ĐỊNH HƯỚNG Y TẾ VIỆT NAM 2011-2020 QUA CÁC SỐ LIỆU THỐNG KÊ & TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU - Pdf 26

TỔNG QUAN CHUNG TÌNH HÌNH Y TẾ VIỆT NAM 2001-2010
VÀ ĐỊNH HƯỚNG Y TẾ VIỆT NAM 2011-2020 QUA CÁC SỐ LIỆU
THỐNG KÊ & TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
Tổng quan nhằm cung cấp một bức tranh về tình hình Y tế Việt Nam trong
giai đoạn 2001-2010 để rút ra những cơ hội và thách thức đốI với sức khoẻ của
người Việt Nam hiện nay; trên cơ sở đó thử nêu định hướng cho Y tế Việt Nam giai
đoạn 2011-2020. Tổng quan được chuẩn bị theo 3 tiếp cận là:
1. Tiếp cận hệ thống
2. Tiếp cận dịch tễ học
3. Tiếp cậnh kinh tế học.
Dựa trên 3 tiếp cận này, tổng quan phân tích 4 vấn đề sau đây:
1. Giai đoạn 2001-2010 trong quá trình phát triển của Y tế Việt Nam (phân
tích theo tiếp cận hệ thống)
2. Sức khoẻ và bệnh tật/Yếu tố ảnh hưởng sức khoẻ và bệnh tật giai đoạn
2001-2010 (phân tích theo tiếp cận dịch tễ học)
3. Nhu cầu và cung ứng CSSK/Yếu tố ảnh hưởng cung cầu CSSK giai đoạn
2001-2010 (phân tích theo tiếp cận kinh tế học)
4. Cơ hội và thách thức cho Y tế/Định hướng Y tế giai đoạn 2011-2020
(phân tích tổng hợp)
Tiếp cận hệ thống giúp xác định hệ thống Y tế Việt Nam trong từng giai
đoạn, từng phân kỳ phát triển thuộc mô hình nào trong các mô hình sau đây. Chính
tiếp cận này cho phép phân tích xu thế phát triển, định hướng của một hệ thống Y
tế.
1. Mô hình hệ thống Y tế công kiểu Beveridge (Anh quốc) là một hệ thống
hoàn chỉnh không gắn với hệ thông hành chính, hoạt động bằng ngân sách lấy từ
thuế thu nhập.
1
2. Mô hình hệ thống Y tế xã hội chủ nghĩa kiểu Semasko (Liên Xô) là một hệ
thống do Nhà nước tài chính và cung ứng.
3. Hệ thống Y tế phúc lợi theo mô hình Bismark (Đức, Pháp) là hệ thống Y
tế dựa trên bảo hiểm Y tế toàn dân; mỗi người dân phải đóng bảo hiểm Y tế theo

thống Y tế này đã phải đương đầu với chiến tranh (kháng chiến chống Pháp) và với
các bệnh lưu hành nặng nề như bệnh sốt rét và các bệnh dịch nguy hiểm như dịch
đậu mùa, dịch bại liệt,… Nhà nước chưa thể huy động nhiều nguồn lực công cho Y
tế nên phải động viên lòng yêu nước, huy động các nguồn lực công và tư, huy động
Đông Y và Tây Y, huy động dân Y và quân Y. Ngay từ thời kỳ đầu, ngành Y tế Việt
Nam non trẻ đã chủ trương coi vệ sinh phòng bệnh và nâng cao sức khoẻ là chiến
lược dựa trên các biện pháp có thể lúc đó như tiêm chủng (chủng đậu) và giáo dục
Y tế. Lúc này, nhân lực y tế yếu về chất lượng và thiếu về số lượng. Nhà nước Việt
Nam Dân chủ Cộng Hoà đã phải giải quyết khó khăn nhân lực Y tế bằng cách đào
tạo nhiều loại hình nhân lực Y tế, đã mở ra đào tạo loại hình Y sĩ, đã đưa sinh viên
Y khoa ngay từ những năm đầu ra chiến trường và về địa phương thực hành. Song
song với hệ thống Y tế chính thống kháng chiến, một hệ thống Y tế tạm chiếm theo
kiểu trước năm 1945 (hệ thống Y tế thuộc địa kiểu Pháp) cũng đồng thời hoạt động
tại một số thành phố và thị xã do người Pháp chiếm đóng.
