SKKN Ứng dụng bản đồ tư duy trong giảng dạy Âm nhạc ở trường THCS - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG GIẢNG DẠY ÂM NHẠC
Ở TRƯỜNG THCS"
PHẦN THỨ NHẤT – ĐẶT VẤN ĐỀ
I – Cơ sở khoa học của sáng kiến kinh nghiệm
1- Cơ sở lý luận:
Có thể nói, nền giáo dục nước ta đã trải qua hai giai đoạn cơ bản và hiện nay đang
trong giai đoạn tiến tới giai đoạn thứ ba. Nếu ở hai giai đoạn trước, với chủ trương lấy
người thầy là hạt nhân, trung tâm của mô hình và quá trình giáo dục với hình thức “ thầy
giáo chỉ đạo toàn diện học tập của học sinh” thì ở giai đoạn mới này chúng ta đã tiến
thêm một bước và sự có thay đổi cơ bản mà trung tâm của quá trình giáo dục là đối tượng
học sinh.
Luật giáo dục điều 28.2 đã nêu “ phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy
tính tính cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng
lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng, vận dụng kiến thức
vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Như vậy để đáp ứng điều này trong dạy – học, buộc các nhà giáo phải thay đổi phương
pháp giáo dục sao cho phù hợp với nhu cầu và quá trình học tập của học sinh, đáp ứng
được yêu cầu xu thế phát triển của thời đại, góp phần đào tạo con người theo hướng có đủ
Đức - Trí - Thể - Mỹ.
Chúng ta đã biết, nhiệm vụ cơ bản nhất của mọi hình thái giáo dục là truyền đạt
kiến thức cho học sinh. Kiến thức được giáo viên nghiên cứu và lĩnh hội trước sau đó mới
truyền tải các kiến thức này cho học sinh. Việc truyền tải đó được diễn ra như thế nào,
bằng phương tiện nào, phương thức nào không phải là vấn đề mà điều quan trọng nhất là
những thông tin, kiến thức phải được truyền tải một cách đầy đủ, chính xác.
Trên thực tế khi truyền đạt kiến thức đến học sinh, giáo viên được phép sử dụng bất
cứ phương pháp (có thể là thuyết trình, giảng giải hay kể cả là đọc – chép) và loại
phương tiện giáo dục nào để có thể đạt được mục đích của mình (có thể là bảng đen,
phấn, thước kẻ, các dụng cụ thí nghiệm, các vật mẫu).
Nếu ở hình thái giáo dục cũ, một giáo viên lên lớp sẽ giảng giải, thuyết trình (hay

để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh. BĐTD đã thể hiện ra
bên ngoài cách thức mà não bộ chúng ta hoạt động. Đó là liên kết, liên kết và liên kết.
Mọi thông tin tồn tại trong não bộ của con người đều cần có các mối nối, liên kết để có
thể được tìm thấy và sử dụng. Khi có một thông tin mới được đưa vào, để được lưu trữ và
tồn tại, chúng cần kết nối với các thông tin cũ đã tồn tại trước đó. Khác với máy tính,
ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi nhớ theo 1 trình tự nhất định chẳng hạn như
trình tự biến cố xuất hiện của 1 câu truyện) thì não bộ còn có khả năng liên lạc, liên hệ
các dữ kiện với nhau. BĐTD khai thác cả hai khả năng này của bộ não.
Đây là một kĩ thuật để nâng cao cách ghi chép. Bằng cách dùng giản đồ ý, tổng thể
của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình trong đó các đối tượng thì liên hệ với nhau
bằng các đường nối. Với cách thức đó, các dữ liệu được ghi nhớ và nhìn nhận dễ dàng và
nhanh chóng hơn.
Thay vì dùng chữ viết để miêu tả một chiều BĐTD biểu thị toàn bộ cấu trúc chi tiết
của một đối tượng bằng hình ảnh hai chiều. Nó chỉ ra dạng thức của đối tượng, sự quan
hệ tương hỗ giữa các khái niệm (hay ý) có liên quan và cách liên hệ giữa chúng với nhau
bên trong của một vấn đề lớn.
BĐTD thể hiện vấn đề một cách đơn giản nhưng chi tiết, chỉ cần nhìn hình đã hiểu,
không cần diễn giải dài dòng, cũng không cần quan tâm đến "mục đích, yêu cầu, ý nghĩa"
vốn nhiều khi chỉ mang tính công thức.
