Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành dịch vụ vận tải hàng hoá tại Công ty Cổ phần Hàng hải Đông Đô - Pdf 26

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập
của tôi. Các số liệu, kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực và có nguồn
gốc rõ ràng

Tác giả luận văn
Nguyễn Đức Sơn
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nội dung chữ viết tắt
BHXH
BHYT
BHTN
CP NVL TT
CP NCTT
CP SXC
KKTX
KKĐK
KH TSCĐ
KPCĐ
NC
TSCĐ
TK
SXC
SXKD
SP
SP DD
XNLH

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế nước ta hiện nay đang phát triển theo hướng kinh tế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, một nền
kinh tế hàng hoá có nhiều thành phần chịu sự tác động gắt gao của các quy luật
kinh tế: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Một điều kiện
tiên quyết đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp là được thị trường chấp
nhận sản phẩm của mình với giá cả hợp lý. Có thể nói rằng, giá thành sản phẩm
là tấm gương phản chiếu toàn bộ các biện pháp kinh tế, tổ chức quản lý và kỹ
thuật mà doanh nghiệp đã và đang thực hiện trong quá trình sản xuất kinh
doanh.
Đứng trên lĩnh vực kế toán, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm là khâu phức tạp, quan trọng nhất trong toàn bộ công tác kế toán của
doanh nghiệp. Kế toán giá thành sản phẩm liên quan đến hầu hết các yếu tố đầu
vào, đầu ra của quá trình sản xuất kinh doanh. Đảm bảo hạch toán đầy đủ, chính
xác chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, cung cấp thông tin kịp thời cho
quản trị doanh nghiệp là yêu cầu có tính xuyên suốt và mang tính quyết định
trong quá trình hoạt động kinh doanh. Do vậy, kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm phục vụ quản trị chi phí có ý nghĩa vô cùng quan trọng và
mang tính sống còn đối với doanh nghiệp.
Vận tải biển là một ngành kinh tế kỹ thuật quan trọng của nền kinh tế
quốc dân, là cầu nối kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới với nhau. Với đặc
điểm nổi bật là giá thành dịch vụ vận tải thấp, vận tải biển ngày một phát
triển mạnh mẽ và trở thành ngành vận tải hiện đại chiếm tỷ trọng lớn trong hệ
thống vận tải quốc tế. Việt Nam với đặc điểm địa lý có bờ biển chạy dọc theo
chiều dài của đất nước đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho vận tải biển phát
triển. Sau thời kỳ sụt giảm kéo dài từ giữa năm 2008, đến nay thị trường vận
tải biển thế giới đã hồi phục trở lại, nhưng mức tăng trưởng chưa cao và chưa
thực sự bền vững. Giá cước vận tải biển tăng giảm thất thường. Trong năm
2011 đã liên tục sụt giảm do sự mất cân bằng về cung trọng tải, chính vì thế

Về lý thuyết: hệ thống hoá cơ sở lý luận của kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành dịch vụ vận tải.
Về thực tiễn: Phân tích, đánh giá thực trạng, từ đó đề xuất phương hướng
và giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành dịch vụ vận tải
2
hàng hoá phục vụ quản trị chi phí tại Công ty cổ phần Hàng Hải Đông Đô.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành dịch vụ
vận tải hàng hoá trong các doanh nghiệp vận tải biển
Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành dịch vụ vận tải
hàng hoá tại Công ty cổ phần hàng hải Đông Đô
Chương 3: Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành dịch vụ vận tải
hàng hoá tại Công ty cổ phần hàng hải Đông Đô
3
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNG HOÁ TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP VẬN TẢI BIỂN
1.1 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh dịch vụ vận tải và ảnh hưởng tới kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ vận tải
1.1.1 Đặc thù của hoạt động kinh doanh dịch vụ vận tải
Vận tải với tư cách là một trong những ngành sản xuất vật chất cơ bản, có
vị trí quan trọng trong quá trình tái sản xuất xã hội. Nó là một trong những điều
kiện tiền đề đối với việc sản xuất ra bất kỳ một sản phẩm nào. Các Mác viết
“tiếp theo sự vận chuyển những sản phẩm từ nơi sản xuất này đến nơi sản xuất
khác, lại có sự vận chuyển những thành phẩm từ lĩnh vực sản xuất sang lĩnh vực
tiêu dùng. Chỉ khi nào sản phẩm đã hoàn thành sự vận động này thì sản phẩm
mới sẵn sàng để đem tiêu dùng”.