Sau hội nghị Geneve năm 1954, hệ thống Y tế kháng chiến và hệ thống Y tế
tạm chiếm được nhập vào thành một hệ thống Y tế chung tại phía Bắc Việt Nam từ
vĩ tuyến 17. Hệ thống Y tế này được tổ chức theo khuôn khổ của quản lý hành
chính Nhà nước với 3 cấp: quản lý hành chính là trung ương (Bộ Y tế), tỉnh (sở Y tế
tại các thành phố và ty y tế tại các tỉnh) và huyện (phòng Y tế). Một hệ thống phòng
bệnh dần dần được thiết lập với các viện đầu ngành như Viện Vệ sinh Dịch tễ (Viện
3
Pasteur), Viện Sốt rét Ký sinh trùng và Công trùng, Viện Lao và bệnh phổi, v.v...,
các trạm Y tế tại tuyến huyện và các đội phòng bệnh tại tuyến huyện. Một hệ thống
khám chữa bệnh cũng dần dần hình thành với các bệnh viện và các phòng khám
bệnh bao gồm các bệnh viện trung ương, các bệnh viện tuyến tỉnh và các bệnh viện
tuyến huyện (cho các huyện lớn). Hệ thống Y tế cơ sở cũng dần dần được hình
thành với sự thiết lập các trạm y tế xã và các y tế thôn bản. Hệ thống Y tế thôn bản
là một sáng kiến lớn của Việt Nam. Hệ thống Y tế này dựa vào tài chính của các
hợp tác xã; nhân viên của trạm Y tế xã được hưởng công điểm như các xã viên và
làm việc phục vụ nhân dân của xã; nhân dân trong xã đóng góp sức người sức của

sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong xậy dựng xã hội chủ nghĩa và chống
chiến tranh phá hoại. Trong thời gian này, hệ thống Y tế dự phòng đã phát triển
tương đối hoàn chỉnh. Nhiều bệnh dịch đã được khống chế và tiêu diệt như đã sớm
tiêu diệt bệnh đậu mùa, khống chế bệnh sốt rét, bệnh bại liệt, v.v… Cũng trong thời
gian này, hệ thống khám chữa bệnh cũng đã được mở rộng, hầu hết các tỉnh đã có
bệnh viện đa khoa tỉnh tương đối hoàn chỉnh (trên 300 giường bệnh); một số tỉnh có
các bệnh viện chuyên khoa; hầu hết các huyện có bệnh viện đa khoa huyện (trên 50
giường bệnh); ngoài ra có nhiều phòng khám bệnh liên xã. Mạng lưới trạm Y tế xã
bao phủ hầu hết các xã và Y tế thôn bản có mặt ở hầu hết các thôn. Các bệnh viện
có chủ yếu là bác sĩ hoạt động và các trạm Y tế có chủ yếu là Y sĩ hoạt động. Hầu
hết các trạm Y tế xã có quầy thuốc và Y tế xã có túi thuốc. Song song với hệ thống
Y tế xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc (nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà), một hệ
thống Y tế công tư kết hợp đồng thời hoạt động tại các tỉnh phía Nam.
Sau ngày thống nhất đất nước, từ 1975 đến 1989, các tỉnh phía Nam cũng
dần dần xây dựng hệ thống Y tế xã hội chủ nghĩa theo mô hình của miền Bắc. Tuy
nhiên, các tỉnh phía Nam còn cho phép một số phòng khám bệnh tư và cửa hiệu
thuốc tư hoạt động do những đặc điểm của xã hội các tỉnh phía Nam có yêu cầu. Hệ
thống Y tế xã hội chủ nghĩa trên phạm vi cả nước đã góp phần quan trọng vào việc
phục vụ sức khoẻ nhân dân, chống chiến tranh biên giới, khắc phục hậu quả chiến
5
tranh, xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước. Trong thời gian này, Việt Nam đã
đáp ứng tuyên ngôn Alma Ata, thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu nhằm mục tiêu
chiến lược “sức khoẻ cho mọi người năm 2000”.
