Sáng kiến kinh nghiệm MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ CHO TRẺ TRONG GIỜ LÀM QUEN MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH MẪU GIÁO 4 -5 TUỔI TRONG TRƯỜNG MẦM NON YÊN THANH - Pdf 26

TấN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ CHO TRẺ TRONG GIỜ
LÀM QUEN MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH MẪU GIÁO 4 -5 TUỔI
TRONG TRƯỜNG MẦM NON YÊN THANH
I/-ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Tầm quan trọng của vấn đề:
Văn học là một loại hình nghệ thuật thông qua môn văn học giúp trẻ phát
triển khả năng tư duy và ngôn ngữ mạch lạc trong sáng. Khả năng cảm thụ cái hay,
cái đẹp, phân biệt cái tốt, cái xấu, các sự vật hiện tượng trong môi trường thiên
nhiên, môi trường xã hội.
Trẻ em như tờ giấy trắng chưa có vốn sống chưa hiểu biết gì về ngôn ngữ
mạch lạc, nói thế nào để đủ câu và đủ nghĩa để mọi người có thể hiểu được trẻ. Vì
vậy cô giáo và cha mẹ là người cung cấp những kiến thức cho trẻ thông qua lời nói
giao tiếp vậy ngôn ngữ giao tiếp với trẻ cần phải rõ ràng ngắn gọn dễ hiểu. Khi cô
giáo giảng bài là cô truyền thụ kiến thức cho trẻ nhờ lời nói. Tất cả các môn học
khác đều cần ngôn ngữ nói để yêu cầu hay mong muốn trẻ làm điều gì đó cho cô
vậy nói sao cho dễ hiểu dễ nghe và dễ nhớ thì bộ môn văn học giúp cho ta điều đó.
Chính vì vậy bộ môn văn học là môn không thể thiếu được trong các cấp học.
Đặc biệt là làm quen chữ cái vì ở lứa tuổi này phạm vi giao tiếp còn hạn chế,
vốn hiểu biết còn nghèo nàn, ngôn ngữ chưa hoàn thiện, cuộc sống còn nhiều điều
mới lạ vì vậy thông qua môn văn học nói chung và tiết là quen chữ cái nói riêng là
rất cần thiết đối với trẻ. Muốn trẻ phát âm chính xác các chữ cái và biết “đọc sách”
Thì giáo viên phải nghiên cứu tìm tòi các biện pháp sao cho trẻ tiếp thu hứng thú và
có hiệu quả đó là trẻ phải phát âm chính xác 29 chữ cái, biết nhận ra các chữ cái đó
qua các từ và tiếng.Ngoài ra trẻ còn sử dụng cách phát âm chính xác qua giao tiếp,
mở rộng vốn từ cho trẻ. Cô giáo phải gây hứng thú cho trẻ thông qua các hình thức
khác nhau như sử dụng đồ dùng trực quan, sử dụng trò chơi, tạo môi trường chữ viết
cho trẻ. Giáo viên luôn sáng tạo để thay đổi các hình thức sao cho trẻ tiếp thu chữ
cái không máy móc, trẻ dễ nhớ và thuộc chữ cái một cách tự nhiên. Thường xuyên
cho trẻ tiếp cận chữ cái ở mọi lúc, mọi nơi và chữ cái được tích hợp vào trong các
môn học khác một cách tự nhiên.Qua đó nhằm củng cố các khái niệm.
Qua mụn lm quen ch cỏi s giỳp tr phỏt trin ton din v cỏc mt nhõn

hon thin v s dng c phi tri qua rt nhiu cụng on, bt u t t múng,
2
xõy tng, lp mỏi ri n khõu trang trớ, chnh sa Tr mm non cng vy, õy
l giai on tr tip thu nn giỏo dc u tiờn ging nh vic t viờn gch nn
múng cho mt cụng trỡnh, nhng viờn gch u tiờn cú vng vng, chc chn thỡ
cụng trỡnh ú múi bn vng, m bo lõu di. Nh vy vic giỏo dc tr la tui
mm non cỏc trng mm non úng mt vai trũ quan trng trong vic phỏt trin
sau ny ca tr.
L giỏo viờn mm non trc tip chm súc v nuụi dy tr tụi nhn thy c
tm quan trng trong vic chm súc giỏo dc tr mm non, thy c vai trũ v
nhim v cao c ca mỡnh, trong vic phỏt trin nhng mm non tng lai ca t
nc, gúp phn xõy dng s nghip giỏo dc núi riờng v t nc núi chung ngy
cng tt p, tin b xó hi, xng ỏng vi li dy ca Bỏc:
Vỡ li ớch mi nm phi trng cõy
Vỡ li ớch trm nm phi trng ngi
Bt ngun t nhng tm quan trng trờn, nờn l mt giỏo viờn mm non tụi
luụn tỡm tũi a ra nhng phng phỏp ging dy sao cho lng kin thc tr tip
thu c t kt qu cao, tr hng thỳ, sụi ni tớch hp c nhiu ni dung vo
ging dy gi hc phong phỳ hn, to s lụi cun i vi tr v phự hp vi
iu kin trng mỡnh ang cụng tỏc. i vi tr mm non hot ng lm quen vi
ch cỏi l mt trong nhng hot ng quan trng trong vic phỏt trin ton din
ca tr, nú cú tm quan trng rt ln trong vic phỏt trin vn t, phỏt trin ngụn
ng, kh nng phỏt õm-c chun ch, ting m , phỏt trin cỏc giỏc quan v
hon thin cỏc nhõn cỏch cho tr.
Vỡ thy c tm quan trng ca hot ng, nờn tụi ó chn ti nghiờn
cu mt s bin phỏp gõy hng cho tr 5 - 6 tui hc mụn lm quen vi ch cỏi
t kt qu cao.
4. Gii hn nghiờn cu:
Căn cứ vào khả năng và điều kiện của bản thân, tôi chỉ nghiên cứu một số
biện pháp gây hứng thú cho trẻ mẫu giáo nhỡ( 4 -5 ) tuổi trong giờ làm quen với

