LỜI NÓI ĐẦU
Khi nói đến Việt Nam là nói đến một đất nước hoà bình và ổn định,
chính điều này đã tạo nên thế mạnh cho đất nước Việt Nam. Nền kinh tế Việt
Nam đang chuyển biến mạnh mẽ tiến lên nền kinh tế thị trường có sự quản lý
của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Năm 2008, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức
thương mại thế giới - WTO, đây là cơ hội để Việt Nam quảng bá hình ảnh đất
nước của mình tới bạn bè trên thế giới, khẳng định vị thế trên trường quốc tế.
Có thể nói việc ra nhập WTO là hàng vàn cơ hội cũng như hàng nghìn thử
thách đối với Việt Nam, đối với nền kinh tế còn non trẻ, đòi hỏi khả năng thay
đổi phù hợp và nhạy cảm với nhịp độ toàn cầu.
Tác động của việc ra nhập tổ chức WTO liên quan nhiều đến cuộc sống
của người dân Việt Nam, nhất là các chủ doanh nghiệp - họ là những người
làm chủ nền kinh tế trẻ, vai trò hoà nhập và phát triển đòi hỏi chính họ phải có
sách lược phát triển doanh nghiệp bền vững lâu dài. Các chủ doanh nghiệp
luôn mong muốn doanh nghiệp luôn có lợi nhuận cao, một bên là chi phí, một
bên là lợi nhuận chính vì những lý do đó mà chủ doanh nghiệp phải là
người đón đầu thị trường, đặc biệt quan tâm đến sự cân bằng của quan hệ
cung - cầu trên thị trường.
Hạch toán kinh tế là một bộ phận cấu thành hệ thống công cụ quản lý
kinh tế tài chính và có vai trò tích cực trong việc điều hành và kiểm soát các
hoạt động kinh tế, đảm nhận các thông tin có ích cho việc ra các quyết định
kinh tế. Kế toán chi phí trong kế toán tài chính của doanh nghiệp được đặt lên
hàng đầu, đặc biệt trong các doanh nghiệp xây lắp, xây dựng cơ bản.
Để nhằm tìm ra sự khác biệt giữa lý thuyết được học trong nhà trường
với thực tại kế toán ở các doanh nghiệp giúp sinh viên có cái nhìn thực tế hơn
1
về công việc trong tương lai, qua thời gian thực tập em may mắn được thực
tập tại Công ty cổ phần Đầu tư và phát triển xây dựng hạ tầng Mỹ Đình.
Quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần Đầu tư và phát triển Xây dựng
chủ đầu tư đánh giá bảo đảm chất lượng, tiến độ. Trên cơ sở đó, giá trị sản
lượng và doanh thu hàng năm của văn phòng thiết kế đều tăng. Do tình hình
ngày càng phát triển, nhu cầu hoạt động ngày càng mở rộng nên các Công ty
Cổ phần Đầu tư và phát triển Xây dựng hạ tâng Mỹ Đình ra đời từ đó.
Tiếp tục phát huy thế mạnh trên, hiện nay công ty đang thiết kế và xây
dựng nhiều công trình thuộc nhiều lĩnh vực dân dụng, công nghiệp, giao
thông, thuỷ lợi và các công trình hạ tầng kỹ thuật
3
Công ty Cổ phần Đầu tư và phát triển Xây dựng hạ tâng Mỹ Đình có
đội ngũ cán bộ được đào tạo chính quy và tích luỹ được nhiều kinh nghiệm
trong quản lý. Hơn nữa công ty đang tiến hành đổi mới thiết bị công nghệ,
không ngừng đào tạo, học hỏi kinh nghiệm, kịp thời nắm bắt những thông tin,
những tiến bộ khoa học kỹ thuật để phục vụ nhu cầu xây dựng ngày càng phát
triển mạnh trong nước.