1.1.3. Giai đoạn Y tế “đổi mới”
Vào cuối thập kỷ 1980, nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Người ta
ví tốc độ của lạm phát trong thời gian này ngang với tốc độ của tên lửa (the rocket
speed inflation) trên nhiều báo chí quốc tế và trong nước. Cả hai miền Nam và Bắc
của đất nước không còn những khoản viện trợ hồi sinh như trước đây. Ngành Y tế
cũng không đứng ngoài khó khăn này. Một số cơ sở Y tế hầu như có thể phải dừng
hoạt động do thiếu ngân sách. Dụng cụ Y tế của hầu hết các bệnh viện đã cũ và

phát triển bền vững.
Giai đoạn đổi mới 1990-2000 đã được GS Phạm Song nêu lên trong tài liệu
“Những vấn đề cơ bản về Y tế, KHHGĐ, vệ sinh môi trường 1990-2000” (Nhà
Xuất bản Y học, 2001). Giai đoạn 2001-2010 là giai đoạn Y tế Việt Nam sau đổi
mới, tiếp sau giai đoạn 1990-2000. Nếu giai đoạn 1990-2000 là giai đoạn thực hiện
đổi mới thì giai đoạn 2001-2010 là giai đoạn hoàn thiện đổi mới theo định hướng xã
hội chủ nghĩa (hướng tới mục đích công bằng, hiệu quả và phát triển). Nếu giai
đoạn 1990-2000 là giai đoạn còn tranh cãi về cái được và cái chưa được của “Đổi
mới”, còn phân vân giữa nên tiếp tục đổi mới hay quay lại hệ thống Y tế trước đây
thì giai đoạn 2001-2010 là giai đoạn khẳng định hướng đi của đổi mới.
1.2. Ba phân kỳ của giai đoạn 2001-2010
Sự khẳng định này có 3 phân kỳ là “Phân kỳ xã hội hoá” (Đỗ Nguyên
Phương), “Phân kỳ quản lý Nhà nước” (Trần Thị Chung Chiến) và “Phân kỳ đáp
ứng xã hội” (Nguyễn Quốc Triệu). Ba phân kỳ này cũng là ba giai đoạn phát triển
của Y tế Việt Nam trong quá trình đổi mới, từ việc huy động nguồn lực xã hội đến
việc quản lý các nguồn lực và đến việc huy động các nguồn lực có thể sử dụng
nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu xã hội về y tế..
7
Trong giai đoạn 2001-2010, ngành Y tế Việt Nam đã phải đương đầu với thử
thách của một số bệnh lây truyền mới là bệnh SARS, bệnh cúm gà (H5N1) và bệnh
cún lợn (H1N1). Việc giữ cho bệnh SARS không lây truyền ra cộng đồng là một kết
quả đáng được kể tới của ngành Y tế Việt Nam.