đầu óc, thoải mái, sảng khoái.
+ Đối với giáo dục đạo đức: Qua việc cho trẻ l;àm quen với môi trờng xung
quanh sẽ giáo dục cho trẻ có lòng yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, yêu cây cỏ, con
vật từ đó trẻ có ý thức chăm sóc và bảo vệ thiên nhiên, biết cách c xử tốt giữa con
ngời với con ngời.
+ Đối với giáo dục thẩm mỹ: Khi cho trẻ làm quen với môi trờng xung
quanh sẽ giúp trẻ hiểu đợc cái đẹp trong tự nhiên, trong cuộc sống, từ đó trẻ biết
yêu cái đẹp, biết hớng tới cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp.
+Đối với giáo dục lao động: Qua việc cho trẻ làm quen với môi trờng xung
quanh sẽ hình thành và rèn luyện cho trẻ có một số kỹ năng lao động đơn giản.
4
- Nh vậy: Thông qua việc cho trẻ làm quen với môi trờng xung quanh sẽ
giúp trẻ đợc phát triển toàn diện về các mặt, nhân cách của trẻ đợc hình thành và
phát triển và đó là mục đích hàng đầu của ngành học mầm non nói riêng và ngành
giáo dục nói chung. Cho nên, việc cho trẻ làm quen với môi trờng xung quanh là
một việc làm rất thiết thực, cần thiết và nội dung cho trẻ làm quen với môi trờng
xung quanh đã đợc đa vào trong chơng trình dạy trẻ thành một hoạt động và trẻ đợc
học ngay từ độ tuổi nhà trẻ tới các độ tuổi tiếp theo.
III/- C S THC TIN.
Trong thực tế, việc cho trẻ làm quen với môi trờng xung quanh đã đợc
giáo viên mầm non rất quan tâm, các giáo viên đã biết cách tổ chức cho trẻ tham
gia vào các hoạt động nhằm tìm hiểu về môi trờng xung quanh và hiệu quả đạt đợc
rất cao. Đó là trẻ đã đã có những kiến thức, những hiểu biết về một số sự vật, hiện
tợng xung quanh nh biết tên gọi, cấu tao, đặc điểm, ích lợi của sự vật hiện tợng,
qua các hoạt động đã hình thành cho trẻ một số kỹ năng góp phần phát triển toàn
diện cho trẻ . Nhng bên cạnh đó, vẫn còn hiện tợng là một số giáo viên cha biết
cách tổ chức hoạt động cho trẻ, cha biết vận dụng những biện pháp linh hoạt, sáng
tạo vào trong quá trình dạy trẻ và đặc biệt là cha biết thu hút sự tập trung chú ý, sự
tích cực tham gia vào các hoạt động của trẻ nên sự nhận thức của trẻ về thế giới
xung quanh còn cha chắc chắc, trẻ còn hay quên, hay nhầm lẫn, cha rèn luyện đợc

