TỔNG HỢP DẪN XUẤT HALOGEN CỦA PYRROL VÀ KHẢO SÁT HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA MỘT SỐ DẪN CHẤT ACID 3-AMINO-3-ARYL PROPANOIC - Pdf 26

1. Ñaët vaán ñeà 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN KHÁNH PHƯƠNG
TỔNG HỢP DẪN XUẤT HALOGEN CỦA PYRROL
VÀ KHẢO SÁT HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA MỘT SỐ
DẪN CHẤT ACID 3-AMINO-3-ARYL PROPANOIC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ ĐẠI HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN KHÁNH PHƯƠNG
TỔNG HỢP DẪN XUẤT HALOGEN CỦA PYRROL
VÀ KHẢO SÁT HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA MỘT SỐ DẪN CHẤT
ACID 3-AMINO-3-ARYL PROPOPANOIC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ ĐẠI HỌC
Giáo viên hướng dẫn: ThS. ĐỖ THỊ THÚY
Thành phố Hồ Chính Minh – 2010
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AcOH Acid acetic
EtOH Ethanol
EtOAc Ethyl acetat
MeOH Methanol
n-BuOH n-Buthanol
CHCl
3
Cloroform
IR Infrared Spectrophotoscopy
MS Mass Spectrum
NMR Nuclear magnetic resonance
s singlet

Bảng 4.1. Thể tích chân chuột trung bình của 5 lô thử nghiệm trong 5 ngày 58
Bảng 4.2 Độ phù chân chuột của 5 lô thử nghiệm trong 5 ngày 58
Bảng 4.3. Thể tích chân chuột (1/100 ml) của lô trắng và lô chứng tại các thời
điểm khảo sát 59
Bảng 4.4. Độ phù chân chuột (%) của lô trắng và lô chứng qua các thời điểm
khảo sát 59
Bảng 4.5. Độ phù chân chuột (%) của lô trắng và lô chứng và lô chuẩn qua các
thời điểm khảo sát 60-61
Bảng 4.6. Độ phù chân chuột (%) của lô trắng, lô đối chiếu và lô 1b qua các
thời điểm khảo sát 61-62
Bảng 4.7. Độ phù chân chuột (%) của lô trắng, lô đối chiếu và lô 2a qua các
thời điểm khảo sát 62
Bảng 4.8. Độ phù chân chuột (%) của lô trắng, lô đối chiếu và lô 2b qua các
thời điểm khảo sát 63
1. Đặt vấn đề 1
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm là một quá trình bệnh lý khá phổ biến, thường xuất hiện trong nhiều bệnh,
do nhiều nguyên nhân gây ra. Quá trình viêm là hiện tượng bảo vệ cơ thể, nhưng
đôi khi cũng gây tổn thương cho mô nơi viêm và chuyển sang giai đoạn viêm
mãn, gây tổn thương xương, sụn dẫn đến bệnh thấp khớp hoặc có thể dẫn đến
nhiều tổn thương khác. Do đó, cần phải theo dõi và giải quyết kòp thời những
biến chứng có hại trong quá trình viêm.
Trong điều trò về viêm, hai thuốc được sử dụng phổ biến nhất hiện nay là
glucocorticoid và thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs). Hai nhóm thuốc
này đều có những tác dụng phụ riêng và dễ gây khó chòu cho người bệnh trong
việc sử dụng như: loãng xương, suy thượng thận, loét dạ dày….Chính vì thế, việc
nghiên cứu ra những dược chất mới vẫn duy trì được hoạt tính kháng viêm mạnh,
loại bỏ đi những tác dụng phụ và độc tính của nó là một hướng đi đã, đang, và sẽ
được phát triển lâu dài.
Dẫn xuất acid propanoic là một trong các thuốc kháng viêm không steroid hiện