1.2.1. Phân kỳ xã hội hoá
Ý tưởng cơ bản của “Đổi mới” trong Y tế là ý tưởng xã hội hoá. Sự tranh cãi
về từ ngữ xã hội hoá đã được nêu lên và thảo luận trong nhiều năm; có ý kiến cho
rằng thực chất xã hội hoá ở đây là tư nhân hoá trong thực hiện. Một nghiên cứu cấp
Nhà nước về xã hội hoá Y tế đã thống nhất về định nghĩa của từ ngữ này. Xã hội
hoá được hiểu là “một việc xưa nay chỉ có Nhà nước làm, nay mọi người, mọi gia
đình, mọi tổ chức cộng đồng và xã hội bao gồm cả Nhà nước cùng có trách nhiệm
thực hiện” (Đỗ Nguyên Phương và Phạm Huy Dũng, Nhà Xuất bản Chính trị,

Tổ chức Y tế cũng có sự thay đổi quan trọng với việc lập lại các phòng Y tế
huyện. Như vậy, hệ thống quản lý Y tế lại có ba cấp là cấp trung ương (Bộ Y tế),
cấp tỉnh (các sở Y tế) và tuyến huyện (các phòng Y tế). Nếu ngành Y tế tập trung
quản lý đối với các hoạt động chuyên môn DS-KHHGĐ và HIV/AIDS thì ngược lại
đã phân quyền quản lý đối với các hoạt động quản lý ngành. Việc tổ chức lại quản
lý ngành này cũng đã gây nhiều xáo trộn và tranh cãi lúc đầu. Song, tổ chức quản lý
ba cấp hiện nay cũng đã đi vào hoạt động ổn định. Tổ chức quản lý này tuy phân rõ
được trách nhiệm giữa các bộ phận Y tế tuyến huyện xã; phòng Y tế quản lý (bao
gồm quản lý các trạm y tế xã), bệnh viện và phòng khám bệnh chữa bệnh, trung tâm
Y tế dự phòng huyện thực hiện hoạt động phòng chống bệnh; song tổ chức mới này
lại bị hạn chế trong việc huy động các tuyến, các ngành, các cấp tham gia vào Y tế
tuyến huyện.
1.2.3. Phân kỳ đáp ứng nhu cầu xã hội
Tình hình nhu cầu CSSK ngày một tăng vượt trên mức cung ứng dịch vụ
CSSK, ngày càng trở thành một bức xúc xã hội vào cuối thập kỷ 2001-2010. Tại các
bệnh viện tuyến tỉnh và trung ương, bệnh nhân có khi có chỗ phải nằm 2-3 người
trên một giường bệnh (kê thêm giường vào phòng bệnh). Mặt khác, chủ trương tự
9
chủ bệnh viện khiến cho bệnh nhân dễ dàng vượt tuyến. Trước tình hình này, ngành
Y tê đã tập trung nâng cấp bệnh viện các tuyến, đẩy mạnh phát triển các bệnh viện
tư nhân.
Tình hình nhu cầu mua thẻ BHYT cũng trở nên bức xúc vì BHYT quy định
các tuyến cộng đồng phải có một tỷ lệ nhất định người mua thẻ BHYT để tránh tình
trạng chỉ những người có bệnh mới có nhu cầu mua thẻ BHYT. Như vậy, nhiều
người muốn mua thẻ BHYT nhưng không được mua. Ngành Y tế đã có chủ trương
ai cũng được mua thẻ BHYT và có một số quy định về việc tham gia và hưởng lợi
BHYT.
Việc đáp ứng tức thời nhu cầu xã hội đã làm giảm tình hình căng thẳng, sức
ép của nhu cầu CSSK tăng quá mức so với khả năng đáp ứng. Song việc đáp ứng
tức thời này không bỏ qua những nỗ lực nhằm phát triển Y tế bền vững. Luật

- Tình hình trang thiết bị và nhân lực Y tế trong giai đoạn 2001-2010 ảnh
hưởng đến chất lượng chăm sóc sức khoẻ như thế nào?
Trả lời những câu hỏi này có thể giúp hiểu thêm sự mong đợi về Y tế và giúp
đưa ra một định hướng mong đợi. Đồng thời cũng giúp giải thích ngành Y tế đã
vượt qua những thử thách của thập kỷ 2001-2010 như thế nào về các vấn đề: Phân
tầng xã hội giầu nghèo, Cách biệt thành thị và nông thôn, Đô thị hoá/công nghiệp
hoá, Môi trường tự nhiên và xã hội nổi lên nhiều vấn đề lo ngại, Lối sống ảnh
hưởng đến sức khoẻ và bệnh tật còn nhiều nguy cơ, Thay đổi khí hậu tác động xấu
đến bệnh tật, Nhiều bệnh dịch mới: HIV, SARS, H5N1, H1N1, ...