lúc đầu tôi thấy trẻ tham gia hoạt động không hào hứng, một số trẻ thích, một số
trẻ không thích và chưa có nề nếp trong học tập. Trong quá trình thực hiện tôi quan
sát, ghi chép đầy đủ và đánh giá chất lượng như sau:
- Trẻ có ý thức tham gia hoạt động học tập, nhận biết và phân biệt được các
chữ cái theo yêu cầu của cô, biết phát âm đúng chuẩn các âm, đã tham gia vào
hoạt động làm quen với các chữ cái hào hứng là: 12/32 đủ đạt 37 %.
- Số trẻ có tham gia vào hoạt động học tập, nhận biết chữ cái đôi lúc còn
nhầm, phát âm chưa chuẩn, khả năng nghi nhớ không bền và tham gia hoạt động
chưa thực sự chú ý là: 15/32 đạt 47 %.
- Số trẻ có thái độ thờ ơ trong học tập, không thích tham gia học chữ, nhận
biết, phân biệt chữ còn nhầm là: 5/32 đạt 16 %.
3. Bồi dưỡng nâng cao nhận thức.
Từ những kết quả khảo sát tôi nắm về khả năng nhận biết cũng như sự
hứng thú của trẻ với hoạt động kh¸m ph¸ khoa häc vµ kh¸m ph¸ x· héi
Và qua thực tế chăm sóc giảng dạy trong nhiều năm và thường xuyên được
trực tiếp đi thăm lớp, dự giờ đồng nghiệp tôi nhận thẩy trẻ mầm non nói chung và
trẻ mẫu giáo nói riêng, các cháu còn nhỏ nhưng có nhu cầu ý thức học tập, thích
khám phá những cái mới lạ, ham hiểu biết. Đặc biệt thích vui chơi, vui chơi đóng
vai trò chủ đạo.
Chính vì vậy các hoạt động học tập của trẻ phải đựoc tổ chức dưới dạng vui
chơi mà vẫn đảm bảo kiến thức cho trẻ mới thu hút, hấp dẫn trẻ tham gia vào giờ
học đạt kết quả cao.
Dựa vào đặc điểm của trẻ và thực tế trên tôi đã đi sâu vào siêu tầm những
tài liệu có liên quan đến môn học, học tập nghiên cứu về chương trình giảng dạy
môn kh¸m ph¸ khoa häc , kh¸m ph¸ x· héi cho trẻ mẫu giáo 4- 5 tuổi. Tôi luôn suy
nghĩ và đặt ra câu hỏi mình phải làm gì? Làm như thế nào? để nâng cao nghệ thuật
6
ging dy, gõy hng thỳ, phỏt huy c tớnh tớch cc ca tr v giỳp tr tip thu bi
mt cỏch nh nhng sõu sc, t hiu qu cao.
c s quan tõm giỳp ca nh trng to iu kin cho tụi v cỏc giỏo

trực quan để đa vào trong tiết dạy và phù hợp với nội dung tiết dạy của mình sao
7
cho vừa có thể thuận tiện cho việc truyền thụ kiến thức của cô, vừa có thể gây đợc
hứng thú cho trẻ, giúp trẻ tập trung chú ý, quan sát đối tợng, tích cực hoạt động với
đối tợng để nắm bắt kiến thức một cách dễ dàng, nhanh chóng, đầy đủ chính xác.
Việc sử dụng các loại đồ dùng trực quan phải phù hợp với nội dung từng
tiết dạy. Đối với những tiết chủ đề về môi trờng xã hội thì giáo viên nên lựa chọn
tranh, ảnh để dạy trẻ. Thông qua các bức tranh trẻ đợc quan sát sẽ giúp trẻ nắm bắt
đợc những kiến thức mà cô truyền đạt. Đối với đồ dùng trực quan là đồ chơi, cô có
thể đa vào trong các tiết dạy nh: Đồ chơi của bé, phơng tiện giao thông, quả, rau,
con vậtQua những đồ chơi đợc làm khéo léo, giống với thực tế sẽ giúp trẻ chú ý
quan sát đồ chơi, chơi với đồ chơi để khám phá những kiến thức về đối tợng
Vì trẻ mẫu giáo có sự tởng tợng cha phong phú, kinh nghiệm sống của trẻ
còn ít nên cô phải thờng xuyên tận dụng các vật thật để dạy trẻ . Khi cho trẻ đợc
tiếp xúc với vật thật thì trẻ sẽ thấy hấp dẫn và sinh động hơn vì vật thật là đối tợng
cụ thể, chính xác nhất giúp trẻ nắm bắt kiến thức một cách rõ ràng và chính xác và
toàn diện hơn.
Ví dụ: Khi đa ra những loai rau, quả, hoa thậtđể dạy trẻ thì những vật thật
đó sẽ gây đợc sự chú ý đối với trẻ vì trẻ đợc nhìn thấy đối tợng một cách toàn diện
hơn, đợc ngắm nhình xung quanh vật một cách kỹ lỡng. Mặt khác, trẻ còn đợc
khám phá đối tợng bằng cách hành động với đối tợng để khám phá ra đặc điểm của
đối tợng một cách dễ dàng, chính xác.
Hoặc khi cho trẻ làm quen với một số loại động vật thì giáo viên nên
chuẩn bị những con vật quen thuộc, dễ tìm nh chó, mèo, gà, vịt, cá, tômđể cho trẻ
quan sát. Khi trẻ quan sát những con vật đó thì trẻ thấy nó sinh động, đáng yêu hơn
vì nó là đối tợng quan sát động chứ không phải là tĩnh nh tranh. Trẻ có thể nhìn
thấy con vật nó đi lại, vểnh tai, nghiêng đầu, kêu, ăn, bơi cho nên với tính chất
động của đối tợng quan sát sẽ lôi cuốn trẻ, thu hút sự tập trung chú ý của trẻ vào
việc quan sát và khám phá đối tợng .
Việc sử dụng màn hình, đèn chiếu cũng là một hình thức sử dụng trực quan

