polyacrylic acid (PAA), polyvinyl alchol (PVA) và một số ít từ
polymer thiên nhiên như tinh bột, cellulose, Xuất phát từ nhu cầu thực tế của đời
sống như: các loại tả lót có thể tự hút nước dùng cho trẻ em, băng gạc dùng trong y
tế và vệ sinh cá nhân, vật liệu giữ nước cho đất để nâng cao năng suất cây trồng
trong nông nghiệp, nhiều công ty và cơ quan trên thế giới đã nghiên cứu ra nhiều
vật liệu hút nước nhằm đáp ứng nhu cầu trên.
1.2. Thành phần cơ bản của vật liệu tổng hợp [21]
- Monomer: chiếm từ 20 - 80% gồm:
)
6
) và các hệ phản ứng oxi hóa khử như: MnO
2
-acid oxalic,
peroxidiphosphat-thioure, Fe
3+
-cystein,
Đỗ Thị Bích Thuận Trang 9
Luận văn Cao học
- Chất làm đặc và chất để ghép tạo copolymer : tinh bột, PVA, bột cellulose
và các dẫn xuất của nó như carboximethylcellulose (CMC) hydroximethylcellulose
(HMC)
- Chất hoạt động bề mặt : nonyol phenol, sorbitol monosterat, linear-
alkylbenzen sulfonate (LAS), lauryl eter sulfate (LES).
- Chất khử mùi: Zeolite, than hoạt tính,
- Chất kháng khuẩn: Đối với vật liệu hấp thụ nước dùng trong tả lót, sản
phẩm vệ sinh cá nhân người ta cho thêm vào chất kháng khuẩn, diệt khuẩn là các
muối amonium tứ cấp: benzalkoniumchloride (BKC), cetyltrimethyl amonium-
chloride, didecyldimethylamonium carbonate.
Tuy nhiên chất làm đặc, chất hoạt động bề mặt, chất độn, chất khử mùi và
kháng khuẩn có thể dùng hoặc không tùy điều kiện phản ứng và mục đích của từng
loại vật liệu.
2. GIỚI THIỆU VỀ ACID ACRYLIC [16], [24], [27]
2.1. Công thức cấu tạo
(acroleic acid ; 2-propenoic acid )
2.2. Tính chất
Acid acrylic là chất lỏng không màu, có vị chua, mùi hăng, tan trong nước,
alcohol và eter. Nhiệt độ sôi 140,9
0
320
O
2
/
320
acrylic acidpropylen
acrolein
acrylonitril
ethylene oxide
ethylenecyano hydrin
acid acrylic
H
2
C
CH
2
O
HCN
CH
2
CH
2
OH CN
H
2
O
H
2
C
methanol, ethanol, ethyleneglycol, dioxan, dimethylformamide, methyl ethyl ceton,
nhưng không tan trong dung môi không phân cực như những hydrocacbon thơm,
hydrocacbon béo. Muối của kim loại hóa trị 1 và muối amoni của polymer này
thường tan được ở trong nước.
