Trường Đại Học Hoa Sen
Hoa Sen University
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
Đề Tài:
Kế Toán Ngân Hàng
Giảng viên hướng dẫn : Lê Thị Bích Thảo
Lớp : KT081A
Chuyên ngành : Kế Toán
Các thành viên :
Trương Văn Toàn
Nguyễn Thị Thuận
Trần Phạm Tấn Thành
Năm 2010
TRÍCH YẾU
Ngày nay đất nước ta đang từng bước hội nhập cùng nền Kinh tế Thương mại Thế
giới. Vì vậy, chúng ta cần có sự đầu tư về kinh tế nhiều hơn đặc biệt là trong các khối ngành
công nghiệp và dịch vụ. Ngân hàng một trong những ngành dịch vụ then chốt thúc đẩy
ngành kinh tế phát triển và có ảnh hưởng không nhỏ đối với sự nghiệp phát triển của đất
nước.
Ngân Hàng được ví như một bến cảng Giao Thương vì mọi hoạt dộng xuất nhập
khẩu của Doanh nghiệp hay cá nhân đều thông qua các dịch vụ của Ngân Hàng. Vì thế mà
Ngân Hàng đóng một vai trò quan trọng trong mọi hoạt động, đặc biệt là sự gắn bó mật
thiết giữa ngân Hàng và chính sách tiền tệ của một đất nước.
Thông qua đề án nhóm chúng tôi đã tìm hiểu và tự học được những điều mới lạ trong
các nghiệp vụ kinh tế cũng như các chính sách của nhà nước đối với Ngân Hàng . Chính vì
vậy mà nhóm chúng tôi thực hiện đề án để này để mang lại những điều mà chúng tôi học tập
cũng như đã tìm hiểu để chia sẻ với các bạn ngành khác muốn tìm hiểu về Ngân Hàng nói
chung và của các bạn Ngành Kế Toán nói riêng..
LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành được đề án 1 đề tài :”Kế toán ngân hàng”nhóm chúng tôi xin chân thành
cảm ơn:
3 Trần Phạm Tấn Thành
Thực hiện mục đích
2,4
Chương 1 :Giới thiệu về kế toán ngân hàng và những văn bản
quy định về chế độ kế toán ngân hàng
1.Giới thiệu sơ lược về ngân hàng
a. Lịch sử
Những dịch vụ ngân hàng đầu tiên không dành cho đông đảo người dân bình thường. Các
hoàng tộc, vương triều và một số ít nhà buôn giàu mới là đối tượng phục vụ của ngân hàng nguyên
thủy. Ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền gửi và cung cấp các khoản vay. Những ngân hàng
đầu tiên được biết tới trong lịch sử nhân loại là các đền thờ cổ đại.
Vào khoảng ba nghìn năm trước Công nguyên. Hình thức ngân hàng sơ khai được nhiều
nhà sử học cho rằng đã hình thành trước khi con người phát minh ra tiền. Ban đầu, tài sản gửi tại
"ngân hàng'' là các loại ngũ cốc, sau đó là gia cầm, nông sản, rồi đến kim loại quý như vàng. Đền
thờ là nơi an toàn để cất trữ tài sản. Đó là các công trình được xây dựng kiên cố, thường xuyên có
người tới hành lễ. Và xét về tâm linh thì ngay những tên trộm táo tợn nhất cũng có ý tránh chốn
linh thiêng này.
Tại Ai Cập và Mesopotamia, vàng được gửi vào các đền thờ. Nhưng những tài sản quý giá
này lại ngủ yên trong đó, trong khi, ở bên ngoài xã hội, các nhóm thương nhân và hoàng tộc lại rất
cần sử dụng chúng. Các nhà khảo cổ học tìm được những tàng tích cho thấy tới đầu thế kỷ 18
trước công nguyên, tại Babylon, dưới thời trị vì của Hammurabi, thầy tu trông giữ đền thờ bắt đầu
cho các nhà buôn mượn tài sản cất trữ trong đền. Từ đó khái niệm ngân hàng ra đời.
b. Các giai đoạn phát triển
o Trong thế kỷ 15 đến thế kỷ 18
Trong giai đoạn này hoạt động ngân hàng có 2 đặc trưng:
Các ngân hàng còn hoạt động độc lập chưa tạo ra hệ thống chịu sự ràng buộc lẫn nhau.