còn mới, có màu sắc tơi tắn, dờng nét rõ ràng, đẹp. Bức tranh vẽ phải giống với
thực tế, có kích thớc vừa phải để trẻ tri giác. Còn khi cô sử dụng các loại đồ chơi để
dạy trẻ thì cô phải lựa chọn những đồ chơi còn mới, sạch sẽ, có hình dáng đẹp,
giống với thực tế, có màu sắc hấp dẫn bởi chính màu sắc, hình dạng và tính thẩm
mỹ của đồ chơi đã lôi cuốn sự chú ý của trẻ khiến trẻ tập trung chú ý quan sát để
khám phá về đối tợng đó. Khi sử dụng vật thật thì cô phải chọn những vật tơi ngon
có hình dạng đẹp, sạch sẽ, có màu sắc rõ ràng tơi tắn, có kích thớc vừa phải, không
độc hại, nguy hiểm cho trẻ .Khi lựa chọn những con vật thì cô phải chú ý chọn
những con vật khoẻ mạnh, sạch sẽ, đáng yêu để khi cô đa ra những vật thật sẽ gây
ra cho trẻ sự cảm tình, thích thú khiến trẻ say mê khám phá đối tợng từ đó trẻ sẽ
nắm bắt kiến thức một cách dễ dàng và sâu sắc hơn
2. Trẻ mẫu giáo bé có đặc điểm nhận thức là : Nhận thức cảm tính là chủ
yếu, trẻ chỉ có thể nhận biết về các sự vật hiện tợng khi trẻ đợc tiếp xúc với đối t-
ợng bằng các giác quan, cho nên trong quá trình dạy trẻ cô phải tạo mọi cơ hội để
trẻ có thể sử dụng nhiều giác quan nh thị giác, xúc giác, vị giác, thính giác, khứu
giác để tham gia vào việc khám phá đối tợng .
Không phải tiết dạy nào mà trẻ cũng có thể sử dụng cùng một lúc tất cả
các giác quan cho nên cô phải lựa chọn các hình thức để trẻ sử dụng những giác
quan để khám phá kiến thức sao cho phù hợp với nội dung dạy trẻ.
9
Ví dụ: Đối với tiết dạy Một số loại quảcô có thể cho trẻ sử dụng các
giác quan nh thị giác, xúc giác, vị giác, khứu giác để trẻ khám phấ đối tợng. Trẻ sẽ
dùng thị giác để quan sát quả từ đó khám phá ra quả có màu sắc, hình dạng, kích
thớc nh thế nào? Trẻ sẽ dùng vị giác để nếm quả xem quả có vị gì mà khi trẻ đợc
nếm trẻ sẽ rất thích thú, trẻ sẽ dùng xúc giác để sờ quả xem quả nhẵn hay sần sùi,
trẻ dùng khứu giác để ngửi quả xem quả có thơm không?
Hoặc đối với tiết dạy trẻ nhận biết về một số phơng tiện giao thông , cô
có thể cho trẻ sử dụng một số giác quan nh thị giác, xúc giác, thính giác để khám
phá kiến thức về các phơng tiện giao thông đó là cho trẻ quan sát phơng tiện giao
thông ( xe đạp, xe máy đồ chơi hoặc tranh ảnh) qua thị giác để trẻ phát hiện ra