Polymer của acid acrylic và muối của nó thường cứng và dễ vỡ, PAA có
những phản ứng đặc trưng của acid carboxilic. Thông thường, dung dịch polyacid
có độ nhớt thấp vì polymer thường cuộn chặt lại với nhau, nó bị ion hóa rất ít. Khi
Đỗ Thị Bích Thuận Trang 11
nH
2
C
CH
COOH
CH
2
CH
COOH
n
HC
+
CO
+
H
2
O
H
2
C
CH
COOH
2
được tạo ra từ phản ứng
nhiệt phân Pb(NO
3
)
2
trong dung môi benzen [13]
Pb(NO
3
)
2
t
o
PbO
2NO
2
1
2
__
O
2
Tác giả đề nghò cơ chế như sau:
- Khơi mào:
-Phát triển mạch:
- Kết thúc mạch:
M: acrylic acid
Phương pháp này đơn giản, polymer sạch, tuy nhiên khơng điều chỉnh được
nhiệt độ do có độ nhớt cao, sự thốt nhiệt kém, dẫn đến sự xuất hiện nhiệt cục bộ,
khơng đồng đều trong tồn khối. Khó khăn này khiến cho polymer có độ phân tán
M
n
+
M
m
polymer
K
2
S
2
O
8
S
2
O
8
2
2K
+
SO
4
Luận văn Cao học
3.3. Ứng dụng:
PAA là polymer có khả năng chịu hóa chất, thời tiết, rắn chắc sau khi định
hình, nên có nhiều ứng dụng trong công nghiệp:
- Sản phẩm trùng hợp dạng rắn có màu trong suốt, thường được dùng làm
nguyên liệu cho sản xuất các thiết bị như: kính sát tròng, thiết bị y khoa, thiết bị
quang học, kính chiếu hậu, các loại nhựa trao đổi ion, các tấm panel dùng ngoài
trời, trong xây dựng nhà cửa,
CH
C O
O
CH
2
CH
C O
NH
2
Na
+
nCH
2
CH
COOH
CH
2
CH
COOH
n
SO
4
+
nCH
2
CH
COOH
CH
2
CH
5
Luận văn Cao học
* Acrylic-styren-acrylonitril (ASA) có độ bóng cao, kháng va đập
cao, chịu thời tiết tốt và chịu đựng nhiều loại dung môi hữu cơ, acid, kiềm. Được
dùng trong những sản phẩm bảo hộ lao động, thiết bị thông tin liên lạc,
* Ethylene-methacrylate (EMA) mềm dẻo, linh động thường gặp
trong đóng gói dược phẩm, găng tay,
* Ethylene-ethylacrylate (EEA) mềm dẻo ở nhiệt độ thấp, chịu nhiệt
tốt nên được dùng trong nhiều dây cáp điện,
* Ethylene-butylacrylate (EBA) cứng ở nhiệt độ thấp, không giống
như các copolymer trên EBA có tính năng quang học kém nên được dùng trong bao
bì thực phẩm đông lạnh,
4. TINH BỘT:[6],[7],[27]
4.1. Mở đầu:
Trong thiên nhiên, tinh bột là hợp chất hữu cơ rất phổ biến và dồi dào, chỉ
đứng sau cellulose. Người ta thấy tinh bột có trong cây xanh, rễ, cành, hạt, củ và
quả. Trong thời kỳ “ngủ” và nảy mầm, tinh bột là chất dự trữ năng lượng cho cây.
Trong thực vật, tinh bột thường có mặt dưới dạng không hoà tan trong nước
do đó có thể tích tụ một lượng lớn ở trong tế bào mà không ảnh hưởng đến áp suất
thẩm thấu. Các hydratcarbon đầu tiên được tạo ra ở lục lạp do quang hợp, nhanh
chóng được chuyển thành tinh bột. Tinh bột ở mức độ này gọi là tinh bột đồng hóa,
rất linh động, có thể được sử dụng ngay trong quá trình trao đổi chất hoặc có thể
được chuyển thành tinh bột dự trữ ở trong hạt, quả, củ, rễ, thân và bẹ lá. Tinh bột có
nhiều trong các loại lương thực do đó các loại lương thực được coi là nguyên liệu
chủ yếu để sản xuất tinh bột.
Thành phần của các loại tinh bột [6]
- Lúa (Oryza sativa L.): Tinh bột chiếm 80% trong nội nhũ của lúa, nội nhũ
là phần được sử dụng lớn nhất của hạt lúa, chứa đầy tinh bột, protein, một ít
cellulose, chất béo, tro và đường.
-Lúa mì ( Triticum aestivum L . ): Gồm các phần như vỏ quả, vỏ hạt, lớp
Thường trong tinh bột loại nếp (gạo nếp, ngô nếp) gần như 100% là amylopectin,
trái lại trong tinh bột đậu xanh, dong riềng hàm lượng amylose chiếm trên dưới
50%. Hiện nay người ta đã lai tạo được loại ngô có thành phần amylose trong tinh
bột chiếm tới 80%.