BĐTD dễ hình dung, dễ áp dụng, xin hãy xem minh họa này. Với việc đơn giản
nhất là shopping mà cũng có thể vẽ bản đồ thế này, nói gì những vấn đề nghiêm túc như
dạy – học.
Ở vị trí trung tâm sơ đồ là một hình ảnh hay một từ khóa thể hiện một ý tưởng hay
khái niệm chủ đạo. Ý trung tâm sẽ được nối với các hình ảnh hay từ khóa cấp 1 bằng các
nhánh chính, từ các nhánh chính lại có sự phân nhánh đến các từ khóa cấp 2 để nghiên
cứu sâu hơn. Cứ thế, sự phân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm hay hình ảnh luôn được
nối kết với nhau. Chính sự liên kết này sẽ tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả về ý
trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng.
BĐTD rất logic, mạch lạc mà tư duy cần nhất điều này.
BĐTD rất trực quan, thể hiện rõ mọi liên hệ, liên kết, quan hệ từ cái gì đến cái

địa phương cũng như của phòng giáo dục huyện.
Theo luật giáo dục điều 28.2 đã nêu “ phương pháp giáo dục phổ thông phải phát
huy tính tính cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của
từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng, vận dụng kiến
thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học
sinh”. Với chủ trương đó, những năm gần đây, Bộ giáo dục và đào tạo, Sở giáo dục và
đạo tạo tỉnh Hưng Yên, Phòng giáo dục và đạo tạo huyện Phù cừ cũng như trường THCS
Tống Trân thường xuyên tổ chức triển khai, tập huấn và áp dụng những phương pháp
mới vào dạy học.
Nhằm đổi mới phương pháp dạy học bắt kịp với yêu cầu của thời đại, từ năm học
2011 – 2012 ngành giáo dục các cấp đã triển khai đồng loạt việc ứng dụng bản đồ tư duy
trong dạy học ở các trường phổ thông. Hưởng ứng phong trào đó, toàn trường THCS
Tống Trân đã đẩy mạnh việc ứng dụng BĐTD trong công tác và giảng dạy. Thường
xuyên tổ chức các chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyên đề về BĐTD, bên cạnh đó
các giáo viên còn tự học, tự nghiên cứu qua các tài liệu, sách tham khảo và tích cực ứng
dụng BĐTD trong các tiết dạy của mình, đây cũng chính là nhiệm vụ trọng tâm, là tiêu
chí thi đua của mỗi giáo viên trong nhà trường.
Về cơ sở vật chất, trong những năm gần đây nhà trường đã ngày càng được trang bị
đầy đủ về trang thiết bị dạy - học: Có nhiều máy tình với cấu hình khá mạnh và được nối
mạng internet, có máy chiếu projector…
Học sinh rất hứng thú với các môn học có áp dụng các phương pháp mới đặc biệt là
ứng dụng BĐTD vào dạy học trong đó có môn âm nhạc.
Đó thực sự là những điều kiện thuận lợi để thực hiện đề tài SKKN ứng dung BĐTD
trong dạy - học môn âm nhạc ở trường THCS.
* Về nhược điểm (khó khăn):
Trực tiếp giảng dạy môn âm nhạc ở trường THCS Tống Trân và được thâm nhập ở
một số trường THCS khác về môn học âm nhạc. Bản thân tôi thấy rõ thực trạng của việc
dạy môn âm nhạc còn hạn chế và có nhiều bất cập đặc biệt là các phân môn mang tính lí
thuyết trong giảng dạy.
Quy trình soạn giảng một tiết âm nhạc có ứng dụng BĐTD còn phức tạp vì đặc thù

THCS. Theo tôi, chương trình sách giáo khoa mới đã có rất nhiều điểm tích cực, qua cách
dạy và học đó học sinh đã được tư duy trực quan bằng nhiều thao tác, phát huy tốt các
năng lực của bản thân nhưng thực tế nếu ta chỉ dạy đơn thuần theo đúng nội dung từng
bài học đương nhiên đã cung cấp được các kiến thức cơ bản cho học sinh xong để phát
huy tối đa và biến những năng lực âm nhạc của học sinh thành khả năng cảm thụ và thái
độ yêu thích âm nhạc thì người giáo viên cần phải tìm ra những phương pháp dạy tối ưu
nhất, phù hợp nhất với từng đối tượng học sinh của mình.
