SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
" SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC SINH HỌC
THCS"
5
Phần 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Thực hiện Theo NQ 40/2000/QH 10 của Quốc Hội, toàn quốc đã tiến hành thực hiện đổi
mới giáo dục phổ thông. Quá trình đổi mới toàn diện trên nhiều lĩnh vực của giáo dục
phổ thông mà tâm điểm là đổi mới chương trình giáo dục để đáp ứng yêu cầu xây dựng
đạt được mục tiêu việc “dạy chữ, dạy người, dạy nghề”, định hướng nghề nghiệp cho học
sinh (HS) trong hoàn cảnh mới của xã hội Việt Nam hiện đại. Trọng tâm của đổi mới
chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông là tập trung đổi mới phương pháp
dạy học, thực hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của HS
với sự tổ chức và hướng dẫn thích hợp của giáo viên (GV), nhằm phát triển tư duy độc
lập, góp phần hình thành phương pháp và nhu cầu, khả năng tự học, tự bồi dưỡng hứng
thú học tập, tạo niềm tin và vui thích trong học hành.
2. Lí do chọn đề tài
Để thực hiện mục tiêu và nội dung dạy học, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo
triết lý lấy người học làm trung tâm được đặt ra một cách bức thiết. Bản chất của dạy học
lấy người học làm trung tâm là phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo
của người học.
Để làm được điều đó thì vấn đề đầu tiên mà người GV cần nhận thức rõ ràng là quy
luật nhận thức của người học. Người học là chủ thể hoạt động chiếm lĩnh tri thức, kĩ
năng, kĩ xảo và thái độ chứ không phải là “cái bình chứa kiến thức” một cách thụ động.
Trong thực tế hiện nay, còn nhiều HS học tập một cách thụ động, chỉ đơn thuần là
nhớ kiến thức một cách máy móc mà chưa rèn luyện kĩ năng tư duy. HS chỉ học bài nào
biết bài đấy, cô lập nội dung của các môn, phân môn mà chưa có sự liên hệ kiến thức với
6
nhau vì vậy mà chưa phát triển được tư duy logic và tư duy hệ thống. Sử dụng bản đồ tư
duy (BĐTD) giúp các em giải quyết được các vấn đề trên và nâng cao hiệu quả học tập.
- Phương pháp định lượng
6. Điểm mới, tính sáng tạo của đề tài
- Đề tài áp dụng kinh nghiệm giảng dạy, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động
dạy và học ở trường THPT.
- Kết hợp với các phương tiện dạy học truyền thống, phương tiện hiện đại cho hiệu quả rõ
rệt. Đây là một chủ đề rất mới trong những năm học gần đây.
- HS hứng thú học tập, công tác giảng dạy, giáo dục của GV trở nên nhẹ nhàng hơn
vì phần chủ yếu hướng dẫn cho HS tìm ra kiến thức.
- Đề tài hướng dẫn chi tiết cách sử dụng phần mềm, chia sẻ, áp dụng cho nhiều đối
tượng, áp dụng rộng rãi cho nhiều công việc (học tập, lập kế hoạch, …)
Từ những điểm nêu trên bản thân tôi khẳng định đề tài có tính khoa học và thực tiễn cao:
Ý nghĩa khoa học:
8
Đề tài được thực hiện nhằm nâng cao nghệ thuật dạy học, cũng như phát huy tính
sáng tạo trong việc dạy và học. Kết quả của đề tài sẽ góp phần phát triển tư duy của GV
và HS .
Ý nghĩa thực tiễn:
Góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Sinh học nói riêng và các môn học khác
nói chung. Đề tài cũng góp phần phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập
của người học.
9
Phần 2. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Bản đồ tư duy
BĐTD là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý
tưởng. BĐTD một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuật
hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu
trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm năng vô tận
của bộ não.