4.2.1 Cấu tạo, tính chất amylose:
4.2.1.1 Cấu tạo của amylose:
Trong amylose, các gốc glucose được gắn vào nhau nhờ liên kết α(1,4)-
glucoside và tạo nên chuỗi dài bao gồm từ 200 – 2000 đơn vị glucose. Phân tử
amylose có một đầu khử và một đầu không khử.
Đỗ Thị Bích Thuận Trang 15
Luận văn Cao học
O
CH
2
OH
OH
OH
H
O
H
O
O
CH
2
OH
OH
OH
H
O
H
0
.
Các nhóm hydroxyl của các gốc glucose được bố trí phía ngoài xoắn ốc, bên trong
là các nhóm C – H.
4.2.1.2 Tính chất của amylose:
a. Độ hòa tan:
Trong đa số trường hợp dung dịch amylose rất nhanh chóng tạo keo thậm chí
ngay cả khi ở nhiệt độ cao. Tốc độ tạo keo phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời
gian, nhiệt độ, pH, nồng độ và phương pháp hòa tan amylose.
Đỗ Thị Bích Thuận Trang 16
Luận văn Cao học
Amylose hòa tan dễ dàng trong kiềm loãng. Điều đáng chú ý là để hòa tan
amylose cần có một lượng kiềm tối ưu. Nồng độ cao hơn hoặc thấp hơn đều làm
cho amylose tạo ra keo.
b. Tính lưu biến:
Các phân tử amylose thường tuyến tính và đều đặn, do đó trong dung dịch,
chúng có khuynh hướng liên kết lại với nhau để tạo ra các tinh thể. Khi sự liên hợp
xảy ra với tốc độ tối thiểu thì amylose sẽ tạo ra khối không tan của các hạt đã thoái
hóa, khi tốc độ liên hợp cực đại thì dung dịch chuyển thành thể keo.
Amylose đã thoái hóa không hòa tan được trong nuớc lạnh, nhưng lại có khả
năng hấp thụ được một lượng lớn nước. Một số amylose có thể hấp thụ được một
lượng nước gấp gần bốn lần trọng lượng của chúng. Vì vậy có thể chuẩn bị được
huyền phù amylose có độ nhớt rất lớn. Nếu để amylose trong một lượng nước ít hơn
bốn lần thì toàn bộ nước sẽ bị hấp thụ, còn amylose sẽ tạo ra keo xúc biến.
Ở nhiệt độ thường, keo amylose thường là một khối trắng đục không thuận
nghịch, không thấy có hiện tượng co. Nghiên cứu keo amylose bằng kính hiển vi,
người ta thấy chúng có cấu trúc hạt rõ rệt, chứng tỏ có tính không tan của tinh thể.
Như vậy, sự khác nhau giữa tạo keo và thoái hóa chỉ là về mức độ định
hướng. Độ bền của keo amylose do nồng độ và thời gian quyết định. Khi khô keo
trở nên cứng, giòn và không thể quay trở về trạng thái ban đầu trong nước.
Phân tử amylopectin chỉ có một đầu khử duy nhất ở mỗi nhánh.
O
CH
2
OH
OH
OH
H
H
O
CH
2
OH
OH
OH
H
H
O
CH
2
OH
OH
H
O
H
O
O
O
CH
2
phần chủ yếu tạo sự trương phồng của hạt tinh bột.
Trong tinh bột ngoài amylose và amylopectin còn có một lượng polypeptit
liên kết hóa học với tinh bột. Khi thủy phân polypeptit này người ta thấy có chứa
các acid amin, có lẽ polypeptit này là chất khơi mào của sự sinh tổng hợp tinh bột.
4.3. Cấu tạo và tính chất của hạt tinh bột:
4.3.1. Cấu tạo:
Cấu tạo bên trong của hạt tinh bột khá phức tạp. Hạt tinh bột có cấu tạo lớp,
trong mỗi lớp đều có lẫn lộn các tinh thể amylose và amylopectin sắp xếp theo
phương hướng tâm.