Sau đây là một số thông tin chính về Công ty Cổ phần Đầu tư và phát
triển Xây dựng hạ tâng Mỹ Đình
Tên công ty: Công ty Cổ phần Đầu tư và phát triển xây dựng hạ tầng
Mỹ Đình
Địa chỉ: số 107C tổ 19 Thị trấn Cầu Diễn Từ Liêm Hà Nội
Mã số thuế: 0102738901
Số tài khoản: 22.10000176782
Điện thoại: 048371437
Email:
Vốn điều lệ: 8 tỷ VND
1.2.Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
1.2.1.Chức năng, nhiệm vụ của công ty
Phát huy vai trò là một doanh nghiệp xây lắp, hiện nay chức năng,
nhiệm vụ chính của công ty là sản xuất cung ứng các loại vật tư, thiết bị phục
vụ các công trình giao thông với chất lượng ngày càng được nâng cao. Tham
gia xây dựng, thi công các công trình do Tổng Công ty giao phó. Đồng thời
So với các ngành sản xuất khác, ngành XDCB có những đặc điểm về kinh tế -
5
kỹ thuật riêng biệt, thể hiện rất rõ nét ở sản phẩm xây dựng và quá trình tạo ra
sản phẩm của ngành.
Sản phẩm xây dựng là những công trình xây dựng, vật kiến trúc có
quy mô lớn, kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất sản
phẩm xây dựng thường lâu dài Do đó, việc tổ chức quản lý và hạch toán sản
phẩm xây dựng phải lập dự toán (dự toán thiết kế, dự toán thi công). Quá
trình sản xuất xây dựng phải so sánh với dự toán, lấy dự toán làm thước đo,
đồng thời để giảm bớt rủi ro phải mua bảo hiểm cho công trình xây dựng. Sản
phẩm xây dựng được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận với chủ
đầu tư (giá đấu thầu), do đó tính chất hàng hóa của sản phẩm xây dựng không
thể hiện rõ. Sản phẩm xây dựng cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản
xuất (xe máy, thiết bị thi công, người lao động ) phải di chuyển theo địa
điểm đặt sản phẩm. Đặc điểm này làm cho công tác quản lý sử dụng, hạch
toán tài sản, vật tư rất phức tạp do ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, thời
tiết và dễ mất mát hư hỏng
Sản phẩm của hoạt động xây dựng đòi hỏi một quy trình công nghệ sản
xuất hết sức phức tạp từ khâu mời thầu đến khâu kết thúc hoàn thành công
trình bàn giao cho chủ đầu tư đến việc bảo hành công trình sau bàn giao cho
chủ đầu tư. Bắt đầu bằng việc khi chủ đầu tư gửi hồ sơ thầu cho nhà thầu,
phòng kế hoạch - kỹ thuật của Công ty có nhiệm vụ tiếp nhận hồ sơ, phối hợp
với các phòng thiết kế tiến hành phân tích tính khả thi về mặt kỹ thuật, về mặt
tài chính, kinh tế - xã hội. Nếu dự án có tính khả thi, Công ty sẽ tiến hành lập
hồ sơ dự thầu. Nếu trúng thầu, sẽ tiến hành các công việc cần thiết chuẩn bị
thi công như giải phóng mặt bằng, thi công công trình theo đúng tiến độ và
chất lượng công trình theo thoả thuận giữa nhà thầu chủ đầu tư cho khi công
trình hoàn thành, tiến hành bàn giao cho chủ đầu tư.
6
Sơ đồ 02: Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
Lập dự án tổ chức thi công và bố trí lực lượng cán bộ kỹ thuật phù hợp
cho công trình, hạng mục công trình. Bóc tách khối lượng thi công, lập tiên
lượng, lập tiến độ và biện pháp thi công cho các công trình, hạng mục công
trình. Thiết kế các dự án đầu tư, kết cấu các chi tiết máy móc phục vụ sản xuất
và thi công của công ty kiểm tra giám sát các công trình, lập hồ sơ nghiệm thu
bàn giao các phần việc của từng hạng mục công trình, lập biểu đối chiếu tiêu
hao vật tư và biểu thu hồi vốn. Tổng hợp báo cáo khối lượng công việc của từng
hạng mục theo từng tháng, quý, năm.
