MỤC LỤC
TRANG
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÂN NHÁNH
CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH 4
1.1. Quá trình hình thành của chủ nghĩa hiện sinh 4
1.1.1. Điều kiện lịch sử dẫn đến sự hình thành của chủ nghĩa hiện sinh 4
1.1.2. Nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa hiện sinh 7
1.2. Thực chất sự phân nhánh của chủ nghĩa hiện sinh 13
1.2.1. Chủ nghĩa hiện sinh hữu thần 14
1.2.2. Chủ nghĩa hiện sinh vô thần 16
CHƯƠNG 2: DIỆN MẠO CON NGƯỜI TRONG
CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÔ THẦN 19
2.1 Sự mâu thuẫn trong vấn đề con người 19
2.1.1. Con người như cá nhân độc đáo và tự do 20
2.1.2. Con người với tâm trạng lo âu, cô đơn giữa “tha nhân”
và đồng thời như một dự phóng 24
2.2. Mối quan hệ cá nhân – xã hội trong chủ nghĩa hiện sinh vô thần 29
2.2.1. Tính quy định xã hội đối với cá nhân 29
2.2.2. Mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội 30
2.3. Quan niệm về tha hóa và tính chất hai mặt của chủ nghĩa hiện sinh vô thần 32
2.3.1. Quan niệm về tha hóa trong chủ nghĩa hiện sinh vô thần 32
2.3.2. Tính chất hai mặt của chủ nghĩa hiện sinh vô thần 36
KẾT LUẬN 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Triết học Phương Tây hiện đại ngoài mácxít ra đời từ khoảng giữa thế ký XIX, tạo
thành một giai đoạn mới trong tiến trình lịch sử triết học thế giới. Cho đến nay, không
thể phủ nhận những đóng góp to lớn của nó vào kho tàng tri thức của nhân loại. Khi
nhất là trong bối cảnh mở cửa, hội nhập, giao lưu quốc tế mà trong đó có giao lưu văn
hoá, tư tưởng. Đồng thời, việc tìm hiểu những giá trị và hạn chế của chủ nghĩa hiện
sinh vô thần riêng ở vấn đề con người càng khẳng định hơn nữa tính ưu việt của triết
học Mác – Lênin đối với triết học phương Tây hiện đại, khẳng định giá trị quý báu của
chủ nghĩa Mác – Lênin ở lý tưởng cao cả - lý tưởng giải phóng con người.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ.
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến vấn đề này, chẳng hạn:
- Samuel Enoch Stumf, “Lịch sử triết học và các luận đề ”, Nhà xuất bản(Nxb)
Lao Động, Hà Nội, 2004, Đỗ Văn Thuấn và Lưu Văn Hy dịch
- Bryan Magee, “Câu chuyện triết học”, Nxb Thống Kê, Hà Nội, 2003, Huỳnh Phan Anh
và Mai Sơn dịch.
- Lưu phóng Đồng, “Triết học Phương Tây hiện đại”, Nxb Lý Luận Chính Trị,
Hà Nội, 2004, Lê Khánh Trường dịch.
- P.Foulquie, “Chủ nghĩa hiện sinh”, Thế Sự xuất bản, Sài Gòn, 1968, Thụ Nhân dịch.
- Bùi Giáng, “Martin Heidegger và tư tưởng hiện đại”, Nxb Vĩnh Phước, 1963,
Sài Gòn, 2 tập.
- Tam Ích, “Sartre và Heidegger trên thảm xanh”, Hồng Đức Xuất bản, Sài Gòn, 1969
- Lê Tôn Nghiêm, “Những vấn đề triết học hiện đại”, Ra Khơi Xuất bản, Sài Gòn,
1971.
- Trần Thiên Đạo, “Chủ nghĩa hiện sinh và thuyết cấu trúc”, Nxb Văn Học, Hà Nội,
2001.
- Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng, “Lịch sử triết học phương Tây hiện đại”,
Nxb Tổng Hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2005.
- Nguyễn Hào Hải, “Một số học thuyết triết học phương Tây hiện đại”,
Nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2001.
3
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
Mục đích nghiên cứu:
Đề tài khóa luận nhằm phân tích một cách cụ thể, rõ nét những nội dung cơ bản về
vấn đề con người trong chủ nghĩa hiện sinh nhánh vô thần, qua đó bước đầu nêu bật và
Chương 1
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÂN NHÁNH
CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH
1.1. Qúa trình hình thành chủ nghĩa hiện sinh
1.1.1. Điều kiện lịch sử dẫn đến sự hình thành của chủ nghĩa hiện sinh
Chủ nghĩa hiện sinh là trường phái triết học xuất phát từ việc biểu thị ý nghĩa tồn
tại thật sự của con người, tiến tới vạch ra mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội và thế
giới. Nó được coi là một trong các học thuyết Triết học phương Tây hiện đại ngoài
mácxít nổi trội nhất; là triết học của thời đại khủng hoảng, thể hiện sự khủng hoảng
của xã hội sau hai cuộc đại chiến thế giới. Trong chủ nghĩa hiện sinh, khuynh hướng
phi duy lý (irrationalism) chiếm ưu thế, thể hiện rõ tâm trạng bi quan và thất vọng của
con người đối với nền văn minh tư sản trong thế kỷ XX. Vì vậy, muốn hiểu cặn kẽ và
chính xác về chủ nghĩa hiện sinh không thể không đặt nó vào bối cảnh thời đại cụ thể -
xã hội phương Tây thế kỷ XX mà nó là đứa con tinh thần tiêu biểu.