Năm 1965 nhờ phương pháp hiển vi điện tử và nhiễu xạ tia X người ta thấy
rằng trong hạt tinh bột các chuỗi polyglucoside của amylose và amylopectin tạo
thành xoắn ốc với ba gốc glucose một vòng. Trong tinh bột của các hạt ngũ cốc, các
phân tử có thể có chiều dài từ 0.35 – 0.7µm, trong khi đó chiều dày của một lớp ở
hạt tinh bột là 0.1µm. Hơn nữa các phân tử lại sắp xếp theo phương hướng tâm nên
các mạch glucoside của các polysacharid phải ở dạng gấp khúc nhiều lần.
Ngoài cách sắp xếp bên trong như vậy, mỗi hạt tinh bột còn có vỏ bao phía
ngoài, bền với tác động bên ngoài. Trong hạt tinh bột có lỗ xốp nhưng không đồng
đều. Vỏ hạt tinh bột cũng có lỗ nhỏ do đó các chất hòa tan có thể xâm nhập vào
trong bằng con đường khuếch tán qua vỏ.
4.3.2. Khả năng hấp thụ của hạt tinh bột:
Đỗ Thị Bích Thuận Trang 19
Luận văn Cao học
Hạt tinh bột có cấu tạo lỗ xốp nên khi tương tác với các chất hòa tan thì bề
mặt bên trong và bên ngoài của hạt đều tham dự. Sự hấp thụ và phản hấp thụ hơi
nước, các chất ở thể khí và thể hơi trong quá trình bảo quản, sấy và chế biến thuỷ
nhiệt có ý nghĩa quan trọng. Người ta nhận thấy rằng khi độ ẩm tương đối của
không khí là 73% thì khả năng hút ẩm của tinh bột là 10,33%, khi độ ẩm tương đối
là 100% thì khả năng hút ẩm lên đến 20,93%. Do tính chất của amylopectin nên các
hạt tinh bột giàu amylopectin sẽ dể hòa tan trong nước ở 95
0
Nhiệt độ cuối (
C
0
)
Ngô 62 66 70
Ngô nếp 63 68 72
Thóc 68 74.5 78
Đỗ Thị Bích Thuận Trang 20
Hạt tinh
bột
Hấp thụ
nước qua vỏ
Ngưng tụ
nước lỏng
Hydrat hóa
và trương nở
Phân tánDung dịch
Phá vở vỏ hạt, đứt
liên kết các phân tử
Luận văn Cao học
Lúa mì 59.5 62.5 64
Sắn 52 59 64
Khoai tây 58 62 66
Sự hồ hóa tinh bột cũng có thể xảy ra ở nhiệt độ thấp trong môi trường kiềm.
Vì kiềm làm ion hóa từng phần do đó làm cho sự hydrat hóa phân tử tinh bột tốt
hơn.
4.4.2. Khả năng tạo hình của tinh bột:
4.4.2.1. Khả năng tạo màng:
Giống như các chất cao phân tử khác, tinh bột có khả năng tạo màng tốt. Để
tạo màng các phân tử tinh bột sẽ dàn phẳng ra, sắp xếp lại và tương tác trực tiếp với
- phương pháp biến hình enzim.
4.5.1. Phương pháp biến hình vật lý:
4.5.1.1. Trộn với chất rắn trơ:
Tinh bột có tính ái lực đối với nước nên hòa vào nuớc trực tiếp sẽ bị vón cục.
Nếu đem trộn nó với chất trơ sẽ làm cho các hạt tinh bột cách biệt nhau về vật lý, do
đó sẽ cho phép chúng hydrat hóa một cách độc lập và không kết lại thành cục.
4.5.1.2. Biến hình bằng hồ hóa sơ bộ:
Dưới tác dụng của nhiệt độ, đúng hơn là tác dụng nhiệt ẩm sẽ làm đứt các
liên kết giữa các phân tử, làm phá huỷ cấu trúc của hạt tinh bột khi hồ hóa, cũng
như sẽ tái liên hợp một phần nào đó các phân tử khi sấy sau này.
Tinh bột hồ hóa có những tính chất sau:
- trương nhanh trong nước;
- biến đổi chậm các tính chất khi bảo quản;
- bền khi ở nhiệt độ thấp;
- có độ đặc và khả năng giữ nước, giữ khí tốt.