Chức năng hoạt đông của các ngân hàng đều như nhau bao gồm việc nhận ký thác,chiết
khấu cho vay,phát hành giấy bạc và nhận thực hiện các dịch vụ tiền tệ
o Từ TK18 đến TK 20
phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa. Ở các
nước phát triển phần lớn thanh toán được thực hiện qua sec và được thực hiện bằng việc bù trừ
thông qua hệ thống ngân hàng thương mại. Ngoài ra việc thực hiện chức năng là thủ quỹ của các
doanh nghiệp qua việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán đã tạo cơ sở cho ngân hàng thực hiện
các nghiệp vụ cho vay.
Hiện nay ở các nước công nghiệp phát triển việc sử dụng hình thức chuyển tiền bằng đện tử là
chuyện bình thường và chính điều này đưa đến việc không sử dụng sec ngân hàng mà dùng thẻ
như thẻ tín dụng. Họ thanh toán bằng cách nối mạng các máy vi tính của các ngân hàng thương
mại trong nước nhằm thực hiện chuyển vốn từ tài khoản người này sang người khác một cách
nhanh chóng
Chức năng tạo ra tiền ngân hàng trong hệ thống ngân hàng hai cấp
Vào cuối thế kỉ 19 hệ thống ngân hàng hai cấp được hình thành, các ngân hàng không còn họat
động riêng lẽ nữa mà tạo thành hệ thống, trong đó ngân hàng trung ương là cơ quan quản lý về tiền
tệ, tín dụng là ngân hàng của các ngân hàng. Các ngân hàng còn lại kinh doanh tiền tệ, nhờ họat
động trong hệ thống các NHTM đã tạo ra bút tệ thay thế cho tiền mặt.
Quá trình tạo ra tiền của NHTM được thực hiện thông qua tín dụng và thanh tóan trong hệ thống
ngân hàng, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống ngân hàng trung ương mỗi nước. Vậy tiền “bút
tệ” được NHTM tạo ra bằng cách nào? Bây giờ chúng ta giả sử rằng tất cả các NHTM đều không
giữ lại tiền dự trữ quá mức quy định, các sec không chuyển thành tiền mặt và các yếu tố phức tạp
khác bị bỏ qua thì quá trình tạo thành tiền như sau:
Tên các ngân hàng Tiền gửi mới
Thanh toán
cho vay mới
Dự trữ bắt
buộc
Ngân hàng A 1.000.000 900.000 100.000
Ngân hàng B 900.000 810.000 90.000
Ngân hàng C 810.000 729.000 81.000
... ... ...
Tiền toàn hệ thống ngân
mại, gọi là tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Trong trường hợp có tổ chức tín dụng gặp nguy cơ đổ vỡ làm ảnh
hưởng đến cả hệ thống tài chính của quốc gia, ngân hàng trung ương sẽ tái cấp vốn cho tổ chức tín
dụng đó để cứu nó. Vì thế, ngân hàng trung ương được gọi là người cho vay cuối cùng (hay người
cho vay cứu cánh).