Chủ nghĩa hiện sinh được ra đời chính thức vào năm 1927, người mở đầu cho
trào lưu này là Martin Heidegger với tác phẩm nổi tiếng của ông là “Hữu thể và thời
gian” và kết thúc vào năm 1960 với tác phẩm “Phê bình lý trí biện chứng” của Jean
Paul Sartre.
Với tư cách là một trào lưu triết học, chủ nghĩa hiện sinh bắt đầu hình thành tại
nước Đức ngay sau đại chiến thế giới thứ nhất kết thúc. Những biến cố xã hội không
đồng nhịp gắn liền với chủ nghĩa tư bản bước vào giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, gắn liền
với cuộc chiến,… đã tạo ra thay đổi sâu sắc trong ý thức xã hội của giai cấp tư sản.
Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918) là kết quả tất yếu từ sự phát triển
kinh tế của chủ nghĩa tư bản thế giới vào những năm đầu thế kỷ XX – khi nó đã
chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Từ góc độ chính trị, chiến
tranh thế giới lần thứ nhất là kết quả của sự gãy đổ cán cân quyền lực quốc tế. Trong
tác phẩm “Chủ nghĩa đến quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản” Lênin đã nhận
định: “…bước chuyển của chủ nghĩa tư bản, giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền,
5
sang tư bản tài chính, là gắn liền với cuộc đấu tranh ngày càng gay gắt nhằm phân chia
ta có cảm tưởng rằng mình chỉ là những chi tiết vụn vặt, vô nghĩa trong guồng máy chết
6
chóc vô hình. Chiến tranh đã không làm cho thế giới được phân định rõ ràng, tươi sáng
hơn như cái “ý muốn” ngộ nghĩnh, giả tạo của giới cầm quyền các cường quốc.
Như vậy, có thể thấy điều kiện lịch sử phương Tây (cụ thể là nước Đức và nước
Pháp) qua hai cuộc đại chiến chính là mảnh đất hiện thực vô cùng phù hợp với dòng
triết học nhân bản, phi duy lý của thế kỷ XX – Chủ nghĩa hiện sinh. Trong thời đại
khủng hoảng với những đảo lộn, những biến cố, triết học hiện sinh xuất hiện để ghi lại
đậm nét tâm trạng của thời đại ấy. Điều này giải thích vì sao triết học hiện sinh là triết
học tâm trạng. Đơn giản vì nó bầu chứa những lo âu, sợ hãi, hoang mang, dao động;
những khiếp đảm, hoài nghi, bấn loạn của một thế hệ, của một thời đại.
Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện trên nền đổ nát của một châu Âu điêu tàn, một
nước Đức bại trận, một nước Pháp từng bị phát xít chiếm đóng. Những cuộc đại chiến
tàn khốc, quy mô chính là nguyên nhân về mặt xã hội ra đời chủ nghĩa hiện sinh.
Nhưng tại sao chiến tranh lại gia tăng và bành trướng vào ngay thời đại của tiến bộ về
kinh tế, khoa học và kỹ thuật. Sự giàu có về vật chất của thế giới, tại sao, lại không
tương đồng với hòa bình cho nhân loại, hạnh phúc cho mọi người ?
Chủ nghĩa hiện sinh phản ánh tâm trạng của một thời đại khủng hoảng; lo sợ,
hoang mang bởi những cuộc chiến và cũng hoang mang, lo sợ bởi sự thay đổi đến
chóng mặt của khoa học - kỹ thuật!