Với mô tả diễn biến hệ thống y tế như trên, với phân tích về về khuôn khổ ý
tưởng (quan niệm) Y tế của giai đoạn 2001-2010, với cách đặt vấn đề tiếp cận của
tổng quan này, việc mô tả và phân tích tình hình y tế của giai đoạn 2001-2010 bắt
đầu bằng phân tích tình hình sức khoẻ và bệnh tật cũng như các yếu tố ảnh hưởng
đến sức khoẻ và bệnh tật của giai đoạn 2001-2010. Tình hình sức khoẻ và bệnh tật
cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến tình hình này sẽ nêu lên nhu cầu về CSSK.
11
2. SỨC KHOẺ VÀ BỆNH TẬT / YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG SỨC KHOẺ VÀ
BỆNH TẬT 2001-2010 (Phân tích dịch tễ học)
2.1. Sức khoẻ và bệnh tật
 Chỉ số sức khoẻ
Để trả lời câu hỏi “Tình hình sức khoẻ của người Việt Nam trong giai đoạn
2001-2010 có được cải thiện không?” và “Sức khoẻ của người Việt Nam so với
những quốc gia khác được thể hiện như thế nào?”, tổng quan này đưa ra các số liệu
về các chỉ số sức khoẻ diễn biến trong thập kỷ 2001-2010, so sánh các số liệu này
với chỉ tiêu sức khoẻ thiên niên kỷ và so sánh số liệu này với số liệu của các quốc
gia khác. Để trả lời câu hỏi “Tình hình phân tầng giầu nghèo trong thu nhập tại Việt
Nam có ảnh hưởng đến sức khoẻ và bệnh tật không?”, tổng quan này so sánh số liệu
liên quan đến mô hình bệnh tật của các nhóm thu nhập
Thực hiện các mục tiêu quốc gia
Có 7 mục tiêu quốc gia là:

đạt, nhất là về chiều cao. Điều này nói lên việc chống suy dinh dưỡng do thiếu calo
đã có nhiều kết quả, song chống suy dinh dưỡng thể thấp còi còn có nhiều vấn đề
phải tính toán. Và, suy dinh dưỡng thể thấp còi là điểm cần quan tâm của phát triển
con người Việt Nam
 Tuổi thọ so sánh
So sánh quốc tế về tuổi thọ
80
75 Xr Lanka Mã-Lai
70 Việt Nam Trung Quốc Thái Lan
65 In-đô Philippin
60 Ấn-độ
55 Lào
50 Campuchia
45
2.000 4.000 6.000 8.000 10.000
Tổng thu nhập quốc gia bình quân đầu người (PPP$)
13
Nguồn: Các chỉ tiêu phát triển thế giới, 2005, WHO
So sánh tuổi thọ với nhiều nước trong khu vực thấy Việt Nam có tuổi thọ cao
hơn so với nhiều quốc gia có cùng mức thu nhập.
 Mô hình bệnh tật
Để trả lời câu hỏi: “Diễn biến kinh tế xã hội của Việt Nam có ảnh hưởng đến
mô hình bệnh tật không và ảnh hưởng như thế nào?”, tổng quan đưa ra các số liêu
liên quan đến tình hình các bệnh truyền nhiễm, tình hình các bệnh không truyền
nhiễm và tình hình các bệnh.
Xu hướng thay đổi mô hình bệnh
Mô hình bệnh tật với bệnh lây nhiễm cao nói lên tình hình phát triển thấp,
với bệnh không lây nhiễm cao nói lên tình hình phát triển cao hơn, với tai nạn, chấn
thương và ngộ độc cao nói lên sự phát triển chưa được quản lý tốt.
Xu hướng thay đổi mô hình bệnh

nhiễm
Bệnh
không
lây
nhiễm
Tai
nạn
Già
trên 70
tuổi
Khác Tổng n
Nghèo 5,0 19,9 34,6 12,2 20,4 7,8 100,0 642
Trung
bình
2,4 11,6 49,8 9,5 23,0 3,8 100,0 747
Giầu 2,1 9,2 51,1 11,0 24,0 1,8 100,0 1.087
Nguồn: Điều tra mức sống quốc gia 2004, TCTK, 2006
Nhóm nghèo có chết so sinh cao hơn nhóm giàu, bệnh lây nhiễm cao hơn
nhóm giàu, bệnh không lây nhiễm thấp hơn nhóm giàu, tai nạn cao hơn nhóm giàu,
15
số người già trên 70 thấp hơn nhóm giàu. Như vậy, nhóm nghèo phát triển chậm
hơn nhóm giàu.