Khi nghiên cứu và ứng dụng các phương pháp mới trong công tác giảng dạy để
tăng hứng thú cho học sinh trong học tập môn âm nhạc, tôi tự nhận thấy mình cần nghiên
cứu, tìm hiểu và áp dụng nhiều hơn, triệt để hơn kĩ thuật sử dụng BĐTD. Trong đề tài
này, những vấn đề đưa ra cho dù vẫn còn trong phạm vi rất nhỏ nhưng tôi viết sáng kiến
kinh nghiệm với đề tài " Ứng dụng BĐTD trong dạy – học môm âm nhạc ở trường
THCS" với mong muốn cùng chia sẻ và trao đổi những kinh nghiệm giảng dạy của bản
thân với các đồng nghiệp mong qua đó sẽ tìm được những lời giải hay nhất, phương pháp
tốt nhất nhằm khắc phục được những vấn đề còn tồn tại trong dạy và học môn âm nhạc.
Với thực trạng về kĩ năng và hứng thú học, tìm hiểu về âm nhạc của học sinh
trường THCS Tống Trân nơi trực tiếp giảng dạy, qua đề tài này tôi muốn tìm ra phương
pháp tối ưu nhất để phục vụ, hỗ trợ cho công việc giảng dạy của mình, nhằm giúp cho
học sinh có được những kĩ năng cơ bản đặc biệt là có hứng thú với việc học âm nhạc nói
chung và các phân môn lí thuyết âm nhạc nói riêng.
III - Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu:
1- Đối tượng nghiên cứu
Đây là đề tài "Ứng dụng BĐTD trong dạy – học môm âm nhạc ở trường THCS"
vì vậy đối tượng nghiên cứu là học sinh và môn âm nhạc trường THCS ( từ lớp 6 đến lớp
8)
2- Phạm vi nghiên cứu:
Tại trường THCS Tống Trân (gồm các lớp 6A, 6B, 7A, 7B 8A và 8B).
IV - Kế hoạch và phương pháp nghiên cứu:
1. Kế hoạch nghiên cứu:
+ Thời gian nghiên cứu và thực nghiệm đề tài kinh nghiệm "Ứng dụng BĐTD

viên được giảm nhẹ việc viết bảng hay việc phải thuyết giảng “chay” mà thay vào đó giáo
viên có điều kiện tăng cường trao đổi, đối thoại thảo luận với học sinh, kiểm soát, thu hút
và kích thích ý thức khám phá tri thức và khả năng sáng tạo của học sinh.
Qua quá trình nghiên cứu và áp dụng thử nghiệm tôi nhận thầy để làm tốt việc ứng
dụng BĐTD vào giảng dạy môn âm nhạc ở trường THCS ta cần chú ý đến một số vấn đề
sau:
+ Một là: Bản đồ tư duy - Tác dụng và nguyên lí sử dụng trong dạy học.
+ Hai là: Ứng dụng BĐTD trong dạy - học môn âm nhạc.
+ Ba là: Quy trình ứng dụng BĐTD trong dạy - học môn âm nhạc.
+ Bốn là: Các thiết bị, công cụ hỗ trợ dạy - học âm nhạc với BĐTD.
(Các phần mềm hỗ trợ trong ứng dụng BĐTD trong dạy học).
* Bốn vấn đề nêu trên cũng chính là những nội dung nghiên cứu mà đề tài “Ứng
dụng BĐTD trong dạy – học môn âm nhạc ở trường THCS” đề cập đến.
II - Thực trạng việc dạy học âm nhạc ở trường THCS.
Qua tìm hiểu và nghiên cứu về thực trạng việc áp dụng các phương pháp mới trong
dạy học âm nhạc tôi nhận thấy hầu hết các giáo viên âm nhạc trong huyện hiện nay chủ
yếu vẫn áp dụng các phương pháp dạy học cũ (đặc biệt là các nội dung lí thuyết), học
sinh thì tiếp nhận theo kiểu nghe, ghi chép mà có thể không hiểu và quên ngay kiến thức
sau tiết học. Thực trạng này là khá phổ biến (ví dụ: trong cuộc thi Tài trí học trò cấp
huyện có câu hỏi “Các em được nghe một đoạn nhạc và cho biết đó là bài hát nào, do ai
sáng tác?”. Hầu hết các em không viết chính xác tên bài hát chứ nói gì đến tác giả trong
khi thực tế thì bài hát đó các em mới được học tuần trước).