Ngân hàng của Chính phủ:Ở nhiều nước, ngân hàng trung ương là người quản lý tiền
nong cho chính phủ. Chính phủ sẽ mở tài khoản giao dịch không lãi suất tại ngân hàng trung
ương. Tuy nhiên, ở một số nước, chẳng hạn như ở Việt Nam, chức năng này do kho bạc đảm
nhiệm.Ngân hàng trung ương còn làm đại diện cho chính phủ khi can thiệp vào thị trường ngoại
hối
e. Hoạt động của ngân hàng:tuỳ thuộc vào từng đối tượng cụ thể mà mỗi ngân hàng đều
có các hoạt động khác nhau
Đối với Ngân hàng thương mại :hoạt động chủ yếu của nó là hoạt động huy động vốn,hoạt
động cung cấp tín dụng,hoạt động thanh toán qua ngân hàng,hoạt động ngân quỹ,và một số hoạt
động khác…
Hoạt động huy động vốn của NHTM
Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của
NHTM.Hoạt động này mang lại nguồn vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động khác như
cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng.Chính vì thế NHTM chỉ được huy
động vốn dưới các hình thức sau(theo nghị định 49/2000/ND-CP ngày 12/9/2000):
Các ngân hàng thương mại huy động vốn dưới các hình thức:
- Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức
tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ
và vàng.
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn
của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp
thuận,
- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổ chức tín dụng
nước ngoài,
- Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn,
- Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
và tài liệu liên quan đến việc bảo lãnh kiểm soát mọi hoạt động liên quan đến nghĩa vụ bảo lãnh,
từ chối bảo lãnh đối với khách hàng không có uy tín.
Chiết khấu thương phiếu, kỳ phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác
- Ngân hàng thực hiện nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu, kỳ phiếu và các giấy tờ ngắn
hạn khác đối với tổ chức cá nhân.
- Ngân hàng thực hiện nghiệp vụ tái chiết khấu thương phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu và các
giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác.
Cho thuê tài chính
Ngân hàng thực hiện nghiệp vụ cho thuê tài chính qua Công ty cho thuê tài chính trực
thuộc ngân hàng chủ quản. Công ty cho thuê tài chính tổ chức và hoạt động theo quy định của
pháp luật và Điều lệ công ty.
Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Để thực hiện được các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua ngân
hàng,NHTM được phép mở TK cho KH trong và ngoài nước ,đồng thời NHTM được phép mở TK
tiền gửi tại NHNN nơi đặt trụ sở chính và duy trì tại đó số dư dự trữ tiền gửi bắt buộc theo quy
định nhằm thực hiện hoạt động thanh toán giữa các NH với nhau thông qua NHNN. Chính vì thế
NHTM đã thực hiện hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ thông qua các hình thức sau:
Cung cấp các phương tiện thanh toán
Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho KH
Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ
Thực hiện các dịch vụ thanh toán theo quy định của nhà nước
Thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế khi được nhà nước cho phép
Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho KH
Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và thực hiện hệ thống liên NH trong nước.Tham gia hệ
thống thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép
Các hoạt động khác
- Dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp và của các tổ
chức tín dụng khác theo quy định của pháp luật.
- Góp vốn với tổ chức tín dụng nước ngoài để thành lập tổ chức tín dụng liên doanh tại
Việt Nam theo quy định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng nước ngoài
Kiểm soát số lượng tiền tê và tín dụng sao cho phù hợp với nhu cầu thực sự của nền kinh tế
2.Đối tượng mục tiêu và vị trí của KTNH
a.Đối tượng của KTNH
• Đối tượng của KTNH là sử dụng thước đo = tiền để phản ánh nguồn vốn , cơ cấu
hình thành các nguồn vốn và việc sử dụng vốn trong các hoạt động của NH
o Nguồn vốn: được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau từ lúc thành lập cho
đến suốt cả quá trình hoạt động
Vốn tự có bao gồm
Vốn điều lệ: là số vốn riêng của từng NH .Tùy theo từng thời kỳ khác nhau mà
vốn điều lệ được hình thành ở mỗi loại hình TCTD khác nhau dựa trên vốn pháp định do
NHNN quy định.
Quỹ dự trữ: là loại quỹ được trích lập từ lợi nhuận ròng của NH nhằm mục đích
dự trữ bổ sung vốn điều lệ của ngân hàng,với công thức
P(trước thuế)=∑thu nhập-∑chi phí
Thuế thu nhập=P(trước thuế)x thuế suất thuế thu nhập(28%)
P(sau thuế)=P(trước thuế)- thuế thu nhập
Các loại quỹ của NH:quỹ đầu tư và phát triển, quỹ nghiên cứu đào tạo , quỹ phúc
lợi ,quỹ khen thưởng,……..