Như vậy, các chỉ số sức khoẻ toàn dân có tốt lên do đời sống kinh tế xã hội
được cải thiện. Song, nhóm người nghèo vẫn có tình hình sức khoẻ kém hơn so với
nhóm người giàu. Điều này có thể có người cho là phải chấp nhận, song nhìn theo
góc độ quyền được có sức khoẻ của mỗi người thì đây là một vấn đề cần quan tâm.
2.2. Yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ và bệnh tật
 Yếu tố kinh tế
Trong phân tích trên cho thấy nhóm nghèo thu nhập thấp có tình trạng sức
khoẻ kém hơn so với nhóm giàu thu nhập cao. Qua số liệu kinh tế khoảng cách thu

điều tra dân số về hôn nhân, mức sinh và mức chết 1999-2004 của Uỷ Ban quốc gia
DS-KHHGĐ.
Mặt khác, tình hình di cư trong nước không chỉ tác động đến sức khoẻ của
người di cư, mà còn tác động đến sức khoẻ của cộng đồng mà người di cư đến nhập
cư. Khả năng miễn dịch chống trả lại các bệnh lưu hành (như sốt rét, viêm não Nhật
Bản B) của người di cư thường yếu hơn người địa phương. Người dân di cư cũng
có thể mang mầm bệnh đến vùng nhập cư. Việc di cư thường còn kèm theo những
vấn đề xã hội không mong muốn ảnh hưởng đến sức khoẻ.
Với sự phát triển kinh tế, tình hình di cư đang xảy ra với tốc độ nhanh, chỉ từ
tháng 4/2004 đến tháng 3/2005 cả nước đã có 240 ngàn người di cư (chưa kể những
con số chưa đăng ký được). Có những vùng nhập cư thuần như Tây Bắc và Đông
Nam Bộ. Có những vùng xuất cư thuần như Nam Trung Bộ và Bắc Trung Bộ. Di cư
nông thôn ra thành thị chiếm 60%; di cư từ nông thôn đến nông thôn chiếm 38%. Số
di cư thành thị không đáng kể. Di cư nói chung nhằm đi học hay đi tìm kiếm công
việc làm. Phân tích này có số liệu lấy từ nguồn số liệu của Tổng cục Thống kê
(2006): Điều tra biến động dân số và KHHGĐ 1/4/2005.
 Yếu tố trình độ học vấn
17
Trình độ học vấn là một yếu tố tác động đến sức khoẻ đã được chứng minh
qua nhiều nghiên cứu trong nước và quốc tế. Một tài liệu từ năm 1992 đã đưa ra
nhiều minh chứng cho nhân xét này
1
. Một nghiên cứu (SAVY, 2003) cho thấy tỷ lệ
biết chữ trong thập kỷ qua đã tăng lên và trình độ văn hoá năm 2003 được nhận xét
như dưới đây
Trình độ văn hoá 2003
Trình độ Tỷ lệ
Mù chữ 3,0
Chưa xong tiểu học 8,4
Tiểu học 34,4

lệ các bệnh như thương hàn hay viêm gan siêu vi trùng đều cao tại huyện Thanh Trì
(Nguồn: Thời báo Tài chính Việt Nam 6/5/2003).
Cùng với sự quá trình công nghiệp hoá, khối lượng chất thải ngày càng lớn.
Theo một báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2006), cả nước có trên 70 khu
công nghiệp và trên 1000 bệnh viện hàng ngày thải ra sông hàng triệu m2 nước thải.