Khi trở thành lực lượng thống trị, giai cấp tư sản hầu như không cần đến cách
mạng xã hội nữa, mà tập trung vào các cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật với mục
đích phát triển nhanh chóng nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và cũng để củng cố đại vị
của mình. Bằng cuộc cách mạng công nghiệp (và sau đó là cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ), chủ nghĩa tư bản phương Tây đã bỏ lại phía sau thời kỳ cổ điển để
bước sang thời hiện đại. Lúc đầu, khoa học – kỹ thuật được coi như là chiếc chìa khóa
vạn năng có thể giải quyết mọi vấn đề của xã hội, khắc phục những mâu thuẫn. Thế
nhưng, chiến tranh xảy ra liên tiếp. Hai cuộc chiến với hàng triệu người thương vong,
với những tổn thất trầm trọng thực sự làm châu Âu chao đảo. Khoa học – kỹ thuật phát
triển nhưng kinh tế vẫn rơi vào thời kỳ suy thoái (1923 – 1933). Bom nguyên tử và
hiệu “Hãy tự nhận biết chính mình” [4; tr131]; kinh thánh với những lời huyền nhiệm
về Chúa cứu thế và về thân phân con người St.Augustin (354-430) với tư tưởng về sự
giằng xé tâm hồn, nỗi ưu tư khi trước Chúa Vực sâu trong lương tâm con người bị
phơi bày trần trụi; Blaise Pascal (1623-1662) với câu nói: “Hãy để cho con người,
bằng cách trở lại với mình, xem xét những gì mà họ đang so sánh với cái đang hiện
hữu; hãy để cho họ xem mình như đã lạc loài…”[25; tr131].
8
Những bậc tiền bối trực tiếp chuẩn bị cho chủ nghĩa hiện sinh, ra đời là
S.Kierkegaard và Nietzsche. S.Kierkegaard là ông tổ của hiện sinh hữu thần (hiện sinh
tôn giáo) còn Nietzsche là ông tổ của hiện sinh vô thần. Họ chính là những người trực
tiếp đưa ra tư tưởng cốt lõi của thuyết hiện sinh. Các nhà hiện sinh sau này đã kế thừa,
phát triển và làm phong phú hơn những tư tưởng đó, để xây dựng nên một triết học hiện
sinh hoàn chỉnh, tồn tại với tư cách là một triết thuyết nhân bản, phi duy lý tiêu biểu.
Soren Kierkegaard (1813 - 1855) là một triết gia nổi tiếng Đan Mạch, được xem
là người mở đầu cho chủ nghĩa hiện sinh. Ông sống vào thời đại mà triết học của
Hêghen như một đỉnh cao, và bản thân Hêghen là một cái bóng vĩ đại. S.Kierkegaard,
với tư cách là người khai mở dòng triết học mới nhất định phải tấn công vào hệ thống
triết học cũ – triết học duy lý, mà con đường ngắn nhất là công phá Hêghen.
S.Kierkegaard cho rằng triết học Hêghen đã không đưa ra hướng dẫn nào về điều mà
một cá nhân phải làm. Hêghen, theo Kierkegaard, chỉ giải thích mọi điều dưới dạng
những tầm bao quát rộng lớn của ý niệm tuyệt đối trong đó những sự việc có thực,
những thực thể cá nhân không được nhắc đến. Sự phê phán của Kierkegaard đối với
Hêghen là sự phê phán đối với chủ nghĩa duy tâm. Nhưng điều đó cũng không đưa
Kierkegaard đến lập trường duy vật.
Muốn hiểu được tư tưởng của Kierkegaard không thể không phác họa đôi nét về
cuộc đời ông. Bởi nét độc đáo để phân biệt tư tưởng Kierkegaard là ở chổ ông sống với
những tư tưởng ấy, hay nói đúng hơn chúng được rút ra từ cuộc sống của bản thân ông.
S. Kierkegaard sinh ngày 5 – 5 – 1813 trong một gia đình gồm ba chị em gái và
ba anh trai. Kierkegaard là con út, là người con thứ bảy trong gia đình. Cha của
Kierkegaard là ông Mikael Pederson Kierkegaard. Ông đã thông truyền cho cho cậu bé
cuộc đời cũng như tác phẩm của ông. Nói về điều này, Kierkegaard phụng sự cho chân
lý cũng là một sự hy sinh lớn nhất với Kierkegaard, ý nghĩa của chân lý chính là dâng
hiến đời mình cho chân lý. Và vào thời đại Kierkegaard sống, Kytô giáo đã bị làm biến
dạng trong đời sống tôn giáo Đan Mạch. Thế nên, cần phải có một người dám chết vì
Kytô giáo, dám chết vì chân lý. Hiến mình cho Thượng đế là một chỉ dẫn hiện sinh cao
cả nhất.
Sau tác phẩm đầu tiên vài tháng, “Sợ hãi và run rẩy” ra đời, được đánh giá là
một trong tác phẩm hoàn hảo nhất của Kierkegaard. Tác phẩm là sự suy niệm về tôn
giáo, lý giải về đức tin, tập trung chú giải một câu chuyện trong Kinh thánh: Abraham
hiến người con Issac cho Thượng đế. Abraham là “hiệp sĩ đức tin” của Kierkegaard.
Tại sao Abraham lại hiến con người cho Thượng đế? Kierkegaard trả lời: “Vì Thiên
10
chúa và vì chính bản thân ông - cả hai cũng là một. Ông làm thế vì Thiên chúa, bởi vì
Thiên chúa đòi hỏi bằng chính đức tin này của ông” [11; tr 526].