Lãi chưa phân phối
Vốn cố định:đối với các NH quốc doanh vốn cố định do NHNN cấp phát.dc coi
là nguồn vốn xây dựng cơ bản mua sắm TSCD
Vốn quản lý và huy động:chiếm tỉ trọng lớn và dc thể hiện dưới nhiều dạng
Số dư trên các TK tiền gửi thanh toán
Số dư trên các TK tiết kiệm
Vốn trong thanh toán,vốn thu dc từ việc phát hành kỳ phiếu,trái phiếu
o Sử dụng vốn
Sau khi hình thành nguồn vốn,Nh sử dụng vốn vào các mục đích sau đây:
Chi phí để mua TSCD,phương tiện làm việc
Chi phí cho công tác QL tại NH
Cấp vốn cho đơn vị phụ thuộc
định mục
tiêu
Người có lợi
ích gián tiếp
Người có lợi
ích trực tiếp
Thông tin đã
dc xác nhận
Kiểm toán
Hoạt động
kinh doanh
Nghiệp vụ Kế toán Thông tin
Quyế định
mục tiêu
Nhà quản
trị
2. Sửa đổi nội dung hạch toán trên Tài khoản 1011 - Tiền mặt tại đơn vị, phần nội dung
“Hạch toán chi tiết”
3. Sửa đổi Tài khoản 105 - Kim loại quý, đá quý
4. Đổi tên Tài khoản 13 - “Tiền gửi tại các TCTD khác” thành “Tiền, vàng gửi tại TCTD
khác”.
5. Sửa đổi Tài khoản 14 - Chứng khoán kinh doanh
6. Bổ sung vào nội dung hạch toán trên Tài khoản 27 - Tín dụng khác đối với các tổ chức
kinh tế, cá nhân trong nước
7. Bỏ cụm từ: “Đối với những tài sản cố định đang chờ quyết định thanh lý, tính từ thời
điểm TSCĐ ngừng tham gia vào hoạt động thì thôi trích khấu hao” ở phần nội dung hạch toán của
Tài khoản 305 - Hao mòn tài sản cố định.
8. Sửa đổi tài khoản 34 - Góp vốn, đầu tư mua cổ phần
9. Bỏ cụm từ “tín phiếu, trái phiếu” trong phần nội dung hạch toán “Tài khoản 351 - Ký
quỹ, thế chấp, cầm cố”.
“TCTD không được chia lợi nhuận hoặc trả cổ tức trên phần lãi chênh lệch tỷ giá hối đoái
đánh giá lại cuối năm tài chính của các khoản mục có gốc ngoại tệ cũng như công cụ phái sinh tiền
tệ có gốc ngoại tệ”
20. Bổ sung vào phần nội dung hạch toán của Tài khoản 633 - Chênh lệch đánh giá lại
công cụ tài chính phái sinh cụm từ:
“Cuối năm, tài khoản này tất toán số dư. Nếu tài khoản này có số dư Có, chuyển số dư Có
vào tài khoản thu nhập; Nếu tài khoản này có số dư Nợ, chuyển số dư Nợ vào tài khoản chi phí.”
21. Sửa đổi Tài khoản 69 - Lợi nhuận chưa phân phối
22. Sửa đổi một số nội dung trong phần Nội dung hạch toán của Tài khoản loại 7 - Thu
nhập
23. Sửa tên Tài khoản 709 - “Thu lãi khác” thành “Thu khác từ hoạt động tín dụng”.
24. Sửa đổi tên Tài khoản 78 - “Thu lãi góp vốn, mua cổ phần” thành “Thu nhập góp vốn,
mua cổ phần” và sửa đổi nội dung hạch toán trên tài khoản này như sau: “Tài khoản này dùng để
phản ánh các khoản thu nhập từ việc góp vốn, mua cổ phần của các TCTD khác và các tổ chức
kinh tế”.