gian lại chính là quá trình sản xuất do phương tiện vận tải tiến hành”.
1.1.2 Ảnh hưởng tới kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải có những
đặc điểm riêng mang tính chất đặc thù chi phối đến nội dung, phương pháp
và cách thức hạch toán kế toán nói chung và kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm phục vụ quản trị chi phí nói riêng. Đặc điểm đó có thể
kể đến là:
Thứ nhất: vận tải là ngành sản xuất đặc biệt, sản phẩm dịch vụ vận tải
không có hình thái hiện vật, quá trình sản xuất dịch vụ gắn liền với quá trình tiêu
thụ. Do vậy, tổ chức quản lý và tổ chức kế toán cần phải có dự toán, từ đó giúp
doanh nghiệp vận tải có thể hạch toán tương đối chính xác giá thành vận tải. Căn
cứ vào đó doanh nghiệp lên kế hoạch về tài chính cũng như giám sát các chi phí
phát sinh đối với từng dịch vụ vận tải cung cấp.
Thứ hai: Sản phẩm dịch vụ vận tải chỉ được tiến hành sản xuất sau khi có
hợp đồng vận tải của khách hàng. Nói cách khác, sản phẩm vận tải thường được
sản xuất theo hợp đồng đã ký kết, do đó tính chất hàng hoá của sản phẩm dịch
vụ vận tải không thể hiện rõ nét. Sản phẩm được bán với giá thoả thuận trước
khi được sản xuất. Tổ chức sản xuất luôn thay đổi theo từng tuyến đường vận
chuyển cũng như địa điểm giao nhận hàng hoá. Đòi hỏi kế toán phải xây dựng
5
định mức cũng như dự toán tương đối chính xác cho từng hợp đồng để đảm bảo
thực hiện đồng có hiệu quả.
Thứ ba: Hoạt động kinh doanh vận tải thường tiến hành ngoài trời, chịu tác
động trực tiếp bởi điều kiện môi trường, đường sá, thời tiết, sản xuất mang tính
chất thời vụ. Chính bởi vậy, công tác bảo trì, bảo dưỡng cũng như sửa chữa
thường xuyên, sửa chữa định kỳ, sửa chữa lớn phương tiện vận tải là nhiệm vụ
hết sức quan trọng. Điều này đặt kế toán vào nhiệm vụ phải dự toán cũng như
trích lập các khoản chi phí, dự phòng đảm bảo không làm ảnh hưởng nhiều đến
giá thành dịch vụ vận tải cũng như lợi nhuận hoạt động của doanh nghiệp.
Thứ tư: Phương tiện vận tải là tài sản lớn và quan trọng không thể thiếu

hạch toán.
Chi phí và chi tiêu không chỉ khác nhau về lượng mà còn khác nhau về
thời gian. Có những khoản chi tiêu kỳ này nhưng chưa tính vào chi phí, có
những khoản tính vào chi phí trong kỳ nhưng thực tế chưa tiêu thụ. Sở dĩ có sự
khác nhau như vậy là do đặc điểm, tính chất vận động và phương thức dịch
chuyển giá trị của từng loại tài sản vào quá trình hoạt động.
- Phân loại chi phí vận tải
Phân loại chi phí vận tải là việc sắp xếp chi phí vào từng loại, từng nhóm
khác nhau theo những đặc trưng quy định. Chi phí bao gồm rất nhiều loại khác
nhau, nhiều khoản khác nhau cả về nội dung, tính chất, công cụ, vai trò. Để
thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán cần thiết phải tiến hành phân loại chi
phí. Xuất phát từ mục đích, yêu cầu khác nhau của quản lý chi phí cũng được
phân loại theo những tiêu thức khác nhau.
Mỗi cách phân loại đều đáp ứng ít nhiều cho quản lý, hạch toán, kiểm tra,
kiểm soát các chi phí phát sinh ở những góc độ khác nhau. Phân loại chi phí theo
những tiêu thức khác nhau. Mỗi cách phân loại đều đáp ứng yêu cầu của kế toán
tập hợp chi phí, thúc đẩy doanh nghiệp không ngừng tiết kiệm chi phí, hạ giá
thành, nâng cao hiệu quả kinh doanh vì thế các cách phân loại đều tồn tại, bổ
sung cho nhau trong quản lý chi phí và giá thành.
Dưới góc độ kế toán tài chính
@ Phân loại chi phí theo lĩnh vực hoạt động
Căn cứ vào việc tham gia của chi phí vào hoạt động kinh doanh, toàn bộ chi
phí được chia thành làm các loại:
- Chi phí sản xuất kinh doanh: Bao gồm những chi phí liên quan đến
hoạt động sản xuất, tiêu thụ và quản lý doanh nghiệp.
7
- Chi phí hoạt động tài chính: Bao gồm những chi phí liên quan đến
hoạt động về vốn và đầu từ tài chính.
- Chi phí hoạt động khác: gồm những khoản chi phí ngoài dự kiến của
doanh nghiệp, có thể do chủ quan hoặc khách quan mang lại.