Theo một báo cáo khác cũng của Bộ Tài nguyên và Môi trường, thường xuyên có
trên 4000 doanh nghiệp đang đổ nước thải ra sông, trong đó có 284 cơ sở sản xuất
kinh doanh, 15 kho thuốc bảo vệ thực vật, 3 khu tồn lưu chất độc hoá học gây ô
nhiễm nghiêm trọng cần phải xử lý. (Nguồn: Diễn biến môi trường Việt Nam, chất
thải rắn, WB, CIDA, Bộ Tài nguyên Môi trường, 2005)
19
Các cơ sở công nghiệp và bệnh viện còn có chất thải rắn làm ô nhiễm môi
trường, nhất là các cơ sở bệnh viện vì chất thải rắn bệnh viện và tác nhân lây nhiễm
chứa trong nó không những là nguy cơ cho môi trường và sức khoẻ của cộng đồng
mà còn ảnh hưởng đến nhân viên Y tế và bệnh nhân. Ngoài ra, môi trường bệnh
viện còn là nguồn lây bệnh do công tác vệ sinh trong bệnh viện chưa được tăng
cường.. (Nguồn: Báo cáo Thực trạng vệ sinh môi truờng các cơ sở Y tế, Cục Y tế
Dự phòng, BYT, 2005).
Việc hồi phục và phát triển các làng nghề chưa quan tâm đến môi trưòng
cũng đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng. Đầu năm 2006, cả nước có 1.450
làng nghề; 67,3% ở đồng bằng Sông Hồng. Một điều tra cho thấy 100% mẫu nước ở
các làng nghề đều bị ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép. Hàng năm, làng nghề ở các
tỉnh phía Bắc thải ra môi trường 2.200 tấn chất thải nguy hại; các làng nghề ở các
tỉnh miền Trung thải ra môi trường 220 tấn chất thải nguy hại. Một số làng nghề sản
xuất vật liệu xây dựng, gốm, sứ, nhựa, kim loại gây ô nhiễm bởi khói, bụi, mùi hôi.
Một số làng nghề sử dụng hóa chất như vải sợi, mạ kim loại, tái chế chì, nhôm,
đồng, đồng, kẽm, nhựa, giấy thì khả năng gây ung thư, nhiễm độc kim loại cao.
Một điều tra cho thấy có một số làng có tên gọi là làng ung thư. Thật ra hiện
nay cũng chưa có thể quy kết nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng một số làng có tỷ
lệ bệnh ung thư cao, tỷ lệ chết do ung thư cao. Song, hiện tượng nay cũng cần được

1991; 30
hiện mắc
Xã Yên Lập Gan, phổi ,
đại tràng
Kho thuốc
trừ sâu, ô
nhiễm nước
giếng
Viêm gan B
Hà Tây Thôn Lưong
Đình, xã Bắc
Sơn
U vú 80 phụ nữ
Thôn Thống
Nhất, xã Đông
Lộ
Phổi, gan,
dạ dày, vòm
họng
Sông Nhuệ
gây ô
nhiễm nước
tưới tiêu và
sinh hoạt;
22 chết
trong 10
năm
21
thạch tín
trong nước

chết, 15
chết do ung
thư gan
Nguồn: Báo cáo Y tế 2006, BYT
Những con số trên cho thấy tuổi thọ của con người cũng như tình hình bệnh
tật không phải chỉ phụ thuộc vào Y tế phòng bệnh và chữa bệnh mà còn phụ thuộc
vào các yếu tố môi trường. Việc quản lý môi trường và thanh khiết môi trường đòi
hỏi có sự hợp tác chặt chẽ giữa ngành môi trường và ngành Y tế. Và, sự kết hợp này
hiện nay trên văn bản có nhiều, song trong hoạt động thực tế chưa thấy có sự hợp
tác cụ thể. Ngay trong khoa học về vệ sinh môi trường và bảo vệ môi trường cũng
chưa thể hiện sự lồng ghép cần thiết. Ngành môi trường và ngành sức khoẻ môi
trường có thể là hai ngành chuyên môn có những vấn đề quan tâm khác nhau, song
vì sức khoẻ của con người, vì sự phát triển của con người Việt Nam, vấn đề hợp tác
của hai ngành là cần thiết.