Phòng kế hoạch dự án được chia nhỏ thành các phòng phụ trách từng
mảng riêng như: phòng thiết kế giao thông chịu trách nhiệm thiết kế những
công trình giao thông, …
- Phòng vật tư - thiết bị
Chịu trách nhiệm trước giám đốc công ty về giao nhận và quyết toán
vật tư thiết bị chính, quản lý mua sắm vật liệu phụ, phương tiện và dụng cụ
công cụ cung cấp cho các đơn vị trong công ty thi công các công trình.
- Các phòng thiết kế
Chịu trách nhiệm thiết kế, xây dựng bản vẽ phù hợp với chức năng của
phòng mình. Ví dụ như: phòng thiết kế giao thông chịu trách nhiệm thiết kế
các công trình về giao thông như cầu, đường
- Phòng tài chính kế toán
Là bộ phận cung cấp số liệu, tài liệu cho ban Giám đốc phục vụ điều
hành hoạt động sản xuất, thi công, phân tích các hoạt động kinh tế phục vụ
cho việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh. Phòng tài chính kế toán có
nhiệm vụ:
8
Tham mưu cho Giám đốc thực hiện quyền quản lý, sử dụng tài sản,
vốn, đất đai và các tài nguyên khác, giúp Giám đốc quản lý, điều tiết và phát
triển vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tiến hành phân tích tình hình tài chính của Công ty nhằm hoạch định
chiến lược tài chính của Công ty, tìm và lựa chọn phương án tối ưu nhất về
Phó giám đốc phụ
trách kinh tế
Phòng
vật t
thiết bị
Phòng
thiết kế
giao
thông
Phòng
thiết kế
kiến
trúc
Các đội thi công
Phòng
tài
chính
kế toán
Phòng
thiết kế
hạ tầng
Phòng
thiết kế
thuỷ lợi
KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
Đơn vị: đồng
Chỉ tiêu 2007 2008 2009
1. DT tính thu nhập. 23.352.441.559 18.623.002.109 25.256.245.001
2. Chi phí SX kinh doanh 18.901.307.110 15.897.569.886 23.958.238.882
- Chi phí NVL 15.556.021.300 13.852.362.001 20.338.713.855
vẫn luôn bảo đảm đời sống của anh chi em nhân viên cũng như công nhân thi
công ổn định và ngày càng được nâng cao.
11
Về thu nhập của nhân viên, công nhân trong công ty:
- Thu nhập của một nhân viên trong Công ty đạt từ 1,7 - 2,6 triệu đồng.
- Thu nhập của một lao động từ 1,3 - 3,5 triệu đồng tuỳ công việc và
thời gian lao động.
Biểu 1.1: Tình hình tài chính của công ty trong những năm gần đây.
Đơn vị tính: 1000 đồng.
Năm
Chỉ tiêu
Năm 2009 Năm 2008 Năm 2009
Tổng số tài sản có 159.438.548 168.826.241 195.498.376
Tổng số nợ phải trả 142.090.976 150.457.467 169.060.876
Nguồn vốn chủ sở hữu 17.347.572 18.368.774 26.437.500
Nguồn vốn kinh doanh 16.893.936 17.936.775 25.239.465
Doanh thu thuần 215.487.348 217.504.398 207.385.986
Lợi nhuận sau thuế 3.048.543 3.182.482 3.899.263
Nộp ngân sách 12.058.435 13.098.472 12.847.200
Năm 2009 là năm đầu tiên thực hiện cổ phần hóa, còn nhiều vướng
mắc trong cơ chế quản lý cũng như trong các chính sách kinh tế - tài chính,
tuy nhiên lợi nhuận sau thuế vẫn đạt ở mức khả quan, đời sống của các bộ
công nhân viên ngày càng được cải thiện và nâng cao. Sang năm 2008 lợi
nhuận của Công ty tăng lên một cách đáng kể là 113.939.000 đồng so với
năm 2009. Tuy nhiên đó vẫn chỉ là những bước khởi đầu. Năm 2009 thực sự
là năm đánh dấu mức tăng trưởng vượt bậc tăng 716.781.000 đồng so với năm
2008. Đây là một điều đáng khích lệ, tạo niềm tin cho toàn thể cán bộ công
nhân viên trong Công ty.