tượng, khó có thể tách biệt rõ ràng, và cụ thể cho từng đối tượng và không thể
hạch toán thẳng cho từng đối tượng chịu chi phí. Chi phí sản xuất chung bao
gồm cả biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp, trong đó định phí thường chiếm tỷ
trọng lớn. Chi phí này thường phát sinh ở nhiều bộ phận khác nhau, nên có
những khó khăn nhất định cho việc quản lý và kiểm soát chi phí.
Cách phân loại này có ý nghĩa và tác dụng quan trọng trong kế toán tài
chính về chi phí và tính giá thành dịch vụ vận tải. Phù hợp với việc phân loại chi
phí trong kế toán tài chính để sử dụng các tài khoản hợp lý theo chế độ kế toán
hiện hành. Cách phân loại này có ý nghĩa và tác dụng quan trọng trong kế toán
tài chính về chi phí và giá thành dịch vụ vận tải. Phù hợp với việc phân loại chi
phí trong kế toán tài chính để sử dụng các tài khoản hợp lý theo chế độ kế toán
hiện hành. Cách phân loại này còn giúp nhà quản trị dự toán được các khoản
mục chi phí trọng yếu trong CPXSKD dịch vụ, cung cấp số liệu cho việc xây
dựng định mức giá thành và quản lý giá thành theo khoản mục chi phí, từ đó xác
định nguyên nhân, đề ra các biện pháp nhằm tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản
phẩm, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
@ Phân loại theo cách thức kết chuyển chi phí
Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh được chia
thành chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ. Chi phí sản phẩm là những chi phí
gắn liền với các sản phẩm được sản xuất ra hoặc được mua, còn chi phí thời kỳ
là những chi phí làm giảm lợi nhuận trong một kỳ nào đó, nó không phải là một
phần giá trị sản phẩm được sản xuất hoặc được mua nên được xem là các phí tổn
và cần được loại trừ khỏi lợi nhuận của thời kỳ mà chúng phát sinh trong kỳ.
Dưới góc độ kế toán quản trị
Khác với kế toán tài chính, trong kế toán quản trị, để quản lý được chi phí
cần phải làm rõ các cách phân loại chi phí, vì mỗi cách phân loại chi phí đều
cung cấp thông tin dưới nhiều góc độ để các nhà quản trị ra các quyết định thích
hợp.
* Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí: Theo tiêu chuẩn phân loại
này chi phí vận tải được phân chia thành hai loại chi phí:

Y=a+b/X
Doanh thu
Hình 1.2
phí cố định.
Hình 1.2 phương trình y=a+b/X biểu thị tỷ suất chi phí cố định
Phân loại chi phí theo tiêu chuẩn này có ý nghĩa và tác dụng rất lớn trong
việc xác định điểm hoà vốn, lập kế hoạch sản xuất kinh doanh và lập dự toán
ngân sách, tổ chức quản trị chi phí.
Việc phân loại chi phí thành chi phí biến đổi và chi phí cố định có ý nghĩa
rất lớn đối với nhà quản trị doanh nghiệp trong việc ra quyết định quản trị đối
với từng loại phí. Doanh nghiệp tập trung theo dõi sự biến động thường xuyên
của các khoản mục chi phí biến đổi để có các biện pháp kịp thời nhằm giảm
thiểu chi phí. Điều chỉnh biến phí cấp bậc cho phù hợp khi có các điều kiện thay
đổi. Xem xét xu hướng tăng dần tỷ trọng định phí so với biến phí nhằm bảo
đảm sự phát triển lâu dài và cơ bản của doanh nghiệp. Xem xét mức độ phù hợp
của các khoản mục định phí tuỳ ý.
Chi phí hỗn hợp là loại chi phí mà bản thân nó gồm các yếu tố chi phí biến
đổi và chi phí cố định. Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thể hiện
các đặc điểm của chi phí cố định, quá mức đó nó lại thể hiện đặc tính của chi phí
biến đổi. Chi phí hỗn hợp bao gồm các khoản chi phí như chi phí sửa chữa lớn
tài sản cố định.
Để xác định được thành phần của định phí và biến phí trong chi phí hỗn
hợp nhằm mục đích kiểm soát và chủ động điều tiết chi phí, kế toán thường sử
dụng hai phương pháp.
- Phương pháp cực đại, cực tiểu
- Phương pháp bình phương nhỏ nhất
* Phân loại chi phí được sử dụng trong việc lựa chọn phương án: chi phí trực
tiếp, chi phí gián tiếp, chi phí cơ hội, chi phí chênh lệch và chi phí chìm.
- Chi phí trực tiếp là những chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến từng đối
tượng chịu chi phí như chi phí nhiên liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi

cấp cho các nhà quản trị dùng vào việc
điều hành, hoạch định và ra các quyết
định kinh doanh
- Chi phí được ghi nhận là những phí tổn
thực tế phát sinh gắn liền với hoạt động
của doanh nghiệp. Nó được định lượng
bằng một lượng tiền chi ra, một mức
giảm sút giá trị tài sản, một khoản nợ
- Chi phí có thể là những phí tổn thực
tế phát sinh trong một hợp đồng sản
xuất kinh doanh, những phí tổn mất đi
do lựa chọn phương án, hy sinh cơ hội
kinh doanh
- Chi phí được đặt ra trong quan hệ với
tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp và
thường đảm bảo bởi những chứng từ
chứng minh là phí tổn thực tế trong hoạt
động sản xuất kinh doanh
- Chi phí trong kế toán quản trị chú
trọng đến sự lựa chọn so sánh mục tiêu
theo mục đích sử dụng, ra quyết định
kinh doanh hơn là chú trọng vào chứng
cứ
1.2.2 Giá thành dịch vụ vận tải
Giá thành vận tải là toàn bộ chi phí vận tải của doanh nghiệp bỏ ra để hoàn
thành khối lượng dịch vụ vận tải hoặc công việc trong kỳ.
12
Giá thành vận tải là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng công tác
quản lý của doanh nghiệp vận tải. Thông qua chỉ tiêu giá thành có thể xác định
được hiệu quả của việc sử dụng nguồn nhân tài, vật lực trong doanh nghiệp,

hay lãng phí.
• Giá thành thực tế của dịch vụ hoàn thành
Sau khi hoàn thành dịch vụ vận tải, bộ phận tính toán tất cả những chi phí
doanh nghiệp đã bỏ ra để hoàn thành khối lượng dịch vụ vận tải trong kỳ trên
cơ sở các chi phí thực tế đã được tập hợp và phân bổ cho từng lao động vận tải,
kế toán cần phân biệt hai loại giá thành thực tế đã được tập hợp và phân bổ cho
từng hoạt động vận tải.
+ Giá thành sản xuất dịch vụ: loại giá thành này bao gồm những chi phí
trực tiếp (nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp) và chi phí sản xuất
chung không bao gồm chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho dịch vụ hoàn
thành.
+ Giá thành dịch vụ toàn bộ dịch vụ vận tải hoàn thành: bao gồm giá
thành sản xuất dịch vụ và chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho dịch vụ
hoàn thành.
Do đặc điểm riêng của hoạt động dịch vụ vận tải, quá trình sản xuất dịch
vụ và quá trình tiêu thụ không thể tách rời nhau nên không phát sinh chi phí bán
hàng riêng.
1.2.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành vận tải
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt khác nhau của một quá
trình sản xuất, một bên là các yếu tố chi phí “đầu vào”, một bên là kết quả sản
xuất “đầu ra” Chúng có quan hệ tỷ lệ thuận với nhau vì chi phí càng thấp thì giá
thành sản phẩm càng hạ và ngược lại. Hai chỉ tiêu này có cùng nguồn gốc nhưng
chúng có hình thái và phạm vi biểu hiện khác nhau.
Chi phí sản xuất được sản xuất được tính trong phạm vi giới hạn của một
kỳ kinh doanh nhất định. Chi phí sản xuất trong kỳ trong từng kỳ kế toán có
liên quan đến sản phẩm dịch vụ đã hoàn thành trong kỳ và sản phẩm dở
dang cuối kỳ.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có thể khác nhau về mặt lượng là do
những nguyên nhân sau đây:
- Giá thành sản phẩm có thể bao gồm cả chi phí đã phát sinh ở những kỳ kinh