 Yếu tố an toàn xã hội
Các yếu tố liên quan đến an toàn xã hội bao gồm:
22
- Tại nạn thương tích (trong cộng đồng, do bạo lực gia đình, trong giao
thông, trong lao động)
- Ngộ độc (thực phẩm, hoá chất). Trong 10 năm (1989-1999), tai nạn thương
tích đã tăng gấp 4 lần. làm 43.000 người chết và 137.000 người bị thương (Báo cáo
Y tế 2006, BYT). Theo số liệu thống kê bệnh viện năm 2003, tỷ lệ chết do tai nạn
chấn thương và ngộ độc đã vượt qua tỷ lệ chết do các bệnh truyền nhiễm; số người
nhập viện do tai nạn chấn thương và ngộ độc tuy chưa vượt quá số người bị bệnh
truyền nhiễm, song có xu thế tăng lên (Nguồn: Niên giám thống kê Y tế 2005)
 An toàn và tai nạn chấn thương
Tai nạn thương tích ở trẻ em đã trở thành một lo ngại của Y tế công cộng.
Theo kết quả điều tra Y tế quốc gia (2003) thấy 75% tử vong trẻ am là do tai nạn
thương tích; chỉ có 12% do bệnh lây nhiễm và 15% do bệnh mãn tính. Nguyên nhân
tử vong có nhiều, song đáng chú ý hơn cả là các nguyên nhân có thể phòng tránh

1.407 vụ bạo lực được xét xử có 50% trường hợp là bạo lực đối với trẻ em. Theo
một số liệu điều tra của Ban Khoa Giáo Trung ương và Đoàn Thanh niên Công sản
Hồ Chí Minh năm 1993-1997 có 1000 trường hợp bạo lực trẻ em bị xét xử ở toà án
tối cao và 2.644 trường hợp bị xét xử ở toà án địa phương
Tai nạn thương tích trong giao thông đang ngày một tăng cùng với số xe máy
và xe ôtô đang tăng. Theo Uỷ ban An toàn Giao thông Quốc gia, tỷ số tử vong toàn
quốc khoảng 11 ca tử vong trên 100.000 xe gắn máy (tương tự với số liệu của một
số quốc gia khác tại vùng Đông Nam Á). Trong khoảng 10 năm (1995-2005), số các
vụ tai nạn giao thông đâm xe tăng 38%, bị thương tăng 52% và tử vong tăng 37%.
Một số nghiên cứu cho thấy tai nạn giao thông có tỷ lệ gây thương tổn vùng đầu
mặt cổ rất cao; tại TP Hồ Chí Minh là 37%, tại Thái Nguyên là 62%, tại Lâm Đồng
là 26%, tại Thái Bình là 30,5%. Theo số liệu của bệnh viện Việt Đức năm 2001,
81% chấn thương sọ não là do tai nạn giao thông.(Nguồn: Báo cao Y tế 2006,
BYT).
24
Tai nạn thương tích trong nghề nghiệp cũng là một vấn đề lớn hiện nay. Tai
nạn lao động gây thiệt hại về người và cơ sở vật chất. Tai nạn có khuynh hướng
phát triển phức tạp nhất là đối với các doanh nghiệp nhỏ. Theo niên giám của Bộ
Lao động thương binh Xã hội trong các năm 2002, 2003 có 3.896 vụ tai nạn lao
động khiến cho 4.089 người bị nạn và 513 người tử vong. Theo thống kê của Y tế
các cơ sở công nghiệp, nhũng con số này cao hơn.
Nội dung Tai nạn lao dộng
2002 2003 2004
Tổng số vụ tai nạn 4298 3896 8031
Tổng số người bị tai nạn 4521 12566
Số tử vong 514 513 172
Số tàn phế 103 24
Số trợ cấp 278 88
 An toàn thực phẩm và mỹ phẩm
Thực phẩm không an toàn đang là vấn đề lo lắng gây bức xúc trong xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status