25. Sửa đổi một số nội dung trong phần Nội dung hạch toán của tài khoản loại 8 - Chi phí
26. Bổ sung nội dung hạch toán Tài khoản 842 - Chi phí liên quan đến nghiệp vụ cho thuê
tài chính như sau:
“Tài khoản này dùng để hạch toán các loại chi phí liên quan đến hoạt động cho thuê tài
chính của TCTD như: Chi phí phát sinh liên quan đến ký kết hợp đồng, v.v....(nếu có)”.
27. Huỷ bỏ cụm từ “ngoại tệ” ở tên Tài khoản 8821 - “Dự phòng giảm giá vàng, ngoại tệ”
và cụm từ “ngoại tệ”trong phần nội dung hạch toán của tài khoản này.
28. Sửa đổi một số nội dung trên Tài khoản 921 - Cam kết bảo lãnh cho khách hàng
29. Sửa đổi tên Tài khoản 93 - “Các cam kết bảo lãnh nhận được” thành “Các cam kết
nhận được”.
30. Sửa đổi tên Tài khoản 94 - “Lãi cho vay quá hạn chưa thu được” thành “Lãi cho vay và
phí phải thu chưa thu được” và cụm từ “quá hạn” trong phần tên và nội dung hạch toán trên các
Tài khoản cấp 2 của Tài khoản này (Tài khoản 941, 942, 943, 944).
31. Sửa cụm từ “Cầm đồ” thành “Cầm cố” tại tên và nội dung hạch toán của Tài khoản 994
- Tài sản thế chấp, cầm đồ của khách hàng.
27. Tài khoản 833 - Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp
28. Tài khoản 848 - Chi về các công cụ tài chính phái sinh khác
29. Tài khoản 856 - Chi ăn ca cho cán bộ, nhân viên TCTD
30. Bổ sung vào Tài khoản 882 - Chi dự phòng các Tài khoản cấp 3 sau:
31. Tài khoản 938 - Các văn bản, chứng từ cam kết khác nhận được
32. Tài khoản 944 - Phí phải thu chưa thu được
33. Bổ sung vào Tài khoản 971 - Nợ bị tổn thất đang trong thời gian theo dõi các Tài khoản
cấp 3 sau:
Tài khoản 9711 - Nợ gốc bị tổn thất đang trong thời gian theo dõi.
Tài khoản 9712 - Nợ lãi bị tổn thất đang trong thời gian theo dõi.
Hạch toán trên tài khoản này thực hiện theo nội dung hạch toán trên Tài khoản 971.
34. Bổ sung tài khoản 972- Nợ tổn thất trong hoạt động thanh toán
Điều 4. Quyết định này có hiệu lực từ ngày 01/9/2006.
Điều 5. Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ Kế toán - Tài chính, Cục trưởng Cục Công
nghệ tin học ngân hàng, Thủ trưởng các đơn vị có liên quan thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,
Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chủ tịch Hội
đồng quản trị và Tổng Giám đốc (Giám đốc) các tổ chức tín dụng chịu trách nhiệm thi hành Quyết
định này.
Chương 2: Nội dung chính của các văn bản quy định về kế toán ngân
hàng
Chứng từ kế toán
Khái niệm:
Chứng từ kế toán ngân hàng là những chứng minh bằng giấy tờ và điện tử các nghiệp vụ
kinh tế tài chính đã phát sinh và hoàn thành theo biểu mẫu qui định theo thời gian và địa điểm phát
sinh của chứng từ. Đồng thời là căn cứ pháp lý để ghi sổ kế toán
Đặc điểm
Phức tạp, đa dạng về chủng loại
Sử dụng chứng từ gốc do khách hàng lập để ghi sổ kế toán
Phân loại
Theo chế độ kế toán (Điều 3 chế độ chứng từ kế toán)
thủ quỹ chuyển đến trước khi ghi chép vào sổ sách kế toán. Kiểm soát viên là người có trình độ
nghiệp vụ chuyên môn, có khả năng kiểm soát tương đương với Kế toán trưởng.