Trong sự nghiệp phụng sự cho tôn giáo, hiến mình cho Thượng đế, Kierkegaard
đã sáng tạo ra khối lượng đáng kể các tác phẩm: “sự hồi khởi”, “ý niệm xao xuyến”…
Kierkegaard được người ta ca tụng, nhưng đối với Kierkegaard lại là sự thất bại, vì
người ta không hiểu ông. Người ta xem ông như một nhà văn nổi danh chứ không phải
một triết gia thức tỉnh cá nhân. Nếu với tư cách là tác phẩm triết học, những sách của
ông bị rơi vào lãng quên cũng như bản thân ông hoàn toàn cô độc giữa Đan Mạch khi
đó. Triết học, theo như Kierkegaard, phải là một sự suy niệm về cuộc đời, một sự giải
minh về hiện hữu con người.
Cùng với Kierkegaard, Friedrich Nietzsche (1844 – 1900) đã đặt nền móng
tư tưởng cho chủ nghĩa hiện sinh thế kỷ XX. Là con trai một mục sư, suốt thời niên
thiếu nhà triết học người Đức cũng có niềm tin vào Kytô giáo, cũng là một kẻ mộ đạo.
Về điểm này, Nietzsche cũng như Kierkegaard của Đan Mạch. Nhưng dần dần lòng tin
ấy yếu đi và mất hẳn. Rốt cuộc, Nietzsche chống lại cả Thượng đế. Thế nên cũng tạo
bước ngoặc trong lịch sử, nhưng Nietzsche lại được nhắc tới như ông tổ của chủ nghĩa
hiện sinh vô thần. Bằng tuyên ngôn “đảo lộn mọi giá trị”, Nietzsche đã khích lệ những
cá nhân hãy sống là mình, vượt lên trên tất cả mọi ràng buộc, chuẩn mực, kể cả đó là
Kierkegaard và Nietzsche đã không chịu bước vào vòng thao túng của chủ nghĩa
duy lý. Sự nghiệp sáng tạo của hai ông lại rất hoà nhịp với thế kỷ XX. Những phạm trù
hiện sinh của Kierkegaard (âu lo, sợ hãi, đức tin) và tư tưởng về hình mẫu siêu nhân của
Nietzsche ( thể hiện trong tác phẩm “Zarathoustra đã nói như thế”) đã đặt nền móng cho
chủ nghĩa hiện sinh hiện đại. Trên nền tảng tư tưởng ấy, chủ nghĩa hiện sinh phát triển
như một triết thuyết bởi vì đã kế thừa phương pháp từ hiện tượng học.
Chủ nghĩa hiện sinh kế thừa trực tiếp và phát triển những tư tưởng của
Kierkegaard và Nietzsche. Hiện tượng học của Edmund Husserl (1859-1938), một nhà
triết học Đức tiêu biểu của thế kỷ XX đã đưa lại cho nó một phương pháp, một cơ sở
lý luận để trở thành triết học. Thế nên cũng hợp lý khi nhận định hiện tượng học Đức
hợp với tư tưởng của Kierkegaard thành chủ nghĩa hiện sinh.
Người có công khai sinh ra phương pháp hiện tượng học là Edmund Husserl
(1859 – 1938), một nhà triết học Đức tiêu biểu của thế kỷ XX. Hiện tượng học là một
học thuyết có tham vọng điều hòa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trong lĩnh
vực nhận thức luận. Nhưng về thực chất, hiện tượng học của Edmund Husserl là một
nhận thức luận duy tâm chủ quan, do đó ông kêu gọi phải giải phóng nhận thức của
chúng ta ra khỏi những “hệ tư tưởng” đã được làm sẵn. Ông dùng thuật ngữ “hiện
12
tượng học” để gọi triết học của ông bởi sự từ chối vượt quá chứng cứ hiển nhiên hay
dữ kiện có sẵn đối với ý thức, và các dữ kiện rút ra từ các biểu hiện bề ngoài – các hiện
tượng.
Theo quan điểm của Edmund Husserl, ông từ chối khẳng định rằng thế giới tồn
tại hay không tồn tại, trong mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa chủ thể và khách
thể, Edmund Husserl không đưa ra thái độ đề cao yếu tố nào cả. Ông cho rằng có mối
liên hệ tương hỗ giữa chủ thể và khách thể trong quá trình nhận thức. Mối liên hệ
tương hỗ đó là do tính ý hướng trong quá trình nhận thức quy định. Và cả chủ thể và
khách thể cùng phối hợp với nhau trong quá trình nhận thức trong tính ý hướng đó.