mặc quần áo, lúc đó trẻ đợc tự tay cầm vào quần áo đẹp do cô chuẩn bị, đợc tự
mình cho tay, chân vào ống quần, tay áo, đợc tự cài cúc, chui đầu qua sự gợi ý, h-
ớng dẫn của cô. Bằng các thao tác và hành động trẻ sẽ thấy thích thú vì trẻ nhỏ rất
thích đợc mặc quần áo đẹp, trẻ thấy vui sớng khi đợc thực hiện nhiệm vụ do cô yêu
cầu từ đó trẻ sẽ cố gắng thực hiện tốt nhiệm vụ.
Việc cho trẻ hành động với đối tợng sẽ giúp trẻ cảm thấy thoải mái, thích
thú, khích thích đợc tính tò mò ham hiểu biết ở trẻ từ đó trẻ sẽ dễ dàng nắm bắt đợc
những kiến thức mà cô truyền đạt.
4. Trẻ ở độ tuổi mẫu giáo bé rất thích cái mới lạ, hấp dẫn sinh động, còn
những cái mà quen thuộc, lặp đi lặp lại nhiều lần gây cho trẻ sự nhàm chán cho nên
trong quá trình dạy trẻ cô phải lựa chọn những hình thức sao cho sinh động, hấp
dẫn, sáng tạo và luôn có sự thay đổi để lôi cuốn sự chú ý của trẻ đặc biệt là trong
phần giới thiệu bài( vì đây là phần để gây hứng thú cho trẻ nhiều nhất trong tiết học
)
Khi cho trẻ khám phá các đối tợng cô không nên đa luôn ra ngay đối tợng
đó vì nó sẽ mang tính chất khô cứng, dập khuôn, máy móc, không tạo đợc sự hấp
dẫn cho trẻ mà cô cần đa ra những tình huống có vấn đề, những hinh thức sinh
động, sáng tạo để lôi cuốn sự tập trung , chú ý, khơi dậy trí tò mò, khám phá của
trẻ .
Phần giới thiệu bài cô có thể đa ra những hình thức nh cho trẻ chơi một trò
chơi nhỏ, cho trẻ đi thăm quan một vờn rau, vờn hoa , cho trẻ đi tham dự sinh nhật
hoặc cô kể một câu chuyện ngắn hấp dẫn tạo ra tình huống có vấn đề để lôi cuốn
trẻ, thu hút sự chú ý của trẻ.
Việc lựa chọn những hình thức để đa vào trong phần giới thiệu bầi phải phù
hợp với nội dung dạy, sao cho sinh động, hấp dẫn với trẻ. Những hình thức giới
thiệu bài phải luôn thay đổi trong các tiết học để cho trẻ khỏi bị nhàm chán.
Ví dụ: Phần giớithiệu bài của tiết dạy Làm quen với một số loại rau cô có
thể tổ chức cho trẻ chơi một trò chơi Thi hái rau. Cô cho trẻ cùng nhau thi đua
chạy ra vờn rau( mô hình vờn rau mà cô chuẩn bị) để hái những cây rau rồi mang
về và trẻ đợc thi đua nh vậy trẻ sẽ rất thích thú, hăng hái muốn đợc kể về những cây

nhằm mục đích ôn luyện, củng cố kiến thức cho trẻ. Qua những trò chơi, trẻ vừa đ-
ợc ôn luyện củng cố kiến thức, vừa đợc thoả mãn nhu cầu chơi cho nên giáo viên
phải thờng xuyên đa trò chơi vào các phần của tiết dạy , có thể là phần giới thiệu
bài, có thể là phần cuối ôn luyện kiến thức. Với tính chất của trò chơi là vui nhộn,
trẻ đợc hành động bằng tay, chân, đợc chạy, nhảy, đi lại ở các trò chơi động và yếu
tố thi đua với nhau ở những trò chơi tĩnh đã lôi cuốn trẻ, thu hút sự chú ý của trẻ,
giúp trẻ có hứng thú tham gia tích cực vào trò chơi.
Khi đa trò chơi vào trong tiết daỵ, cô phải chú ý đa xen kẽ cả trò chơi
động và trò chơi tĩnh để thay đổi không khí cho trẻ và đảm bảo sức khoẻ cho trẻ.
Có rất nhiều trò chơi đã đợc biên soạn để cho trẻ chơi nh trò chơi: Thi xem ai
nhanh, Cái túi kỳ lạ, Cái gì biến mất, Gieo hạt. nhng cô phải biết lựa chọn
những trò chơi sao cho phù hợp với nội dung dạy trẻ, phải luân phiên thay đổi các
trò chơi trong tiết học, không lặp đi lặp lại nhiều lần và có thể cải biến trò chơi,
sáng tạo ra những trò chơi mới.
Ví dụ: Trò chơi : Cái túi kỳ lạ theo chơng trình có luật chơi là: Cô
chuẩn bị một cái túi trong đựng những đối tợng mà trẻ vừa học. Cô cho một trẻ lên
12
chơi và nhắm mắt lại, khi cô gọi tên đối tợng gì thì trẻ cho tay vào túi và chọn đúng
đối tợng đó giơ lên và gọi tên đối tợng cho cả lớp cùng nghe. Nhng cô có thể cải
biến trò chơi đi một chút để nó mới lạ hơn đó là cô cho trẻ chơi trò chơi Nhà thám
hiểm, cô cũng đa ra những cái túi hoặc hộp mà bên trong đựng các đối tợng trẻ
vừa học, cô cho 2,3 trẻ lên chơi cùng một lúc, trẻ lên chơi đợc đeo kính màu( do cô
tự làm) để không nhìn thấy gì. trẻ chú ý, khi cô gọi tên đối tợng gì thì trẻ cho tay
vào túi và chọn nhanh đợc đúng đối tợng đó. Ai chọn nhanh và đúng sẽ là nhà thám
tử giỏi, hoặc thắng cuộc. Với cách chơi nh vậy cô đã đa yếu tố thi đua vào trong trò
chơi giúp trẻ sẽ cố gắng chơi thật nhanh, thật giỏi.
Ngoài việc cải biến một số trò chơi theo những trò chơi đã biên soạn để
tạo sự mới mẻ đối với trẻ, cô còn có thể sáng tạo ra một số trò chơi mới vừa phù
hợp với nội dung tiết dạy, vừa gây đợc sự hứng thú, chú ý cho trẻ.
Ví dụ:

không đủ nghe, nếu nói quá to thì trẻ có cảm giác là cô mắng nên trẻ sợ hãi.
Lời nói của cô phải diễn cảm kết hợp với cử chỉ, điệu bô, ánh mắt để thể
hiện đúng nội dung câu nói, đúng hoàn cảnh, nói phải có ngữ điệu, ngắt, nghỉ đúng
chỗ.
Ví dụ: khi sử dụng lời nói trong phần trò chơi, cô phải nói với giọng vui tơi,
sôi nổi, thể hiện sự vui nhộn của trò chơi để tạo không khí vui vẻ cho quá trình chơi
của trẻ từ đó sẽ hấp dẫn lôi cuốn trẻ tham gia vào trò chơi một cách tích cực. Khi cô
nói trong phần truyền đạt, cung cấp kến thức thì cô phải nói chậm rãi nhng rõ ràng
ngắn gọn, dễ hiểu đẻ trẻ dễ dàng nắm bắt đợc kiến thức mà cô truyền đạt. Hoặc khi
kể một câu chuyện nhỏ trong phần giới thiệu bài cô phải kể diễn cảm thể hiện thể
hiện đợc tính cách của nhân vật qua lời nói, kể phải chậm rãi, rõ ràng để thu hút sự
chú ý của trẻ để trẻ cảm nhận đợc nội dung câu chuyện .
Trong quá trình dạy cô cũng phải thờng xuyên sử dụng những câu nói, lời
nói có tính chất động viên khích lệ trẻ để lôi cuốn trẻ tham gia vào hoạt động nh:
Cô đố các con biết, Chúng mình cùng thi đua xem ai giỏi hơn, ai nhanh hơn, ai
thông minh hơn, ai khéo hơn
Trong quá trình dạy, cô phải biết các xử lý những tình huống thật khéo
léo, tế nhị, vì trẻ mẫu giáo bé hay sợ sệt, nhút nhát và trẻ lại rất thích khen ngợi
nên cô phải thờng xuyên khen ngợi, động viên trẻ . Khi trẻ trả lời đúng và làm tốt
những công viêc, nhiệm vụ đợc giao thì cô phải, nêu gơng, khen ngợi trẻ kịp thời,
còn khi trẻ trả lời cha đúng hoặc làm cha tốt thì cô không đợc quát mắng trẻ hoặc
lờ đi mà cô cần nhẹ nhàng động viên trẻ, khéo léo gợi ý để trẻ hiểu ra và trả lời đợc
câu hỏi của cô.
Với những lời nói nhẹ nhàng, tình cảm, nói diễn cảm thể hiện đợc đúng nội
dung của câu nói, nói đúng hoàn cảnh, tình huống kết hợp với ánh mắt, cử chỉ, điệu
bộ, thái độ của cô sẽ lôi cuốn trẻ , thu hút sự tập trung chú ý của trẻ vào việc khám
phá đối tợng từ đó trẻ sẽ dễ dàng nắm bắt đợc những kiến thức mà cô truyền đạt.
14
6. Kiểm tra đánh giá.
Muốn các giờ hoạt động kh¸m ph¸ khoa häc, kh¸m ph¸ x· héi đạt hiệu quả,

