tiểu luận Những đóng góp của nam phong tạp chí và đông dương tạp chí đối với văn học VN - Pdf 26

Đề tài: Những đóng góp của “Nam Phong tạp chí” và “ Đông Dương tạp chí”
đối với văn học Việt Nam
Phần I. PHẦN MỞ ĐẦU
Năm 1986 trước sự khủng hoảng về kinh tế xã hội ở Việt Nam (kinh tế
ngày càng sa sút nghiêm trọng, lạm phát tăng cao, đời sống nhân dân giảm
nhanh chóng) trước sự biến chuyển lớn lao của tình hình thế giới (chiến tranh
lạnh kết thúc, quá trình toàn cầu hoá, xu thế hoà bình, hữu nghị, hợp tác ngày
càng phát triển. Ngay cả Liên xô và Trung Quốc, hai nước lớn trong hệ thống xã
hội chủ nghĩa cũng tiến hành những sự cải cách cho phù hợp với sự chuyển biến
của tình hình trong nước và quốc tế). Đại hội VI, Đảng cộng sản Việt Nam
(ĐCSVN) đã đưa ra đường lối đổi mới chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung,
quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đa
phương hoá đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Từ đường lối đổi mới đó kinh tế
Việt Nam dần dần thoát khỏi khủng hoảng và từng bước phát triển, đời sống
người dân được cải thiện nâng cao rõ rệt cả về vật chất lẫn tinh thần, quan hệ
quốc tế được mở rộng theo đúng chủ trương “Việt Nam muốn làm bạn, làm đối
tác tin cậy của tất cả các nước”.
Song song với các kết quả đạt được, thành tựu của sự mở cửa, sự thông
thương quan hệ với nhiều nước thì văn hoá từ khắp các châu lục cũng tràn vào
Việt Nam, có những yếu tố tiến bộ, tích cực thúc đẩy kinh tế - xã hội - Văn
hoá phát triển (như kĩ thuật, công nghệ, các giá trị văn háo khiến các dân tộc
hiểu và gần bũi nhau hơn ) lại có cả những yếu tố, nhưng tệ nạn phá vỡ các giá
trị đạo đức tốt đẹp, kìm hãm sự phát triển (như các tệ nạn xã hội : Mại dâm, ma
tuý, cờ bạc, các bệnh nguy hiểm của nạn ăn chơi trác táng các luận điệu xuyên
tạc của các thế lực phản động ). Có nhiều nhà nghiên cứu nhận xét rằng người
Việt Nam đặc biệt là giới trẻ ngày nay đang xa dần những giá trị truyền thống
tốt đẹp của dân tộc, lại căng quá mức ảnh hưởng tác động từ bên ngoài.
Trần Ngọc Quỳnh – K32B Báo In 1
1
Đề tài: Những đóng góp của “Nam Phong tạp chí” và “ Đông Dương tạp chí”
đối với văn học Việt Nam