Bên cạnh đó, ông chủ trương khắc phục mâu thuẫn giữa chủ nghĩa duy vật và chủ
nghĩa duy tâm. Nhưng cứ xét theo cách trình bày học thuyết hiện tượng học của ông,
dễ thấy Husserl vẫn đứng trên lập trường duy tâm. Theo quan niệm của ông trong hiện
luật này được coi là khoa học, vì nó khách quan.
Hiện tượng học đã “mở ra một chương mới vẻ vang trong lĩnh vực tư tưởng triết
học thế kỷ XX” [8; tr56], giúp con người “thấy được bên trong cái thế giới bên ngoài”
[8; tr56]. Hiện tượng học của Husserl là một học thuyết mang nhiều ý nghĩa và rất
phức tạp. Các nhà chủ nghĩa hiện sinh hiện đại đã trực tiếp sử dụng phương pháp hiện
tượng học để mô tả những cơ cấu của tình cảm, của ý thức. Chủ nghĩa hiện sinh thấm
nhuần phương pháp hiện tượng học của Husserl. Phương pháp hiện tượng học là cơ sở
lý luận của chủ nghĩa hiện sinh.
1.2. Thực chất sự phân nhánh của chủ nghĩa hiện sinh
Quá trình phát triển của chủ nghĩa hiện sinh có thể phân ra giai đoạn Đức và
giai đoạn Pháp. Lúc đầu, chủ nghĩa hiện sinh phát triển tập trung tại Đức. Bên cạnh
M.Heidegger, Karl Jaspers (1883 – 1969) cũng được xem là một đại biểu lớn của chủ
nghĩa hiện sinh Đức. Nói chung, triết học hiện sinh Đức mang màu sắc tâm trạng của
nước Đức trong cuộc đại chiến thứ nhất. Khi thế lực Quốc xã lên cầm quyền, sự cuồng
nhiệt phát xít bao trùm nước Đức, thì chủ nghĩa hiện sinh tạm thời lắng xuống. Sau đại
chiến thế giới lần hai, chủ nghĩa hiện sinh ở Đức được lưu hành trở lại. Nhưng dưới sự
thống trị điên cuồng của phát xít rộng khắp nước Đức thì chủ nghĩa hiện sinh tạm thời
lắng xuống, và trung tâm của chủ nghĩa hiện sinh dời từ Đức sang Pháp.
Ở Pháp đại biểu chủ yếu của hiện sinh gồm có: Marcel (1889-1978), Jean Paul
Sartre (1905-1980), Camus (1908-1961), Simone De Beauvoir (1908-1986), Ponty
(1908-1961). Đa số họ đều là triết gia kiêm nhà văn, kịch tác gia và nhà chính luận,
giỏi vận dụng hình thức văn học nghệ thuật và lối diễn tả dễ hiểu để truyền bá quan
điểm của mình.
14
Chủ nghĩa hiện sinh tại Pháp trở thành một thứ triết học thời thượng, gắn liền với
tâm trạng bi quan, chán chường, thất vọng của xã hội Pháp trong và sau đại chiến lần
thứ hai. Chỉ cần liệt kê những tác phẩm triết học, văn học của các tác gia tiêu biểu
cũng đủ thấy sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa hiện sinh tại Pháp khi đó. Những
truyện, kịch, tiểu thuyết văn học mang tính triết lý được người ta đua nhau đọc. Những
tác phẩm nổi tiếng như “Buồn nôn”, “Sa đoạ” trở thành kinh thánh của những “con
Kierkegaard – ông tổ hiện sinh hữu thần – là một hình mẫu điển hình về đức tin
dành cho Thượng đế. Kierkegaard ngay từ những tác phẩm đầu tiên, đã chứng minh
một điều chắc chắn là Thượng đế tồn tại. Nhưng theo Kierkegaard, sự hiện diện của
Thượng đế không phải như triết học hay lý trí mô tả là chân lý tuyệt đối và khả tri (và
vì thế là khách thể), mà như là chủ thể. Con người không thể tìm kiếm Thượng đế một
cách khách quan, hay làm sáng tỏ Thượng đế một cách khách quan. Nhưng Thượng đế
vẫn tồn tại với tư cách là chủ thể. Kierkegaard quan niệm mối quan hệ giữa cá nhân và
Thượng đế là một kinh nghiêm độc nhất vô nhị và chủ quan. Trước khi có mối quan hệ
này, không cách nào có thể nhận thức được về nó. Mọi cố gắng để có nhận thức khách
quan về mối quan hệ giữa cá nhân và Thượng đế chỉ là một quá trình tiệm cận. Từ đó,
Kierkegaard nhấn mạnh: chỉ có đức tin mới là yếu tố duy nhất đảm bảo cho mối quan
hệ giữa cá nhân – Thượng đế. “Niềm tin đó chính là: bản ngã trong chính cái bản thân
nó, đã được đặt nền móng một cách trong sáng ở Chúa” [26,408]. Và quan trọng hơn,
trong mối quan hệ ấy, con người luôn luôn tội lỗi. Khi con người ý thức về tội lỗi của
bản thân, ý thức về sự tha hóa của bản thân thì đó cũng là khi con người cảm thấy sự
hiện diện của Thượng đế. Trong những triết gia cùng thời, Kierkegaard được đánh giá
là một nhà “hữu thần” triệt để. Niềm tin của ông dành cho Thượng đế đã thấm nhuần
trong mỗi tác phẩm mà ông viết. Cả cuộc đời của mình, Kierkegaard tự ví như là một
sự hiến dâng. Muốn chân lý tôn giáo trường tồn thì người chứng cho chân lý phải hiến
mình cho chân lý. Tương tự vậy, muốn cảm được sự hiện diện của Thượng đế thì phải
hiến mình cho Thượng đế.