có những kết quả nh sau:
+ Về kiến thức: Trẻ đã nắm đợc tên gọi, cấu tạo, đặc điểm, tính chất của các
sự vật hiện tợng. Trẻ phân biệt đợc sự giống và khác nhau giữa các sự vật hiện tợng,
biết đợc ích lợi, cách bảo quản, cách sử dụng, các mối liên hê, quan hệ.giữa các
sự vật hiện tợng, trẻ biết đợc đặc điểm, ý nghĩa của một số hiện tợng tự nhiên , hiện
tợng xã hội.
+Về kỹ năng:Trong quá trình cho trẻ làm quen với môi trờng xung quanh đã
hình thành và rèn luyện ở trẻ một số kỹ năng nh khả năng quan sát, khả năng diễn
đạt, khả năng phân tích, so sánh, tổng hợp, phân loại, phân biệt. Rèn luyện kỹ năng
tô, vẽ, đếm, kỹ năng vận động .
+Về thái độ:Trong quá trình cho trẻ làm quen với môi trờng xung quanh đã
hình thành ở trẻ ý thức học tập, trẻ học ngoan, luôn tập trung chú ý nghe cô giảng
bài, trẻ học rất sôi nổi, hăng hái tham gia phát biểu ý kiến, nhiệt tình, tích cực tham
gia vào các hoạt động, đặc biệt là hoạt động nhóm, trẻ luôn có sự phối hợp với
nhau, tích cực , chủ động tìm tòi để khám phá kiến thức
- Trẻ luôn yêu thích môn học, yêu quý những sự vật hiện tợng có lợi xung
quanh, trẻ có ý thức chăm sóc và bảo vệ những sự vật, hiện tợng đó
Nh vậy, Với những kết quả đã đạt đợc ở trên chứng tỏ rằng chất lợng
những tiết dạy của tôi đã đợc nâng lên, tỉ lệ trẻ nắm đfợc bàiđạt đợc theo yêu cầu
của hoạt động đã tăng lên 90% - 95% các giờ dạy đợc nhà trờng đánh giá xếp loại
giỏi, đó là một kết quả tốt trong quả trình giáo dục trẻ.
VI/- KT LUN.
Trong tiết học làm quen với môi trờng xung quanh, muốn trẻ nhận
thức đợc một cách nhanh chóng, đầy đủ, chính xác những kiến thức mà cô truyền
đạt thì phải có một số biện pháp gây hứng thú cho trẻ để lôi cuốn trẻ tham gia tích
cực vào các hoạt động khám phá kiến thức.
Muốn gây đợc hứng thú cho trẻ thì cô phải sử dụng một số biện pháp sau:
+ Phải sử dụng đầy đủ đồ dùng trực quan trong giờ học, các đồ dùng phải
phong phú về chủng loại ( Tranh, ảnh, đồ chơi, mô hình, vật thật, màn hình) đợc
sử dụng xen kẽ nhau trong tiết học và những đồ dùng trực quan phải đảm bảo tính

GIÁO ÁN LÀM QUEN CHỮ CÁI
( Lĩnh vực Phát triển ngôn ngữ)
* Chủ đề: Nghề nghiệp
* Chủ đề nhánh: 1 số nghề truyền thống ở địa phương
* Hoạt động : Làm quen chữ cái b, d, đ
* Hoạt động bổ trợ:
- Hát: Quảng ninh quê em
- Đọc thơ: Bé làm thợ mỏ
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Tâm
Đối tượng: 5- 6 Tuổi
I-mục đích- yêu cầu
1.Kiến thức
-Trẻ nhận biết, phân biệt, phát âm đúng các âm chữ cái b,d,đ.
Nhận ra các chữ cái trong tiếng, từ trọn vẹn.
-Trẻ biết tên, đặc điểm,công việc, sản phẩm của nghề truyền thống công
nhân mỏ.
2.Kỹ năng
-Rèn khả năng quan sát, chú ý, ghi nhớ cho trẻ.
- Rèn kỹ năng luyện phát âm chuẩn, không ngọng.
-Rèn khả năng so sánh, tư duy cho trẻ.
3.Giáo dục
-Trẻ có ý thức trong giờ học.
18
- Giáo dục trẻ yêu quý và biết ơn các chú công nhân mỏ.
II.Chuẩn bị
1.Đồ dùng, đồ chơi
-Thẻ chữ cái rời, thẻ số.
-Tranh có từ chứa chữ cái b, d, đ: “ quần áo bảo hộ”, “ Dụng cụ”.
-Mỗi trẻ một rổ đồ chơi có chứa chữ cái b, d, đ.
-Bài hát về chủ đề.

*. Tổ chức hoạt động
-Trẻ đứng xung
quanh cô
-Trẻ hát
-Trẻ trả lời
- Trẻ lắng nghe
- Trẻ về ngồi
trong lớp hình
chữ u
19
a. Hoạt động 1 : Giới thiệu tranh và từ:
- Các con ơi ! Đây là tranh vẽ gì?
( Hỏi trẻ về bức tranh)
- Cô giới thiệu về bức tranh
-Dưới bức tranh có từ " quần áo bảo hộ" các con đọc to
cùng cô nào.
- Ngay sau đây chúng ta cùng tham gia vào một trò chơi
mang tên “ gắn giống từ dưới bức tranh “
- Cách chơi : Chúng ta sẽ có 3 đội chơi. các chú thưởng cho
3 đội mỗi đội một bức tranh. Các con sẽ dùng thẻ chữ dời
gắn thành từ giống với từ dưới bức tranh trong thời gian là
một bản nhạc.Đội nào ghép đúng theo yêu cầu đội đó là đội
chiến thắng.
- Cô tổ chức cho trẻ chơi
- Cô hướng dẫn, bao quát trẻ chơi
- Cô nhận xét ( chỉnh chữ cho đúng)
- Bây giờ các con hãy đọc to các từ vừa ghép được nào.
- Bây giờ cô muốn mời bạn nào giỏi lên nhặt và phát âm
những chữ cái đã học trong từ " quần áo bảo hộ” hạ xuống
cho cô .