Đối với chứng từ điện tử việc kiểm soát cũng tuân theo hai bước như trên, song nội dung
kiểm tra trước thực chất là kiểm tra kỹ thuất thông tin và kiểm tra nội dung nghiệp vụ.
Kiểm soát kỹ thuật thông tin là kiểm tra mật mã, kí hiệu, tên tệp của chứng từ.
Lưu chuyển chứng từ:gồm 5 bước
Bước 1 : Thu nhận và lập chứng từ
Bước 2:Kiểm tra chứng từ
Bước 3:Thực hiện lệnh thu chi
Bước 4:Kiểm tra lần sau và tổng hợp chứng từ phát sinh trong ngày
Bước 5:Sắp xếp xử lý, tổ chức bảo quản và lưu trữ chứng từ
Bảo quản, lưu trữ chứng từ
Chứng từ kế toán ngân hàng sau khi đ ghi sổ kế toán cần được phân loại, sắp xếp, bảo quản
chu đáo nhằm bảo vệ an toàn tài sản, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét, tra cứu khi cần
thiết.
Hàng ngày chứng từ kế toán được đóng thành tập bao gồm chứng từ ghi sổvà chứng từ gốc
được lưu trữ tại phòng kế toán.
Cuối tháng sau khi đã lập báo cáo kế toán hoàn chỉnh, đóng lại thành tập vàlưu tại phòng
kế toán. Cuối năm sau khi đã hoàn tất báo cáo chứng từ kế toán được chuyển về kho bảo quản tài
liệu chứng từ, sổ sách và báo cáo kế toán.
Khi giao toàn bộ hồ sơ kế toán cho thủ kho lưu trữ, bộ phận kế toán phải làm đầy đủ thủ
tục giao nhận.
Việc kiểm tra, cung cấp số liệu kế toán để đối chiếu, xem, xét, tra cứu, giám định và sao
chụp phải tuân thủ quy định của Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước Trung ương. Kho lưu trữ các
tài liệu kế toán phải phù hợp với quy cách tiêu chuẩn của nhà nước và quy định cụ thể của Ngân
hàng Nhà nước
Hệ Thống Tài Khoản
Khái niệm:
Tài khoản là một công cụ kế toán quan trọng dùng để ghi chép và phản ánh quá trình vận
động của tài sản, nguồn vốn theo nghiệp vụ kinh tế phát sinh và trình tự thời gian một cách thường
Qui trình kế toán chi tiết: Là sự kết hợp giữa các tài khoản chi tiết và chứng từ để cung cấp
các thông tin chi tiết về một đối tượng cụ thể và mối quan hệ chi tiết giữa chúng. Các thông tin này
được thể hiện trên các sổ và thẻ chi tiết. Tùy theo đối tượng cần ghi chép mà sổ có hình thức khác
nhau như sổ theo dõi tiền gửi tiết kiệm, sổ theo dõi tình hình cho vay, sổ quản lý TSCĐ, công cụ
lao động…
Qui trình kế toán tổng hợp: Là sự kết hợp giữa các tài khoản tổng hợp và chứng từ để cung
cấp các thông tin tổng quát nhằm phục vụ cho việc chỉ đạo hoạt động ngân hàng và quản lý kinh tế
tài chính nói chung. Được thể hiện thông qua Nhật ký.chứng từ hoặc Nhật ký chung, Bảng kết hợp
tài khoản cấp I, Sổ cái (Sổ tổng hợp), Bảng cân đối tài khoản ngày.
Tổ chức bộ máy kế toán Ngân hàng
hệ thố
Ngân hàng trung
ương hệ thống KT
trưởng
Kế toán phần
hành
Kế toán
phần hành
Kế toán
phần hành
Kế toán
phần hành