Các nhà hiện sinh hữu thần về sau đã kế thừa “niềm tin”, tinh thần “hiến dâng” từ
ông tổ Kierkegaard. Để chứng minh sự tồn tại của Thượng đế, Jaspers đã phê phán
quan niệm của chủ nghĩa duy lý cho rằng lý trí có thể nhận biết được mọi điều. Với
Jaspers, lý trí không thể nhận biết được Thượng đế, không thể bắt gặp được Thượng
đế. Jaspers tỏ rõ quan điểm triết học duy lý “không công nhận cũng không phủ nhận”
[10; tr92] sự hiện hữu Thiên chúa. “Nhưng nên biết rằng bất cứ ai hễ đã bước chân vào
lĩnh vực triết lý đều phải đề cập đến vấn đề đó” [10; tr92]. Theo Jaspers “Thiên chúa
16
không phải là đối tượng cho tri thức; ta không thể khám phá Thiên chúa một cách
tượng do lý trí tạo ra bằng cách chứng minh sự bất lực của lý trí trước những phi lý
17
của cuộc đời. Cuộc đời với những mâu thuẫn đầy rẫy đủ để Nietzsche bác bỏ tất cả
chân lý khách quan, bác bỏ cả Thượng đế. Ông không ngần ngại thẳng tay đập nát
những bảng hệ thống luân lý của xã hội đương thời. Theo Nietzsche, những cái đó chỉ
đáng coi là phù phiếm. Thượng đế cũng phù phiếm. “Thượng đế là một sự phỏng
đoán” [23; tr16]. Trong triết lý của mình, Nietzsche đã không dành chỗ ca ngợi hay
tôn vinh Thượng đế giống như các nhà hiện sinh tôn giáo. Nietzsche tâm niệm rằng
trước Thượng đế con người luôn luôn sai lầm. Và Nietzsche tuyên bố để không còn lỗi
lầm, để không còn tội nợ nữa thì con người phải giết chết Thượng đế. Trong tác phẩm
“vui biết” Nietzsche phát ngôn một câu nói bất hủ: “Thượng đế đã chết” [4; tr296].
Lời tuyên bố của Nietzsche khiến lòng tin của cả một châu Âu dao động, hoang mang
và lo sợ. Quan điểm phủ nhận sự hiện hữu Thượng đế của ông chính là muốn đề cao
vai trò, sức mạnh con người. Thuyết siêu nhân (hay các biến thể như thuyết “người
hùng”, “con người thượng đẳng”) của Nietzsche là điển hình cho quan niệm này.
Nietzsche lập luận: “Xưa kia, khi hướng nhìn về những trùng khơi thăm thẳm tuyệt mù
nọ, người ta bảo: Thượng đế; nhưng giờ đây, ta đã dạy cho các ngươi nói: Siêu nhân” [23;
tr161]. Thượng đế là đại diện cho một trật tự xã hội cũ, một niềm tin cũ. Vì thế, siêu
nhân sẽ là người trực tiếp đảo lộn, đánh sập tất cả những gì gọi là cũ kỹ đó. Siêu nhân,
trong cuộc chinh phục không khoan nhượng đối với “quá khứ bị bỏ rơi” sẽ sáng tạo lại
tất cả.
Sartre – nhà hiện sinh vô thần tiêu biểu của thế kỷ XX, giáo hoàng của hiện sinh
Pháp – đã tiếp nối khát vọng của Nietzsche đầy cuồng nhiệt. Sartre chấp nhận lời
tuyên bố của Nietzsche “Thượng đế đã chết”. Trong thế giới vô thần, con người mang
tâm trạng bị bỏ rơi, một tư tưởng Sartre lấy của Heidegger. Sartre coi Thượng đế chỉ là
một ảo giác của loài người, chỉ là một sản phẩm của cuộc sống ngột ngạt trong xã hội.