Việc xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất cần dựa trên các căn
cứ sau:
- Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (quy trình sản
xuất khép kín hay phân đoạn, sản xuất một hay nhiều loại sản phẩm, có một hay
nhiều phân xưởng).
15
- Yêu cầu thông tin của công tác quản lý và trình độ quản lý của doanh
nghiệp tuỳ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng doanh nghiệp mà đối tượng hạch
toán chi phí có thể là:
+ Từng chi tiết, bộ phận sản phẩm, từng sản phẩm riêng biệt, nhóm sản
phẩm hay đơn hàng.
+ Từng phân xưởng, bộ phận, giai đoạn công nghệ sản xuất.
+ Toàn bộ quy trình sản xuất sản phẩm.
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý chi phí
giá thành cũng như trình độ quản lý chung và đặc điểm tổ chức hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp mà xác định hạch toán chi phí sản xuất cho thích hợp.
Trong ngành vận tải biển, đối tượng tập hợp chi phí có thể theo chuyến tàu hoặc
từng tàu hoặc có thể hạch toán chi phí trong phạm vi tính toán doanh nghiệp.
1.3.1.3 Đối tượng tính giá thành
Xác định đối tượng tính giá thành là công việc đầu tiên trong công tác tính
giá thành vận tải. Khác với doanh nghiệp sản xuất, do đặc điểm hoạt động kinh
doanh vận tải, mà đối tượng lao động trong các doanh nghiệp vận tải có tính
chất riêng biệt. Ngoài vật tư phục vụ cho phương tiện vận tải hoạt động và phục
vụ quản lý doanh nghiệp, đối tượng quản lý trong các doanh nghiệp còn là hàng
hoá hành khách cần di chuyển.
Kết quả của quá trình kinh doanh vận tải là khối lượng hàng hoá và hành
khách được di chuyển từ địa điểm này sang địa điểm khác, doanh nghiệp sẽ thu
được một khoản tiền nhất định gọi là thu nhập. Chi phí vận tải để hoàn thành
việc di chuyển khối lượng hàng hoá, hành khách được gọi là giá thành vận tải.
Như vậy, trong doanh nghiệp vận tải đối tượng tính giá thành vận tải được

- Phương pháp tập hợp trực tiếp áp dụng trong trường hợp chi phí sản
xuất phát sinh có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế toán tập hợp chi phí
sản xuất riêng biệt. Theo phương pháp này, ngay từ đầu, chi phí sản xuất phát
sinh được tập hợp riêng cho từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trên chứng
từ ban đầu, sau đó căn cứ vào chứng từ thực hiện hạch toán trực tiếp chi phí sản
xuất cho từng đối tượng riêng biệt.
- Phương pháp phân bổ gián tiếp áp dụng trong trường hợp chi phí sản
xuất phát sinh có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí sản xuất. Theo
phương pháp này kế toán căn cứ vào chứng từ gốc tập hợp chi phí sản xuất phát
sinh cho nhiều đối tượng theo tong nơi phát sinh chi phí. Sau đó lựa chọn tiêu
17
thức phân bổ thích hợp để phân bổ các chi phí này cho từng đối tượng chịu chi
phí như sau:
C
i
= T
i
x H
Với H = C/