Cơ chế hoạt động của BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên
4. Có tiêu đề
5. Đánh số các ý
6. Liên kết ý nên dùng nét đứt, mũi tên, số, màu sắc,…
7. Ghi chép nguồn gốc thông tin để có thể tra cứu lại dễ dàng
8. Sử dụng màu sắc để ghi.
11
Sử dụng BĐTD giúp GV chủ nhiệm, cán bộ quản lí nhà trường lập kế hoạch công tác
và có cái nhìn tổng quát toàn bộ kế hoạch từ chỉ tiêu, phương hướng, biện pháp,…và dễ
theo dõi quá trình thực hiện đồng thời có thể bổ sung thêm các chỉ tiêu, biện pháp,…một
cách rất dễ dàng so với việc viết kế hoạch theo cách thông thường thành các dòng chữ.
2.1.2. Những kinh nghiệm khi lập BĐTD
* Các bước lập BĐTD
- Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm trên một mảnh giấy (đặt nằm ngang)
+ Chúng ta sẽ bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề. Hình ảnh có thể thay thế cho
cả ngàn từ và giúp chúng ta sử dụng tốt hơn trí tưởng tượng của mình. Sau đó có thể bổ
sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng.
+ Sử dụng màu sắc vì màu sắc có tác dụng kích thích não như hình ảnh, đặc biệt là các
màu sắc bản thân yêu thích.
+ Có thể dùng từ khóa, kí hiệu, câu danh ngôn, câu nói nào đó gợi ấn tượng sâu sắc về
chủ đề.
+ Không nên đóng khung hoặc che chắn mất hình vẽ chủ đề vì chủ đề cần được làm
nổi bật dễ nhớ
+ Chủ đề phải đủ to, rõ, nổi bật trọng tâm cần ghi nhớ.
- Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm
+ Tiêu đề phụ có thể viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh to để làm nổi bật.
+ Tiêu đề phụ được gắn với trung tâm.
+ Tiêu đề phụ nên được vẽ chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một
cách dễ dàng.
12
- Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ
2.2.1. Thuận lợi
- Đây là phương pháp học tập mới thoải mái, vui vẻ và sáng tạo, thú vị ….
- Đây là xu thế chung của giáo dục Việt Nam nên đựơc sự ủng hộ từ các cấp, xã
hội, phụ huynh, HS…
- Chương trình môn Sinh học THPT có nhiều nội dung phù hợp với phương pháp
giảng dạy dùng BĐTD phát huy hiệu quả cao khi giáo viên tổ chức cho HS lĩnh hội kiến
thức
- Về cơ sở vật chất đã có một số đổi mới tạo điều kiện cho hoạt động học tập:
phòng công nghệ thông tin, đèn chiếu, bảng phụ…
- GV được đào tạo và tập huấn đổi mới phương pháp dạy học về sử dụng BĐTD
trong giảng dạy.
- Xã hội hiện nay tạo điều kiện cho con người (GV và HS) có điều kiện tiếp cận
nhiều nguồn thông tin từ nhiều phương tiện khác nhau.
14
- Phương pháp sử dụng BĐTD trong dạy học các kiểu bài phù hợp tâm sinh lý lứa
tuổi HS, khắc phục được sự nhàm chán của phương pháp dạy học truyền thống. Vì vậy,
gây hứng thú cho người học, kích thích HS tư duy tích cực.
2.2.2. Khó khăn
- Đây là phương pháp dạy học mới nên GV và HS không tránh khỏi lúng túng trong
một số kĩ năng như sử dụng lúc nào, như thế nào, sưu tầm, xử lý thông tin, vẽ, ý tưởng…
- Nội dung môn Sinh học THPT, đặc biệt là sinh học lớp 12 mới, khô, khó, trừu
tượng … nên GV khó dạy, HS khó học.
- Đòi hỏi GV phải có nhiều kĩ năng khác ngoài kĩ năng sư phạm.
- GV khó khăn trong việc đánh giá cụ thể hiệu quả làm việc của từng HS.