Đặc biệt, trong quan niệm của Sartre, con người là tự do. Nên nếu con người chấp
nhận Thượng đế có nghĩa là con người phủ nhận tự do của chính mình. Thừa nhận sự
hiện hữu của Thượng đế tức là bóp chết tự do cá nhân.
Các nhà hiện sinh hữu thần đặt Thượng đế vào trong một vị trí trang trọng trong
triết học tự nhiên cũ sang triết học đạo đức, từ nguyên lý vũ trụ sang nguyên lý nhân
sinh phải kể đến “hiện tượng Socrates”. Triết học theo Socrates, phải là triết học dạy
con người sống, là tri thức về con người, dành cho con người. Vì vậy, triết học
Socrates có thể gọi là triết học đạo đức điển hình – triết học đạo đức duy lý. Sau đêm
trường trung cổ, lịch sử triết học Tây Âu tiệm tiến đến thời kỳ Phục hưng với tinh thần
chung của thời đại là chủ nghĩa nhân văn – tiếng gào thét của cá nhân đòi giải phóng.
Những con người khổng lồ giai đoạn Phục hưng đã dựng nên một thời đại con người.
Immannuel Kant – người khai mở triết học cổ điến Đức – lại một lần nữa khẳng định
con người là một sinh vật có lý tính. Để rồi sau đó nhà triết học duy vật nhân bản –
Ludwig Feuerbach – đã đặt con người vào vị trí trung tâm trong triết học của ông.
Điều đáng bàn là, theo các nhà hiện sinh, triết học cũ đã không dành cho con
người một vị trí thật xứng đáng; và khi nghiên cứu con người, triết học cũ chỉ chú ý
đến phương diện chung của con người mà chưa nhìn nhận đến phương diện riêng.
Triết học cũ chỉ xem con người như một đối tượng khách quan, một phần thuộc về thế
giới bên ngoài chứ không phải là con người hiện sinh. Để khẳng định một chủ nghĩa
20
về con người, của con người và vì con người, các triết gia hiện sinh đã đặt con người
vào một hoàn cảnh cụ thể, có một thân phận riêng biệt. Con người của chủ nghĩa hiện
sinh là con người cá nhân, là thân phận chứ không phải bản tính.
Con người đã được chủ nghĩa hiện sinh mổ xẻ, quay lật đủ chiều, xem xét đủ góc
cạnh. Thế nên, đã dành vấn đề con người ở vị trí trung tâm trong chủ nghĩa hiện sinh
nhưng vì con người hiện sinh tồn tại với tư cách cá nhân bởi vậy con người đa diện
mạo. Khó có thể định nghĩa chính xác con người chủ nghĩa hiện sinh là gì hay thế nào,
hơn nữa còn phụ thuộc vào cá nhân các nhà hiện sinh. Do đó, vấn đề con người nổi
cộm trong chủ nghĩa hiện sinh không có nghĩa vấn đề đó được trình như một bày hệ
thống. Tìm hiểu quan niệm về con người của chủ nghĩa hiện sinh vô thần không có
tham vọng phác họa con người theo nghĩa phổ quát. Như vậy không đúng với tinh thần
của chủ nghĩa hiện sinh. Và vì thế, con người hiện sinh đa diện mạo nên được tìm hiểu
và tiếp cận theo những diện mạo riêng biệt ấy.
2.1.1. Con người như cá nhân độc đáo và tự do
Thiên thần là, nhưng nó không hiện hữu. Thượng đế là, nhưng ngài không hiện hữu”
[5; tr36]. Heidegger khẳng định hiện sinh là một tư chất, một đặc ân dành cho con
người, chỉ có ở con người. Về sau, Sartre cũng mạnh bạo lên tiếng: “con người có một
phẩm giá cao hơn hòn đá hoặc cái bàn” [29; tr19 – 20]. Khởi nguyên triết học là con
người, còn con người là sự hiện sinh. Các nhà hiện sinh vô thần cho rằng quan niệm
triết học cổ điển đã đặt sai trọng tâm khi quan tâm tới lý tính, khoa học, tư duy…; nó
đã bỏ qua điều quan trọng nhất là con người cùng với đặc điểm đặc trưng nhất của con
người – tính chủ quan. Tính chủ quan của con người đơn giản là sự hiện sinh, sự sinh
tồn của con người. Với ngọn cờ khuếch trương chủ quan tính, chủ nghĩa hiện sinh vô
thần đã xuất hiện đúng lúc để khẳng định bản tính độc đáo của con người.
Con người là cá nhân độc đáo vì chỉ con người mới hiện sinh, và cũng chỉ con
người mới có quyền năng tự do vô hạn. Chủ nghĩa hiện sinh vô thần tự hào đã thức
tỉnh con người khỏi giấc mơ tha hóa, nhắc nhở con người biết rằng nó là một cá nhân
độc nhất, nó là một nhân vị tự do. Tự do đích thực là hành vi sáng tạo của con người.