Để có những kết quả đáng khích lệ như trên Công ty đã có một hệ
thống chính sách quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hợp lý,
thức tập trung. Theo hình thức này kế toán tại các công trình không hạch toán
mà có nhiệm vụ theo dõi tình hình tăng giảm vật tư, máy móc thiết bị, . . . và
hàng tháng tập hợp số liệu, chứng từ gửi cho phòng kế toán để tập hợp số liệu
chung của Công ty lập báo cáo định kỳ theo đúng quy định của chế độ kế toán.
Bộ máy kế toán của Công ty thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 03: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại phòng Tài chính Kế toán của
Công ty
14
Kế toán trưởng
Kế toán
tiền mặt,
tiền gửi
Kế toán
vật tư,
tiền
lương
Kế toán
TSCĐ,
doanh
thu
Kế toán tổng hợp
kế
toán
ngân
quỹ
và
chứng
Do quy mô của Công ty nhỏ nên bộ máy kế toán khá gọn nhẹ, mỗi nhân
viên kế toán phải phụ trách từ 2 đến 3 phần hành. Chức năng nhiệm vụ của
từng nhân viên trong bộ máy kế toán như sau:
và doanh thu, khối lượng với khác hàng, theo dõi các phiếu giá.
- Kế toán ngân quỹ: Thực hiện việc thu, chi tiền mặt nhanh gọn chính
xác theo đúng chế độ Nhà nước, không để nhầm lẫn mất tiền; Ghi chứng từ
vào sổ quỹ, đối chiếu với kế toán tiền mặt từng chứng từ thu chi và xác định
tồn quỹ; Cuối tháng đối chiếu số dư tiền mặt với kế toán tổng hợp; Đề xuất
với trưởng phòng khi thấy việc lưu giữ tiền không an toàn. Lập các Ủy nhiệm
thu, Ủy nhiệm chi, kiểm tra số dư tại các tài khoản ở các tổ chức tín dụng.
- Kho chứng từ: Giữ chìa khoá kho chứng từ; Thường xuyên kiểm tra
và phun thuốc chống mối mọt, chống ẩm ướt ở các kho lưu giữ chứng từ;
Không cho bất cứ ai xem chứng từ khi chưa có sự đồng ý của trưởng phòng
ngoại trừ Giám đốc công ty.
Ngoài ra mỗi nhân viên kế toán phải theo dõi các công trình được giao;
Tập hợp chi phí toàn bộ công trình theo dõi báo cáo trưởng phòng, giám đốc
hàng tháng: Số tiền đã chi ra (tạm ưng, thanh toán thẳng ); Ca xe máy phục
bị công trình đó (tuỳ từng công trình), vật tư, công cụ, dụng cụ phục vụ công
trình; Kết hợp với kế toán Doanh thu đốc thúc, thu hồi vốn những công trình
được phân giao.
2.2. Tổ chức hệ thống kế toán tại công ty
2.2.1. Các chính sách kế toán chung
Hiện nay Công ty đang áp dụng chế độ kế toán theo Quyết định 15 của
Bộ Tài chính ban hành ngày 20 tháng 3 năm 2006. Trên cơ sở chế độ kế toán
16
hiện hành Công ty đã tiến hành nghiên cứu và cụ thể hoá, xây dựng lại bộ
máy kế toán phù hợp với chế độ và đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty
mình. Cụ thể như sau:
- Niên độ kế toán của Công ty được bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết
thúc vào ngày 31 tháng 12 hàng năm.
- Đơn vị tiền tệ được sử dụng trong hạch toán là đồng Việt Nam. Khi
chuyển đổi các đồng tiền khác sang tiền Việt Nam đồng tại thời điểm phát
sinh theo tỷ giá Ngân hàng Nhà nước công bố trong ngày. Cuối năm tiến hành
lương, phụ cấp, các khoản thu nhập tăng thêm ngoài tiền lương cho CBCNV,
kiểm tra việc thanh toán tiền lương cho CBCNV trong Công ty đồng thời là
căn cứ để thống kê về lao động tiền lương.