- Cơ sở vật chất có đổi mới nhưng chưa thực sự phù hợp: Số HS, không gian lớp
học, trang thiết bị, đồ dung dạy học, thời gian tiết học…
- Năng lực HS không đồng đều nên đôi khi việc vẽ BĐTD trong học tập là sự máy
móc không hiệu quả.
- Quan niệm của xã hội, gia đình, và đặc biệt là HS đối với bộ môn này đôi khi còn
lệch lạc: chưa đầu tư, dành sự quan tâm, chưa chú ý, xem thường hoặc học cho xong.
16
cảm sư phạm trong nhiều trường hợp là những yếu tố cơ bản giúp thấy rõ thực chất trình
độ kiến thức và kĩ năng của HS được kiểm tra.
- Trong quá trình HS đang trả lời câu hỏi có thiếu sót hoặc sai, nếu không có lí do gì cần
thiết GV cũng không nên ngắt lời của HS. Cùng là một sai sót nhưng GV phải biết sai sót
nào nên sửa ngay và sai sót nào thì nên đợi HS trả lời xong.
- Nên phối hợp các cách kiểm tra và cùng một lúc có thể kiểm tra được nhiều HS: trong
lúc gọi một số HS lên bảng thì GV ra cho các HS ở dưới lớp câu hỏi khác sau đó sẽ thu
vở nháp của một số em để chấm.
- Khi tổ chức kiểm tra thì GV phải giải quyết các khó khăn lớn sau đây: khi một hay vài
HS được chỉ định lên bảng thì các HS khác trong lớp cần phải làm gì và làm như thế nào.
GV gọi nhiều em cùng một lúc, đưa ra yêu cầu khác nhau phù hợp với trình độ của mỗi
HS sau đó đặt các câu hỏi cho cả lớp sau khi các HS này hoàn thành xong nhiệm vụ của
mình như sau: “Bạn trả lời như vậy có đúng không?” “Các em có đồng ý với câu trả lời
đó của bạn không?” “Có điểm nào sai hoặc thiếu không ?”… Ngoài những câu cơ bản,
GV có thể sử dụng các câu hỏi phụ trong quá trình kiểm tra miệng. Nhờ những câu hỏi bổ
sung đó mà GV có thể hình dung được chất lượng kiến thức của HS.
* Sử dụng BĐTD.
Như ta đã biết, kiểm tra miệng là việc diễn ra thường xuyên, liên tục trong các tiết dạy.
Vì vậy hoạt động này phải đa dạng để tránh sự nhàm chán đơn điệu, tạo không khí sinh
động trong lớp học và giúp HS học tập có hiệu quả hơn.
Tuỳ theo mỗi tiết học và tuỳ theo từng yêu cầu về kiểm tra kiến thức, kĩ năng mà GV có
thể áp dụng thêm cách kiểm tra miệng như sau bằng cách sử dụng BĐTD. Sử dụng
BĐTD vừa giúp GV kiểm tra được phần nhớ lẫn phần hiểu của HS đối với bài học cũ. Vì
thời gian kiểm tra bài cũ tương đối ngắn nên các BĐTD tôi thường sử dụng ở dạng thiếu
17
thông tin, yêu cầu HS điền các thông tin còn thiếu và rút ra nhận xét về mối quan hệ của
các nhánh thông tin với từ khóa trung tâm.
Ví dụ 1: Kiểm tra bài cũ tiết “Phiên mã và dịch mã” Sinh học 12:
Hoàn thành BĐTD sau:
2.3.2. Sử dụng BĐTD trong việc dạy kiến thức mới
* Những vấn đề tồn tại
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển khả năng ghi nhớ, thông hiểu và vận dụng
kiến thức mới của HS, trong đó phương pháp dạy của thầy và cách học của trò là yếu tố
quyết định.
19
- Phương pháp dạy của GV
- Sử dụng phương pháp truyền thống chủ yếu là GV độc thoại, độc quyền đánh giá,
thuyết giảng làm HS nhàm chán không tập trung, chú ý những gì GV nói.