Nhưng nếu Jaspers luôn tâm niệm rằng: con người không tự sáng tạo nên mình, cho
nên tự do của con người là một tặng phẩm do Thượng đế ban cho, con người “có thể
sống không phụ thuộc trần thế, vì họ liên hệ chặc chẽ với Thiên chúa ”[10; tr126]; thì
các nhà hiện sinh vô thần khẳng định tự do của con người là tuyệt đối.
Nietzsche khẳng định con người là kẻ sáng tạo ra những giá trị riêng cho mình,
chỉ tuân thủ những nguyên tắc của chính mình. “Chính con người đã ban giá trị cho
những sự vật để bảo tồn lấy mình, chính người là kẻ sáng tạo ra ý nghĩa vạn vật, ý
22
nghĩa nhân bản!. Chính vì vậy họ tự gọi mình là “con người”, nghĩa là kẻ đo lường vạn
vật”. Rõ ràng Nietzsche đã trao cho con người cái quyền năng chỉ có ở Thượng đế.
Chưa ai, trước đó, từng mạnh bạo cổ súy tinh thần tự do sáng tạo của con người như
Nietzsche. “Thực ra, con người tự ban cho mình thiện và ác”[23; tr118]. Bản thân vị tổ
phụ của triết học hiện sinh vô thần cũng người tự do vô hạn thông qua những tư tưởng
của ông.
Tiếp nối bản lĩnh của Nietzsche, Sartre – thủ lĩnh của hiện sinh vô thần Pháp – đã
đưa tự do trở thành một vấn đề chính yếu trong triết học của ông. Sartre nhìn tự do như
được và sau khi đã sinh ra mình rồi mới tự mình muốn được, do đó con người chỉ là
cái mình tự tạo nên. Đó là nguyên tắc thứ nhất của thuyết hiện sinh ”[29; tr19]. Tự do
biểu hiện ở mức cao nhất chính là con người tự tạo cho mình một bản chất: “…kẻ hèn
nhát tự tạo cho mình thành hèn nhát, kẻ anh hùng tự tạo cho mình thành người hùng.
Kẻ hèn nhát luôn có khả năng để không còn hèn nhát và con người hào hùng không
còn là người hùng nữa”[29; tr37]. Tự do là lựa chọn theo đúng sở nguyện của bản
thân. Thông qua lựa chọn mà con người bộc lộ bản chất. Nhưng trong cuộc sống con
người không chỉ lựa chọn một lần mà lựa chọn nhiều lần, trong cùng một cảnh ngộ
hoặc trong nhiều cảnh ngộ khác nhau. Thế nên, bản chất con người không thể bất biến.
Quả là theo như cách lập luận của chủ nghĩa hiện sinh nhánh vô thần, chưa khi nào
con người lại tự do vô hạn đến vậy, tự do tuyết đối; chưa khi nào con người được trân
trọng hơn thế, trân trọng thiêng liêng. Hiện sinh vô thần đã “xây dựng” con người
bằng “chất liệu” độc đáo, tự do.
Con người hiện sinh độc đáo, tự do còn bởi thông qua “cái chết”. Có thể nói, “cái
chết” là một chủ đề đặc biệt trong triết học hiện sinh nhánh vô thần. Sartre, trong một
số lượng lớn những sáng tác văn học, đều đề cập ít nhiều đến cái chết. Điển hình,
trong kịch “Kín cửa” và truyện phim “Sự đã rồi”, các nhân vật đều là người đã chết.
Thực ra, các nhà hiện sinh vô thần mải miết nói về “sự chết” nhiều đến vậy vì theo họ
đề này là một tín niệm hiện sinh rõ nhất. Cái chết biểu thị bản chất tự do của con
người: “Tự do để chết và tự do trong cái chết”[23; tr145]. Theo Heidegger, chỉ có hiện
hữu để chết mới đem đến cho hiện hữu một mục đích và đẩy nó đến điểm kết thúc của
mình. Nhà hiện sinh vô thần nói đến cái chết như một lối kết luận chứ không trình bày
nó như một bi kịch. Sự sống của con người là nhằm mục đích tiến đến cái chết. Thậm
chí, cái chết là một ý niệm tô điểm cho sự sống. Nếu cuộc đời là một con đường thì cái
chết không hẳn ở cuối đoạn đường mà là đồng hành cùng người lữ khách cô độc. Hiện
sinh gắn liền với sự chết bởi “Kẻ nào chưa hề sống đúng lúc thì làm thế nào hắn có thể
24
chết cho đúng lúc”[23; tr14]. Trong cuộc sống con người có thể thay thế nhau trong
nhiều việc. Trong mối quan hệ với tha nhân, cá nhân cũng bị choán chỗ, bị thay thế.
Tức là, con người luôn ở trong tình trạng có khả năng đánh mất mình, đánh mất tính độc