+ Bảng kê trích nộp các khoản theo lương: bảng kê khối lượng công
việc hoàn thành; Bảng chấm công làm thêm giờ; Bảng phân bổ tiền lương và
BHXH; Bảng bình bầu A, B, C
- Chứng từ hàng tồn kho: theo dõi tình hình nhập, xuất tồn vật tư, công
cụ, dụng cụ hàng hoá làm căn cứ để kiểm tra tình hính sử dụng và cung cấp
thông tin cần thiết cho việc quản lý HTK.
+ Phiếu nhập kho: Nhằm xác nhận số lượng vật tư, công cụ, dụng cụ,
hàng hoá nhập kho làm căn cứ ghi Thẻ kho, thanh toán tiền hàng, xác định
trách nhiệm của những người có liên quan và ghi vào sổ kế toán.
+ Phiếu xuất kho: Theo dõi chặt chẽ số lượng vật tư, công cụ, dụng cụ,
hàng hoá xuất kho cho các bộ phận sử dụng trong công ty, làm căn cứ để hạch
toán chi phí sản xuất và tính giá thành công trình và kiểm tra việc sử dụng,
thực hiện định mức tiêu hao vật tư.
18
+ Bảng phân bổ nguyên vật liệu; Bảng kê phiếu xuất; Biên bản kiểm
nghiệm: thường được dùng ở các công trình.
- Chứng từ tiền tệ: Theo dõi tình hình thu, chi, tồn quỹ các loại tiền mặt,
ngoại tệ, vàng bạc và các khoản tạm ứng, thanh toán tạm ứng của Công ty.
+ Phiếu thu: Nhằm xác định số tiền mặt, ngoại tệ thực tế nhập từ quỹ
về làm căn cứ để thủ quỹ thu tiền, ghi sổ quỹ, kế toán ghi các khoản thu có
liên quan.
+ Phiếu chi: Nhằm xác định các khoản tiền mặt, ngoại tệ thực tế xuất
quỹ và làm căn cứ để thủ quỹ xuất quỹ, ghi sổ quỹ và kế toán ghi sổ.
+ Uỷ nhiệm chi.
+ Giấy đề nghị tạm ứng: làm căn cứ đề xét duyệt tạm ứng; Giấy thanh
toán tiền tạm ứng; Giấy đề nghị thanh toán; Biên bản kiểm kê quỹ.
- Chứng từ TSCĐ: Biên bản giao nhận TSCĐ, thẻ TSCĐ, biên bản
định và các tài khoản con được mở chi tiết phù hợp dựa trên thực tế hoạt
động. Ví dụ: TK 112 - Tiền gửi ngân hàng: gồm các khoản tiền gửi của Công
ty tại ngân hàng. TK này có 3 tài khoản cấp 2 là: TK 1121 - Tiền Việt Nam,
TK 1122 - Tiền ngoại tệ, trong mỗi tài khoản cấp 2 này Công ty lại chi tiết
cho từng Ngân hàng. Ví dụ như: TK 112101: Tiền gửi tại trụ sở Giao dịch
Ngân hàng đầu tư Phát triển.
2.2.4. Tổ chức vận dụng hệ thống sổ sách kế toán
Do hoạt động trong lĩnh vực xây dựng nên số lượng công trình mà
Công ty đảm nhận không nhỏ và nằm rải rác khắp nơi trên đất nước vì vậy
phát sinh một số lượng chứng từ lớn dẫn tới việc hạch toán kế toán rất phức
20
tạp, để thuận tiện và đơn giản trong việc hạch toán theo dõi và đối chiếu cho
nên hiện nay Công ty áp dụng ghi sổ theo hình thức Nhật ký chung.