Tiểu đường
Glimepirid
2. Tổng quan 4
Kháng viêm: các pyrrol acetic acid.
Ketorolac (NSAIDs)
Tolmetin (NSAIDs)
Pirprofen
Zomepirac
Các hoạt chất này có nhiều tác dụng khác nhau, đáng chú ý là nhiều chất có
hoạt tính kháng viêm như ketorolac, tolmetin, pirprofen hiện đang có mặt trên
thò trường.
2. Tổng quan 5
2.2. ẢNH HƯỞNG CỦA GỐC THẾ HALOGEN LÊN TÁC DỤNG
CỦA THUỐC [18]
Trong thời gian gần đây, các thuốc có cấu trúc chứa nhóm thế halogen trở nên
khá phổ biến, cứ 3 thuốc lại có 1 thuốc thuộc dẫn xuất halogen. Thực ra trước
đây, đa số các dược phẩm dùng làm thuốc đều có nguồn gốc tự nhiên, vì vậy mà
rất ít dược chất có chứa nguyên tố halogen được sử dụng trong trò liệu. Các dẫn
xuất halogen chỉ thực sự đưa vào sử dụng từ năm 1820, khởi đầu là những dược
chất có tác dụng gây ức chế hệ thần kinh trung ương như cloroform dùng trong
gây mê toàn thân, cloral và bromural dùng trong giảm đau gây ngủ. Từ thế kỷ
20, những nghiên cứu về các dẫn xuất halogen ngày càng nhiều hơn và thực sự
bùng nổ sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Những sản phẩm thế
halogen có nguồn gốc từ tự nhiên cũng bắt đầu xuất hiện, ví dụ như
clotetracycline hay cloramphenicol, những dẫn chất nguồn gốc từ biển hay các
sản phẩm của sự lên men.
Các dẫn xuất halogen có những ảnh hưởng quan trọng lên tác dụng của thuốc,
trong nhiều trường hợp, sự có mặt của nhóm thế halogen sẽ tăng khả năng gắn
kết của thuốc với màng tế bào và tăng tính thấm qua màng, từ đó làm tăng đáng
kể sinh khả dụng của thuốc.

(nM)
X = H 1200
X = Br 200
X = CF
3
100
X = SO
2
CF
3
27
2. Tổng quan 7
bệnh hoặc để sửa chữa lại các tế bào tổ chức bò chấn thương. Dấu hiệu chung
của quá trình viêm là sưng, nóng, đỏ, đau và suy giảm chức năng hoạt động của
vùng bò tổn thương do viêm.
Một cách tổng quát, viêm là phản ứng có lợi, bảo vệ cơ thể. Tuy nhiên trong
nhiều trường hợp, viêm gây ra các bất tiện cho người bệnh, như gây đau đớn,
thoái biến khớp, sụn, suy giảm chức năng hoạt động cơ quan, tổ chức bò viêm…và
trong đa số các trường hợp viêm mãn tính rất khó điều trò.
2.3.2. Triệu chứng của viêm [8]
Viêm có 4 triệu chứng kinh điển:
- Sưng: do ứ đọng dòch xuất, phù viêm.
- Nóng: do sung huyết động, các mạch ứ đầy máu.
- Đỏ: do sung huyết động, các mạch ứ đầy máu.
- Đau: do dòch phù với nhiều tác nhân viêm chèn ép mô và kích thích các
đầu tận của thần kinh cảm giác.
2.3.3. Nguyên nhân gây viêm
 Nguyên nhân ngoại sinh
+ Do vi sinh vật: vi khuẩn, virus, một số loại nấm, các vi sinh vật đơn
bào, kí sinh trùng và côn trùng.

2
, PGE
2
, PGF
2
α. Các prostagladin và leukotrienes có tác dụng
sinh học giống histamine. Histamine được xem là chất trung gian tự nhiên trong
viêm.
Sơ đồ 2.1. Sự chuyển hóa phospholipid trong quá trình viêm
Tác động của histamine:
Gây co thắt cơ trơn của các mạch máu lớn, giãn các tiểu động mạch sau mao
mạch làm tăng lượng máu đến mô.
Co thắt tế bào nội mô gây tăng tính thấm thành mạch.
Chất hóa hướng động bạch cầu thu hút bạch cầu đến nơi viêm.
2. Tổng quan 9
Ngoài ra quá trình viêm còn có sự tham gia của hệ thống bổ thể, hệ thống đông
máu, hệ thống kinin.
2.3.5. Các thuốc kháng viêm [6], [11]
Sơ đồ 2.2. Cơ chế tác động của các thuốc kháng viêm
2.3.5.1. Thuốc kháng viêm steroid:
Các glucocorticoid làm giảm quá trình sưng viêm dù bất cứ nguyên nhân nào (cơ
học, hóa học, nhiễm trùng, tia xạ, miễn dòch ).
Cơ chế hoạt động của glucocorticoid: Receptor của glucocorticoid là receptor nội
bào điều hòa hoạt động gen. Khi receptor này bò kích thích sẽ đưa đến sự thành
lập protein mới là lipocortin. Chất lipocortin này ức chế phospholipase A2 nên
ngừng sản xuất các chất trung gian gây viêm (prostagladin, leukotrien,
interleukin). Glucocorticoid ức chế giai đoạn sớm (phù, lắng đọng sợi fibrin, di
2. Tổng quan 10
trú bạch cầu, hiện tượng thực bào) và giai đoạn muộn (tổng hợp và lắng đọng
collagen) của quá trình viêm. Ngoài ra, glucocorticoid còn ức chế dòng bạch cầu