* Cấu trúc (minh họa theo phương pháp dạy học cũ)
Có thể nói phương pháp dạy học đó là phương pháp truyền tải và tiếp nhận thông
tin theo kiểu một chiều, không gây được hứng thú và càng không phát huy được tính tích
cực của học sinh.
* Quy trình dạy và học (ví dụ minh họa với phân môn Âm nhạc thường thức)
+ Giới thiệu bài.
- Giáo viên giới thiệu bài.
- Học sinh nghe.

1.1- Bản đồ tư duy:
Bản đồ tư duy (BĐTD) là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở
rộng và đào sâu các ý tưởng. BĐTD một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả
nó là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù
hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm năng
vô tận của bộ não.
1.2- Tác dụng của BĐTD trong dạy - học:
Cơ chế hoạt động của BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới
liên tưởng (các nhánh). BĐTD là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên hệ với nhau vì
vậy có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi
tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi bài, mỗi chương.
a- Tác dụng trong giảng dạy:
Để giảng dạy theo BĐTD, giáo viên có thể chủ động vẽ hình trên bảng rồi cho học
sinh tiếp tục lên phân nhánh sơ đồ hay để học sinh chia thành từng nhóm nhỏ rồi tự vẽ sơ
đồ theo cách hiểu của mình sau đó giáo viên chỉ cần định hướng, kết luận lại từng nội dung
cho học sinh.
Bản đồ tư duy thực chất là một sơ đồ mở không theo một khuôn mẫu hay tỷ lệ nhất
định mà là cách hệ thống kiến thức tạo ra một tiết học sinh động, đầy màu sắc và thực sự
hiệu quả. Giảng dạy theo BĐTD phát huy tính tích cực nhiều nhất trong các giờ ôn tập.
Khi học sinh trở thành chủ thể thành nhân vật trung tâm trong mỗi tiết học, các em sẽ trở
nên hào hứng và hăng say hơn trong học tập.
Với BĐTD, giáo viên thực sự trở thành người hướng dẫn, hỗ trợ học sinh. Trước
đây, giáo viên vẫn thường sử dụng sơ đồ để hệ thống kiến thức cho học sinh nhưng học sinh
vẫn là người tiếp thu một cách thụ động. Với việc giảng dạy bằng BĐTD, nhất là cho học
sinh tự phát huy khả năng sáng tạo của mình bằng cách tự vẽ, tự phân bố và thể hiện nội
dung bài học qua sơ đồ sau đó yêu cầu các bạn khác bổ sung những phần còn thiếu. Kết thúc
bài giảng, thay vì phải ghi chép theo cách truyền thống, học sinh có thể tự “vẽ” bài học theo
cách hiểu của mình với nhiều màu sắc và hình ảnh khác nhau. Đến tiết học sau, chỉ cần nhìn
vào sơ đồ, các em có thể nhớ được những phần trọng tâm của bài học.
VD: Tiết 27 lớp 7.

BĐTD phải chọn lọc thông tin, từ ngữ, sắp xếp, bố cục để “ghi” thông tin cần thiết nhất
và lôgic, vì vậy, sử dụng BĐTD sẽ giúp HS dần dần hình thành cách ghi chép có hiệu
quả.
VD:

* Như vậy, thay vì phải học thuộc lòng các khái niệm, định nghĩa hay cả bài giảng
đọc - chép như lúc trước, giờ đây học sinh có thể hiểu và nắm được khái niệm qua hình
vẽ. Chính sự liên tưởng theo hướng dẫn của giáo viên cũng giúp các em nhớ được phần
trọng tâm của bài giảng. Cách học này còn phát triển được năng lực riêng của từng học
sinh. Việc vẽ, viết gì trên BĐTD, hệ thống hóa kiến thức chọn lọc những phần nào trong
bài để ghi, thể hiện dưới hình thức kết hợp hình vẽ, chữ viết, màu sắc, sẽ tăng khả năng
vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống.