Sơ đồ 04: Hính thức Nhật ký chung
Ghi hàng ngày:
Ghi cuối tháng hoặc định kỳ
Quan hệ đối chiếu, kiểm tra
Bên cạnh đó công ty còn áp dụng phần mềm kế toán Fast Accounting
2005 trong hạch toán nhằm giảm bớt khối lượng sổ sách. Theo quyết định 15
Công ty sử dụng những loại sổ: Sổ nhật ký chung, Sổ Nhật ký thu tiền, Sổ
21
Sổ nhhật
ký đặc
biệt
Chứng từ kế toán
Sổ nhật ký chung Sổ, thẻ kế
toán chi
tiết
Sổ cái Bảng tổng
hợp chi tiết
cá chứng từ gốc hợp lệ, hợp lý, hợp pháp tiền hành nhập dữ liệu vào các phân
22
hệ kế toán cho phú hợp với nội dung kinh tế của nghiệp vụ, vào sổ Nhật ký
chung, Sổ chi tiết từng tài khoản. Cuối tháng, chương trình tự động ghi sổ và
lên báo cáo, bảng biểu tổng hợp, lập các bút toán kết chuyển, phân bố chương
trình kế toán tự động chuyển số liệu từ Sổ kế toán chi tiết vào Bảng tổng hợp
chi tiết số phát sinh, chuyển số liệu từ sổ Nhật ký chung vào Sổ cái tài khoản
rồi vào Bảng cân đối số phát sinh (đồng thời kế toán tổng hợp phải đối chiếu
giữa sổ trên máy với sổ theo dõi của kế toán chi tiết). Từ bảng cân đối tài
khoản và Bảng tổng hợp chi tiết số phát sinh là căn cứ để lập Bảng cân đối kế
toán và báo cáo kế toán khác (Báo cáo kết quả kinh doanh, Thuyết minh báo
cáo tài chính).
Do phần mềm kế toán này ra đời trước Quyết định 15 nên có nhiều chỗ
không hợp lý tuy nhiên để tuân thủ theo đúng chế độ kế toán hiện hành Công
ty đã liên tục cập nhập vào phần mềm cho phù hợp.
23
PHẦN 3
MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VỀ TÌNH HÌNH TỔ CHỨC HẠCH TOÁN KẾ
TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN XÂY
DỰNG HẠ TÂNG MỸ ĐÌNH
3.1.Đánh giá tổ chức bộ máy kế toán
Hình thức tổ chức bộ máy kế toán tập trung nên việc hạch toán thống
nhất trong toàn công ty, từ đó tạo được sự chủ động, hài hoà trong công việc.
Các thông tin kế toán luôn đư0ợc phản ánh trung thực, hợp lý, các con số luôn
được tính toán chính xác. Côny tư sử dụng hình thức ghi sổ Nhật ký chung và
phương pháp hạch toán là kê khai thường xuyên phù hợp với tình hình biến
động của vật tư. Số liệu được ghi chép một cách khoa học nên dễ dàng trong
việc kiểm tra, đối chiếu.
Công ty sử dụng phần mền kế toán Fats Accounting 2005 trong hạch
toán đã giảm bớt được công việc kế toán, cũng như hạn chế được những thiếu
pháp sinh”.
3.2.2. Đánh giá thực trạng vận dụng hệ thống tài khoản kế toán
Nhìn chung, hệ thống tài khoản kế toán là sự vận dụng linh hoạt hệ
thống tài khoản được ban hành theo Quyết định số 15/2006/ QĐ- BTC ngày
20/03/2006 của Bộ tài chính ban hành. Bên cạnh đó, công ty còn mở thêm các
tài khoản chi tiết cấp 2, cấp 3 một cách hợp lý, phù hợp với đặc điểm tình
hình sản xuất kinh doanh của mình. Việc sử dụng những tài khoản chi tiết đã
giúp cho công việc kế toán đơn giản đi rất nhiều, giúp cho các kế toán dễ
dàng trong việc tính giá thành sản phẩm cũng như dễ hạch toán trên, chính
xác hơn, tránh được những nhầm lẫn không đáng có, dễ theo dõi các đối
tượng rõ ràng hơn để từ đó đưa ra được những quyết định điều chỉnh cần thiết
25