trong duy trì sự ổn đònh nội môi ở cấp độ mô và tế bào. COX-2 cảm ứng bởi các
cytokin, có vai trò trong quá trình đáp ứng đối với sự viêm và các kích thích sinh
lý khác liên quan đến việc sản xuất các prostagladin gây đau và hỗ trợ cho tiến
trình viêm. Như vậy, sự ức chế chọn lọc COX-2 hơn là COX-1 sẽ cải thiện mối
tương quan giữa lợi ích và nguy cơ của các NSAIDs bằng cách giảm tác dụng
phụ không mong muốn trên dạ dày, trên thận và đồng thời tăng hiệu lực kháng
viêm. Khi đã phân đònh rõ, người ta cũng xác đònh tính chọn lọc tương đối của
NSAIDs hiện có, đồng thời cố gắng phát triển những chất mới có tác dụng
chuyên biệt trên COX-2.
 Cấu trúc hóa học tổng quát của NSAIDs:
Các thuốc NSAIDs có thể chia thành những nhóm phụ dựa trên cấu trúc hóa học
của chúng:
 Salicylates
 Propionic acids (Profens)
 Aryl and heteroaryl acetic acids
 Anthranilates (Fenamates)
 Oxicams (Enol Acids)
 Phenylpyrazolones
 Anilides.
2. Tổng quan 12
Nói chung, các NSAIDs về cấu trúc luôn bao gồm một nhóm mang tính acid
(carboxylic acid, enol) gắn với một cấu trúc thẳng hay nhân thơm. Cấu trúc
chung của các Nsaids được minh họa như sau:
Từ những đặc điểm chung về cấu trúc, các thuốc NSAIDs có những tính chất
chung sau:
- Tất cả đều là những acid hữu cơ khá mạnh với pKa trong khoảng từ 3-5.
Đa số là nhóm acid carboxylic. Nhóm acid là cần thiết cho khả năng ức
chế COX.
- Các NSAIDs khác nhau ở phần thân dầu dựa trên đặc tính thân dầu của
nhóm aryl.

Ketoprofen Naproxen
2. Tổng quan 14
Các dạng chuyển hóa khác của nhóm Profens tùy thuộc vào cấu trúc từng thuốc
riêng biệt.
Thải trừ: Nhóm profens được thải trừ chủ yếu qua nước tiểu ở dạng chuyển hóa.
Ngoại trừ naproxen và flurbiprofen, các thuốc còn lại đều có thời gian bán thải ít
hơn 4 giờ.
2.2.5.3. Các thuốc kháng viêm khác
 Thuốc chống dò ứng
Các thuốc kháng histamin H
1
như pheniramine, cetirizin, loratadin, astermizol
Gần đây, người ta còn nhận thấy tác dụng giảm dò ứng của lactobacillus.
 Men kháng viêm
Các men kháng viêm như α-amylase, protease, serratiopeptidase, alpha-
chymotrypsine, papain, bromelain được sử dụng trong những trường hợp viêm
sau chấn thương hay hậu phẫu. Các men kháng viêm này có khả năng tiêu hủy
protein lạ do các tác nhân gây viêm tạo ra, tuy nhiên tác dụng thực tế trên lâm
sàng vẫn chưa được kiểm chứng.
2.4. CÁC PHƯƠNG PHÁP GÂY VIÊM THỰC NGHIỆM [8]
2.3.1. Gây viêm bằng carrageenin 1%
Winter (1926)
Trước khi gây viêm 1 giờ, cho chuột uống chất khảo sát với thể tích 0,1 ml/10 g
thể trọng. Ở nhóm chứng chuột được uống nước muối sinh lý với cùng thể tích.
Tiêm dung dòch carrageenin 1% liều 0,025 ml vào phần gan bàn chân trái sau
của chuột. Đo thể tích chân chuột trước và sau khi tiêm carrageenin 3 giờ. Tác
động kháng viêm được biểu diễn bằng phần trăm mức độ giảm sưng phù trên lô
thử nghiệm so với lô chứng.