1.3- Nguyên lí sử dụng BĐTD trong dạy – học
Bản đồ tư duy là một rạng sơ đồ mở vì vây khi sử dụng hay thiết kế, người dùng có
thể mặc sức sáng tạo tuy nhiên với không khổ đề tài tôi xin đưa ra một số quy trình thiết
lập như sao trong quá trình dạy – học.
a- Cách điển hình (thường dùng):
Bước 1: Viết hay vẽ nội dung đề tài của bài học lên bảng (hoặc giữa trang giấy và
vẽ một vòng bao bọc nó). Việc sử dụng màu sẽ nâng cao chất lượng và vận tốc ghi nhớ.
Nếu viết chữ thì hãy cô đọng nó thành một từ khóa chính.
Bước 2: Đối với mỗi ý quan trọng, vẽ một đường nhánh (cấp 1) (hay một đường có
mũi tên ở đầu tùy theo quan hệ từ đối tượng trung tâm đối với ý phụ bên ngoài) đường
phân nhánh xuất phát từ hình trung tâm và nối với một ý phụ.
Bước 3: Từ mỗi ý quan trọng, lại vẽ các phân nhánh (cấp 2) và các ý phụ bổ sung
cho ý đó.
Bước 4: Từ các ý phụ này lại, mở ra các phân nhánh (cấp 3 …) chi tiết cho mỗi ý.
Bước 5: Tiếp tục vẽ hình phân nhánh các ý (cấp n) cho đến khi đạt được giản đồ
chi tiết nhất (hình rễ cây mà gốc chính là nội dung đề tài đang dạy và học).
VD:
b- Dùng bản đồ tư duy với nhóm học tập:

+ Dùng các loại hình mũi tên khác nhau để chỉ ra chiều hướng để phân biệt các ý và
kiểu liên hệ giữa các ý tốt hơn.
+ Sử dụng các kí tự đặc biệt như ! ? {} & * | © ® " $ ' @ trong BĐTD sẽ tăng chất
lượng cô đọng của các ý.
+ Dùng nhiều hình vẽ kiểu "logo" để hình tượng hóa các ý và giúp biểu thị các kiểu
lời giải rõ ràng, rễ nhớ và sinh động.
+ Biểu thị các đặc tính kĩ thuật bằng các hình biểu tượng (Ví dụ khi muốn dùng
phương pháp hóa học thì ta vẽ 1 cái ống nghiệm, phương pháp cơ khí thì dùng hình búa
kềm, sinh học thì vẽ cây, Âm nhạc thì dùng hình khoá son, nốt nhạc hay các loại nhạc
cụ )
- Mỗi ý, nếu không thể dùng hình phải rút xuống tối đa thành một từ khóa ngắn
gọn. Khi học sinh sử dụng những từ khóa riêng lẻ, mỗi từ khóa đều không bị ràng buộc,
do đó nó có khả năng khơi dậy các ý tưởng mới, các suy nghĩ mới. Nếu trên mỗi nhánh
học sinh viết đầy đủ cả câu thì như vậy học sinh sẽ dập tắt khả năng gợi mở và liên tưởng
của bộ não. Não của học sinh sẽ mất hết hứng thú khi tiếp nhận một thông tin hoàn chỉnh.
Vì vậy, trên mỗi nhánh học sinh chỉ viết một, hai từ khóa mà thôi. Khi đó, học sinh sẽ
viết rất nhanh và khi đọc lại, não của học sinh sẽ được kích thích làm việc để nối kết
thông tin và nhờ vậy, thúc đẩy năng lực gợi nhớ và dần dần nâng cao khả năng ghi nhớ
của học sinh.
- Tư tưởng nên được để tự do tối đa. Ta có thể nảy sinh ý tưởng nhanh hơn là khi
viết ra.
- Màu sắc cũng có tác dụng kích thích bộ não như hình ảnh. Tuy nhiên, học sinh
cũng không cần phải sử dụng quá nhiều màu sắc. Học sinh có thể chỉ cần dùng một hai
màu nếu thích và muốn tiết kiệm thời gian. Nếu học sinh thấy mất quá nhiều thời gian để
tô đậm màu trong một nhánh, thì học sinh có thể gạch chéo, đánh dấu cộng, hay chấm bi
trong đó – rất mới mẻ và tốn ít thời gian.
- Vẽ nhiều nhánh cong hơn là đường thẳng để tránh sự buồn tẻ, tạo sự mềm mại,
cuốn hút.
2- Ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy - học môn âm nhạc:
2.1- Ứng dụng BĐTD trong các hoạt động dạy – học âm nhạc:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status