Tinh bột sau khi hồ hóa sơ bộ được dùng nhiều trong công nghệ như: tránh
tổn thất các chất bay hơi trong bánh ngọt; giữ được chất béo và bảo vệ chất béo
khỏi bị oxi hóa trong xúp khô; liên kết ẩm và ổn định ẩm trong các sản phẩm thịt;
được dùng để huyền phù hóa các tinh bột, tinh bột thô cũng như các chất không hòa
tan tương tự khác.
4.5.1.3. Biến hình tinh bột bằng gia nhiệt khô ở nhiệt độ cao:
Thục chất của quá trình này là nhằm thu sản phẩm dextrin trong tinh bột và
biến hình của dextrin để tạo ra các sản phẩm cần thiết. Chúng được ứng dụng nhiều
trong các ngành như pha sơn, dùng làm chất làm đặc cho các thuốc nhuộm sợi, làm
tăng tính lưu biến cho thuốc nhuộm, bột thực phẩm, dùng để pha keo dán phong bì,
dán nhãn chai, băng dính, thùng cactong
Đỗ Thị Bích Thuận Trang 22
Luận văn Cao học
4.5.2. Biến hình bằng phương pháp hóa học:
4.5.2.1. Biến hình bằng acid:
O
O
CH
2
O
HOH
OHH
O
P
ONa
O
O
O
O
CH
2
O
H OH
OH H
Luận văn Cao học
Tinh bột oxi hóa được sử dụng để hồ bề mặt trong sản xuất giấy, để hồ sợi
bông, sợi pha và tơ nhân tạo trong công nghiệp dệt và chất làm đặc trong công nghệ
thực phẩm.
4.5.2.4. Biến hình tinh bột bằng xử lý tổ hợp để thu nhận tinh bột keo đông:
Tinh bột biến hình này có khả năng keo đông cao, không còn mùi đặc biệt và
có độ trắng cao. Người ta dùng tinh bột keo đông làm chất ổn định trong sản xuất
kem và có thể dùng thay thế aga – aga và agaroit.
4.5.2.5. Biến hình tinh bột bằng cách gắn thêm nhóm phosphat:
Khi cho acid H
3
O
CH
2
O
H OH
OH H
Luận văn Cao học
Tinh bột monohidrophosphat có liên kết ngang rất bền trong một thời gian
dài ở nhiệt độ cao và pH giảm. Tuy nhiên, dịch hồ tinh bột loại này sẽ không trương
và không đạt được khả năng làm đặc tối đa.
Tinh bột phosphat được dùng làm chất độn trong các sản phẩm thực phẩm,
dùng trong công nghiệp giấy, công nghiệp dệt, tinh chế quặng, sản xuất chất tẩy rửa,
trong công nghiệp đúc.
4.5.2.6. Biến hình bằng cách tạo liên kết ngang:
Phân tử nào có khả năng phản ứng với nhóm hydroxyl đều tạo ra được liên
kết ngang giữa các mạch tinh bột. Ví dụ như: oxiclorophospho, trimetaphosphat,
formaldehid, dialdehid vinylsulfon, diepoxit,
Tinh bột phản ứng với acid boride tại bốn nhóm OH của hai mạch tinh bột
nằm ngang nhau, kết quả tạo thành phức bisdiol. Trong thực phẩm phức bisdiol sẽ
làm cho thực phẩm có độ dai, giòn, cứng hơn so với tinh bột ban đầu
4.5.2.7. Biến hình bằng cách gắn thêm nhóm ít phân cực :
Trong công nghiệp, nhằm tăng khả năng phân hủy của các loại nhựa, bao bì
người ta thường phối trộn (blend) tinh bột biến tính với các loại nhựa PE, PP,
Tinh bột được biến tính bằng cách ester hóa với các tác nhân anhydric acetic,
anhydric phtalic nhằm làm giảm độ phân cực của tinh bột cũng như tăng độ tương
hợp với các loại nhựa trên.
Đỗ Thị Bích Thuận Trang 25
O
O
O