- Nội dung bám sát sách giáo khoa, ít liên hệ thực tiễn đời sống nên không giúp các em
ghi nhớ bài một cách tốt nhất.
- GV giữ vai trò chủ động điều khiển.
- Không phối hợp nhiều phương pháp dạy học trong một tiết dạy.
- Phương pháp, dụng cụ giảng dạy không khoa học.
- Gây áp lực đến với HS dẫn đến HS bị ức chế.
- Phương pháp học của HS:
- Chưa có sự chú trọng đến việc học bộ môn, học thuộc lòng một cách thụ động, ít có sự
liên tưởng, liên hệ, tìm hiểu những tập tính, quy luật Sinh học ngoài thực tế nên dễ quên
đi những kiến thức vừa học.
- Quan điểm các em học để đối phó, để kiểm tra, thi cử lấy điểm, thành tích.
- Trong quá trình học, đa số các em thụ động, ít phát biểu ý kiến, chỉ mải nghe, ghi
những gì mà GV ghi lên bảng. Khi về nhà thì học thuộc bài một cách máy móc không cần
hiểu rõ bài để hôm sau trả bài.
- Phần lớn các em đợi gần đến thi hoặc kiểm tra mới học.
- Các em chưa biết tổ chức cách học theo nhóm, theo tổ.
- Một số em không chịu khó làm những bài tập cơ bản để ghi nhớ các kiến thức tốt hơn
và lâu hơn.
20
* Sử dụng BĐTD và một số biện pháp nhằm phát triển sự ghi nhớ, thông hiểu, vận
dụng kiến thức mới của HS.
+ Khi có những thắc mắc về bài học cần chủ động hỏi GV giảng dạy.
+ Vào lớp cần phải năng động, tự tìm tòi, học hỏi, học cách học…
Sử dụng BĐTD
Từ đầu năm học, theo định hướng của ngành chống đọc chép, tôi đã giới thiệu đến HS
các kiểu ghi chép theo kiểu đề mục, kiểu trích dẫn, kiểu luận đề, kiểu tự do. Thực tế, các
kiểu ghi chép này các em cũng đã thực hiện rồi nhưng ít được biết đến tên và tác dụng
cũng như hiệu quả của từng kiểu ghi. Thông thường, tôi nhận thấy ở trường HS thường
được hướng dẫn ghi chép bài học theo kiểu đề cương, trích dẫn và luận đề còn cách ghi
chép theo kiểu tự do dành cho việc dự hội thảo hay chuyên đề… Nhưng điều đáng quan
tâm là các kiểu ghi chép trên nếu được kết hợp với việc hệ thống kiến thức bài học theo
kiểu BĐTD sẽ giúp HS nhớ lâu hơn, gây hứng thú và niềm đam mê học tập hơn cho HS,
giúp cho các kiến thức ấy "đi thẳng vào đầu" HS một cách nhanh chóng, hiệu quả hơn.
Để cải thiện việc ghi chép của mình, tôi đã yêu cầu HS cần lưu yùù:
22
+ Làm bài tập về nhà trước khi đến lớp, xem trước bài học mới.
+ Đi học đầy đủ, nếu bạn bỏ một buổi học thì bạn phải mượn vở của bạn cùng lớp để ghi
lại.
+ Ngoài các loại bút thông thường, HS cần trang bị thêm các loại bút dạ quang, bút màu
để làm nổi những thông tin quan trọng.
+ Dùng các ký hiệu để ghi bài nhanh hơn.
+ Chú ý lắng nghe những lời giảng của GV. Không cần ghi lại mọi lời giảng của GV mà
hãy tư duy để ghi những điều quan trọng nhất. Luôn động não chứ đừng chỉ ghi chép như
một cái máy.
+ Nếu bỏ lỡ thông tin nào, hãy cách ra vài dòng để bổ sung sau, bằng cách hỏi lại GV hay
các bạn khác.