2. Tổng quan 15

Chất gây viêm: lòng trắng trứng.
Chất thử nghiệm được tiêm dưới da với liều lượng thích hợp, sau 30 phút, tiêm
một lần nữa. Ngày sau đó, tiêm dưới da 0,1 ml lòng trắng trứng vào gan bàn
chân sau của chuột. Ở chân còn lại, tiêm 0,1 ml dung dòch NaCl 0,9%. Sau 90
phút, cắt bỏ 2 chân sau của chuột ngay ở khớp gối và đem cân. Đánh giá độ phù
dựa vào độ chênh lệch của 2 chân.
2.3.4. Gây viêm bằng mù tạt dạng hỗn dòch 2,5% trong nước
Chất gây viêm: bột mù tạt dạng hỗn dòch 2,5% trong nước.
Chất thử nghiệm được tiêm dưới da với liều 3 lần/ngày x 3 ngày và một lần vào
ngày thứ tư. Giữa liều đầu tiên và liều thứ 2 trong ngày thứ 3, xác đònh thể tích
chân trái sau của chuột. Sau đó, tiêm 0,1 ml chất gây viêm vào gan bàn chân trái
sau của chuột. Sau 24 giờ đo lại thể tích chân chuột. Kết quả dựa trên độ giảm
thể tích chân chuột sau 24 giờ tiêm mù tạt với thể tích của nhóm chứng được
tiêm dầu oliu.
từ 15-25% được đánh giá là +1
từ 25-50% được đánh giá là +2
từ 50% trở lên được đánh giá là +3.
2.3.5. Gây viêm bằng dextran
Chất gây viêm: Dextran.
Chất thử nghiệm được tiêm dưới da với liều 0,1 ml/10 g chuột. Sau 30 phút,
dextran được tiêm phúc mô với liều 30 mg/kg chuột hoặc tiêm tại chỗ vào gan
bàn chân chuột với liều 0,2 ml dung dòch 6%. Sau mỗi 30 phút, đo thể tích phù
2. Tổng quan 17
một lần. Hiệu số của thể tích chân đo được sau và trước khi tiêm dextran là thể
tích ước lượng độ phù.
2.3.6. Gây viêm bằng hỗn dòch vô khuẩn kaolin 10%
Chất gây viêm: Hỗn dòch vô khuẩn kaolin 10%.
Chất thử nghiệm được tiêm trực tiếp vào khớp xương cổ chân với liều 0,2 ml
chất gây viêm. Trong những giờ sau đó, phản ứng viêm được biểu hiện rõ bởi sự
sưng của khớp và sự thay đổi màu da. Sau 1 giờ, đo lại đường kính của các khớp

methoxybenzaldehyd 1a-c dưới tác dụng của acid malonic và amoni acetat với tỉ
lệ mol 1:1:2 trong dung môi ethanol, sau từ 5-6 giờ đun hồi lưu, sản phẩm acid 3-
amino-3-arylpropanoic 2a-c kết tủa và được lọc tách khỏi sản phẩm phụ là acid
cinnamic tương ứng tan trong dung môi phản ứng. Hiệu suất phản ứng dao động
từ 30-60%.
3.1.2. Tổng hợp các dẫn chất thế pyrrol [12], [17]
Phản ứng Clauson-Kaas tiến hành giữa các acid β-aminopropanoic với tác nhân
2,5-dimethoxytetrahydrofuran đun hồi lưu trong acid acetic băng sẽ đưa đến thay
thế nhóm amin bằng dò vòng pyrrol.
AcOH
N
Ar
COOH
O
H
3
CO
OCH
3
Ar
COOH
NH
2
3. Phương pháp nghiên cứu 19
Sơ đồ 3.2.
Phản ứng được tiến hành trên 3 amin béo 2a-c với tác nhân 2,5-dimethoxyfuran
đun hồi lưu 90 phút trong acid acetic. Các sản phẩm thế pyrrol 3a-c ở vò trí 3
được tạo thành với hiệu suất dao động từ 40-80%.
3.2.2. Brom hóa dẫn chất thế pyrrol [5], [7], [14]
Phản ứng brom hóa acid 3-aryl-3-(1H-pyrrol-1-yl)propanoic acid 3a-c được tiến

3.2.1.3 Sắc ký cột (Column chromatography)
Chất hấp phụ silicagel 40-60μm (Merck) có vai trò pha tónh.
Dung môi khai triển (pha động) di chuyển dọc theo cột sẽ làm di chuyển các cấu
tử của mẫu thử. Do các cấu tử này có độ phân cực khác nhau, vì vậy chúng sẽ bò
giải hấp và di chuyển theo những vận tốc khác nhau. Ngoài ra, khi đi qua cột sắc
ký thì các chất tạp như chất nhựa sẽ bò giữ lại trên cột, do đó chúng ta có thể sử
dụng sắc ký cột để tinh khiết hóa sản phẩm.
3.2.2. Xác đònh cấu trúc
3.2.2.1. Phổ hồng ngoại (Infrared Spectrophotoscopy)
Máy FTIR 8201 (Shimadzu)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status