T
i
Trong đó: C
i
: chi phí phân bổ cho đối tượng i
T
i
: đại lượng tiêu chuẩn cần phân bổ của đối tượng
C: tổng chi phí sản xuất.
Với phương pháp này, độ chính xác của chi phí sản xuất tính cho từng

phương tiện
cuối kỳ
Giá thành đơn vị =
Tổng giá thành
Khối lượng vận tải hoàn thành
18
@ Phương pháp tính giá thành định mức
Phương pháp này được áp dụng với những doanh nghiệp đã có các định
mức kinh tế kỹ thuật tương đối ổn định và hợp lý, chế độ quản lý theo định kỳ
mà được kiện toàn theo nề nếp, trình độ tổ chức và nghiệp vụ chuyên môn kế
toán tương đối cao, đặc biệt là thực hiện tốt chế độ hạch toán ban đầu.
Căn cứ vào định mức kinh tế kỹ thuật hiện hành và dự toán chi phí được
duyệt để tính giá thành của hoạt động vận tải.
Tổ chức hạch toán một cách riêng biệt số chi phí thực tế phù hợp với định
mức và số chi phí chênh lệch thoát ly định mức. Tập hợp riêng và thường xuyên
phân tích nguyên nhân những khoản chi phí thoát ly định mức để có biện pháp
khắc phục.
Khi có sự thay đổi định mức phải kịp thời tính toán lại giá thành định mức
và số chi phí chênh lêch do thoát ly định mức.
@ Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng:
Phương pháp này thường áp dụng với những doanh nghiệp vận tải hành
khách và hàng hoá theo lô hàng, theo hợp đồng. Đối tượng tính giá thành vận tải
là theo từng hợp đồng đặt hàng hoặc loạt hợp đồng. Kỳ tính giá thành phù hợp
với kỳ tính cung cấp dịch vụ. Khi nào thực hiện dịch vụ hoàn thành từng hợp
đồng đặt hàng hoặc hàng loạt hợp đồng đó. Khi có khách hàng hợp đồng đặt
hàng, kế toán phải trên cơ sở hợp đồng để mở bảng tính giá thành cho hợp đồng
đặt hàng đó. Cuối tháng hoặc kết thúc hợp đồng kinh tế tính toán, tập hợp chi
phí và tính giá thành căn cứ vào số liệu chi phí đã tập hợp được.
Trong kinh doanh vận tải hàng hoá, khi có khách hàng ký hợp đồng vận
chuyển hàng hoá thì kế toán có thể áp dụng phương pháp này. Đến khi hợp

Kế toán trách nhiệm chi phí có nhiệm vụ kiểm soát các khoản mục, yếu tố
chi phí phát sinh theo các định mức và dự toán đã được xây dựng. Lập báo cáo
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm theo yêu cầu quản trị. Phân tích sự biến
động của các định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực
tiếp và chi phí sản xuất chung. Từ đó xác định những nguyên nhân ảnh hưởng
và đưa ra các biện pháp nhằm giảm chi phí thấp nhất.
20
Kết quả của trung tâm chi phí thường thể hiện trên các báo cáo chi phí của
trung tâm chi phí. Đối với nội bộ doanh nghiệp, thông tin chi phí chi tiết ở từng
trung tâm là một hệ thống thông tin hết sức quan trọng và hữu ích trong công tác
xây dựng kế hoạch và phân bổ nguồn lực, kiểm soát chi phí ở từng bộ phận và
cuối cùng là đánh giá thành quả của nhà quản lý.
Báo cáo chi phí của trung tâm chi phí thường là những báo cáo sau:
- Báo cáo chênh lệch chi phí
- Báo cáo chi phí sản xuất
- Báo cáo kết quả kinh doanh bộ phận
1.4.2 Định mức và dự toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp kinh
doanh dịch vụ vận tải
Định mức chi phí sản xuất kinh doanh là cơ sở để lập dự toán chi phí cho
từng đơn vị dự toán. Như vậy, việc lập dự toán sản xuất kinh doanh phải căn cứ
vào định mức chi phí. Dự toán và định mức có sự khác nhau về phạm vi. Định
mức thì tính cho từng đơn vị, còn dự toán được lập cho toàn bộ sản lượng
haydoanh số cần thiết dự kiến sản xuất trong kỳ. Như vậy, giữa định mức và dự
toán có mối liên hệ và ảnh hưởng lẫn nhau. Nếu định mức xây dựng không hợp
lý và sát với thực tế thì dự toán lập trên cơ sở đó không có tính khả thi cao, giảm
tác dụng kiểm soát thực tế. Ngược lại, dự toán là cơ sở để đánh giá và kiểm tra
xem xét các định mức đã khoa học chưa để có các biện pháp hoàn thiện định
mức mới. Vì vậy, khi xây dựng định mức chi phí sản xuất phải tuân theo những
nguyên tắc và phương pháp nhất định.
Xây dựng định mức chi phí:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status