+ Dành khoảng thời gian để xem xét lại những ghi chép.
+ Ghi chép khi đọc một thông tin, một bài học mới nào đó ở sách giáo khoa sẽ giúp bạn
nhớ được các thông tin đó.
Để sử dụng BĐTD trong khi dạy học kiến thức mới, tôi đã tổ chức các hình thức sau cho
HS:
một sơ đồ mở nên không yêu cầu tất cả các nhóm HS có chung 1 kiểu BĐTD, tôi chỉ
24
Đột biến
gen
Khái
niệm
Thêm
Thay thế
Các
dạng
Mất
chỉnh sửa cho HS về mặt kiến thức và góp ý thêm về đường nét vẽ và hình thức (nếu
cần).
Ví dụ: BĐTD hình thành sau khi học xong bài “Hệ sinh thái”
25
Qua việc hướng dẫn cách ghi, cách học bài nói trên, tôi nhận thấy HS dần dần có những
thay đổi đáng kể. Cụ thể, các em đã tự tin hơn trong việc ghi chép ở lớp và chuẩn bị bài ở
nhà thông qua sự hướng dẫn của tôi. Và, tôi nghĩ rằng việc hệ thống kiến thức sẽ rất dễ
dàng với các em khi các em đã quen với cách làm việc có hệ thống như trên.
2.3.3. Sử dụng BĐTD trong việc củng cố kiến thức
Củng cố bài giảng là một khâu quan trọng của bài giảng, là một yếu tố dẫn đến sự thành
công của bài giảng. Củng cố bài giảng giúp HS nhớ lại và khắc sâu kiến thức hơn. Ngoài
việc xác định kiến thức trọng tâm, HS còn có thể tự đánh giá kết quả học tập của mình.
Từ đó các em có thể điều chỉnh lại phương pháp học sao cho phù hợp.
26
Bằng các phương pháp củng cố bài giảng cụ thể, GV sẽ giúp HS phát huy tính tích cực,
chủ động trong việc tiếp thu nội dung bài, đồng thời mở rộng và phát triển tư duy cho
HS.
Củng cố bài giảng còn tạo điều kiện tương tác giữa GV và HS. Điều đó tạo hứng thú học
tập cho HS, nuôi dưỡng bầu không khí lớp học, tạo điều kiện để HS phát biểu ý kiến.
áp dụng cho các kiểu bài nói chung, tôi thông qua trò chơi cho HS là sắp xếp các thẻ ôn
bài, tóm tắt đề mục chính của bài học để tập dần cho HS nhớ các từ khóa (nội dung
chính cần nắm) của bài học. Cụ thể, tôi lấy ví dụ sau khi học xong bài Đột biến số lượng
NST (tiếp theo) Sinh học 12 tôi đã thực hiện việc củng cố như sau:
28
Tôi cho HS chuẩn bị trước các thẻ ôn bài với các từ khóa:
Sau đó, tôi đảo các thẻ để 2 nhóm 3-5 em tổ chức thi đua hoàn thành bằng cách dán trên
bảng hoặc cá nhân (tùy vào đối tượng lớp) chọn lựa, sắp xếp và nối các đường liên kết từ
các thẻ lại sao cho hợp lí nhất. Kết quả thu được sau củng cố bài là hai dạng sơ đồ như
sau:
Dạng sơ đồ thứ nhất:
29
ĐỘT BIẾN NST MẤT ĐOẠN
LẶP ĐOẠN
ĐẢO ĐOẠN
HIỆN TƯỢNG ĐA BỘI
HIỆN TƯỢNG DỊ BỘI
ĐỘT BIẾN SỐ LƯỢNG NST
ĐỘT BIẾN CẤU TRÚC NST
MẤT
ĐOẠN
LẶP
ĐOẠN
ĐẢO
ĐOẠN
HIỆN
TƯỢNG
ĐA BỘI
HIỆN
TƯỢNG DỊ