-Trẻ chơi
-Trẻ thực hiện
-Trẻ quan sát
-Trẻ hạ chữ cái
đã học và phát
âm
- Trẻ chú ý lắng
nghe
- Trẻ quan sát
20
nào.
- Ngay sau đây chúng ta cùng tham gia vào một trò chơi
mang tên “ gắn giống từ dưới bức tranh “
- Cách chơi : Trong rổ của cô có các thẻ chữ rời.
Cô mời một trẻ lên gắn thẻ chữ rời giống với từ trong bức
tranh.
- Cô cho trẻ chơi
- Cô hướng dẫn, bao quát trẻ chơi
- Cô nhận xét ( chỉnh chữ cho đúng)
- Bây giờ các con hãy đọc to các từ vừa ghép được nào.
- Bây giờ cô muốn mời bạn nào giỏi lên nhặt và phát âm
những chữ cái đã học trong từ " Dụng cụ” hạ xuống cho cô .
( Cô gọi trẻ lên nhặt chữ cái đã học và phát âm chữ cái đó).
- Còn rất nhiều những chữ cái mà các con chưa học, cô sẽ hạ
dần các chữ cái chưa học.
- Cô giới thiệu với các con đây là chữ cái d. Để các con quan
sát rõ hơn cô sẽ cho các con quan sát chữ d trên màn hình
chiếu.
- Đây là chữ d, phát âm là d. Khi phát âm chữ d miệng hơi
mở đẩy nhẹ hơi từ trong ra.

- Trẻ quan sát
-Trẻ phát âm
-Trẻ lắng nghe.
21
ở bên trái và có một nét ngang nằm trên nét thẳng.
- Đây là chữ đ in thường, ngoài chữ đ in in thường còn có
chữ đ viết thường, chư đ in hoa, chữ đ viết hoa.Tuy cách viết
khác nhau nhưng đều có chung cách phát âm là đ. Chúng
mình cùng phát âm nào.
* Trò chơI “Tìm chữ cái theo yêu cầu của cô”
- Cách chơi: Cô thưởng cho mỗi bạn một rổ đồ chơi trong rổ
có các chữ cái b, d,đ. Khi cô phát âm chữ cái nào các con
tìm chữ cáI đó giơ lên và phát âm thật to đó là chữ gì. Hoặc
khi cô nói cấu tạo của chữ các con giơ chữ cái và phát âm
chữ cái đó.
- Trẻ chơi: Cô động viên khuyến khích trẻ chơi
- Cô nhận xét trẻ chơi
*So sánh chữ cái :
+ Chữ cái b, d:
- Giống nhau: Đều có một nét thẳng, một nét cong tròn.
- Khác nhau: Chữ b có một nét thẳng bên trái và một nét
cong tròn bên phải. Còn chữ d có một nét thẳng ở phía bên
phải, một nét cong tròn bên trái.
+ Chữ cái d, đ:
Giống nhau: Đều có một nét thẳng, một nét cong tròn.
- Khác nhau: Chữ đ có một nét ngang nằm trên nét thẳng.
Chữ d không có nét gạch ngang.
+ Cả 3 chữ cái b, d, đ: Đều có một nét thẳng, một nét cong
tròn.
- Khác nhau: Chữ b có một nét thẳng ở phía bên trái, một nét

“ Quê hương tươi đẹp, Quảng ninh quê em” . Khi có hiệu
lệnh “ bs làm thợ mỏ ”, các con sẽ chạy về bức tranh có chứa
chữ cái giống với chữ cái trên tay của mình.
- Cô tổ chức cho trẻ chơi .
- Cô hướng dẫn bao quát trẻ chơi.
- Cô nhận xét:
*. Củng cố:
- Nhắc lại tên bài học: Hôm nay chúng ta đã được tham gia
vào chương trình “ nghề truyền thống quê em” và được làm
quen với các chữ cái b, d, đ. Cô thấy các con học rất ngoan
và giỏi. Cô khen tất cả các con.
3. Kết thúc:
- Cô cùng trẻ đọc bài thơ:“ Bé đi vào lò"
- Cho trẻ ra chơi.
-Trẻ đọc thơ
VIII/- TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chương trình chăm sóc trẻ mẫu giáo.
2. Trò chơi với chữ cái
3. Tạp chí Giáo dục - mầm non.
4 Tâm lý học trẻ em.
5. Hướng dẫn, tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong trường mầm non
theo chủ đề (trẻ 5 - 6 tuổi).
6. Một số tài liệu tham khảo khác như đài, báo, tivi.
23
IX/- MỤC LỤC
STT NỘI DUNG TRANG
I Đặt vấn đề 1
1 Tầm quan trọng của vấn đề 1
2 Những thực trạng liên quan đế vấn đề ghiên cứu 2
3 Lý do chọn đề tài 3,4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status