Đề tài: Những đóng góp của “Nam Phong tạp chí” và “ Đông Dương tạp chí”
đối với văn học Việt Nam
trong quá trình tiếp xúc giữa hai nền văn minh . Kết quả, ý nghĩa, cũng như bài
học đúc kết của thái độ ấy sẽ là kinh nghiệm quí báu cho thái độ tiếp nhận các
nền văn hoá ngày nay.
PHẦN II. NỘI DUNG CHÍNH
Báo chí là sản phẩm của phương Tây, ra đời cùng với sự hình thành và
phát triển của chủ nghĩa tư bản (CNTB). Báo chí ra đời phải có các điều kiện :
Điều kiện kỹ thuật tức là phải có nghề in chữ rời, in hoạt bản bởi tờ báo trước
hết phải có tính định kỳ; điều kiện thứ hai là phải có người làm báo (là một
nghề); điều kiện thứ ba là phải có độc giả (nói cho cùng báo chí cũng là một sản
phẩm hàng hoá. Ở Việt Nam trong thời kỳ phong kiến những hình thức thông tin
sơ khai đã được sử dụng như những câu vè lưu truyền trong dân gian, tiếng mõ
làng, tiếng trống “giảng thập điều” trong sinh hoạt đình làng đến những hình
thức thông tin chính thức của Nhà nước phong kiến tổ chức ra Quảng Văn Đình
thời Lê Thánh Tông hay Quảng Minh Đình thời Gia Long chẳng hạn. Nói chung
đây mới chỉ là những hình thức sơ khai của thông tin, nó chưa phải là báo chí.
Báo chí chỉ xuất hiện ở Việt Nam khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, khi kĩ
thuật in và thợ sử dụng tới Việt Nam. Những thiết bị này, được sử dụng trước
hết để in ấn các công văn, chỉ thị, hoạt động của các tướng tá, binh lính tiến
hành chiến tranh xâm lược và bình định các nơi mà thực dân Pháp chiếm được.
Đầu năm 1865 soái phủ Nam Kỳ thấy cần thiết phải mở mang giáo dục,
truyền bá học thuật và tư tưởng Pháp nhất là tạo cho việc đưa quốc ngữ thực sự
vào quỹ đạo xâm lăng văn hoá đánh bại chữ Nho, quyết định cho xuất bản tờ
báo tiếng Việt đầu tiên : tờ Gia Định Báo. Đây là tờ báo mở đầu cho lịch sử báo
Trần Ngọc Quỳnh – K32B Báo In 3
3
Đề tài: Những đóng góp của “Nam Phong tạp chí” và “ Đông Dương tạp chí”
đối với văn học Việt Nam
chí Việt Nam. Báo chí Việt Nam từ khi hình thành (năm 1865 với sự ra đời của

đối với văn học Việt Nam
Giai đoạn này trên cả nước cả khoảng 10 tờ báo.
Các tờ báo ra đời cuối thế kỳ XIX hầu hết là do người Pháp lập ra nhằm
phục vụ cho chính sách xâm lược, nô dịch nhân dân ta. Người viết bao gồm cả
người Việt và người Pháp (người Việt chủ yếu là công chức cho Pháp). Nội
dung là tuyên truyền cho chính sách của thực dân Pháp. Hình thức trình ày đơn
điệu thô sơ, khô khan xếp hết bài này đến bài khác. Độc giả chủ yếu là công
chức, quan lại, các nhà nho và lớp trí thức nho học. Thực dân Pháp còn thúc đẩy
các hoạt động tuyên truyền theo hình thức này bằng việc phát không đến độc giả
hoặc bắt buộc các công sở, các làng xã phải mua và đọc báo. Thời kỳ này các tờ
báo tuyên truyền cho chính sách của thực dân Pháp gần như giữ vai trò độc tôn
cũng có tờ áo thể hiện tinh thần yêu nước rõ rệt như tờ Phan Yên báo (1898) do
Diệp Văn Cương lập ra với loạt bài. Đòn Câu ARCHIMEDE của Cuồng Sĩ.
Bằng Giang có nhận xét rất đúng rằng: Đay là tơ báo quốc ngữ đầu tiên bị cấm ở
Nam Kỳ.
Trương Vĩnh Ký, đại diện cho giới công chức làm việc cho Pháp là một
trong những nhà báo đầu tiên của nước ta. Ông là chủ bút tờ Gia Định báo từ
năm 1869. Về chính trị, rõ ràng ông là người thân Pháp : Ca ngợi công ơn khai
hoá của thực dân, bào chữa cho chính sách đầu hàng và hành động phản quốc
của bọn Việt Nam. Nhiều lần Trương Vĩnh Ký cho rằng : ta không chống lại
được văn minh phương Tây, hơn nữa còn công khai khẳng định :Tôi phục vụ
cho cả hai đất nước đẻ ra tôi và tổ quốc lớn là nước Pháp. Tuy nhiên Trương
Vĩnh Ký có công thúc đẩy báo chí non trẻ của ta sung sức và không ngừng phát
triển bằng việc đưa các bài nghiên cứu nghiêm túc lên trên mặt báo. Có thể nói
trình độ văn hoá, khoa học không ngừng hỗ trợ nếu không nói là quyết định uy
tín cho tờ báo bởi sự nghiêm túc, kịp thời và sinh động. Trương Vĩnh Ký còn có
công lớn trong việc phổ biến chữ quốc ngữ qua tuyên truyền, cổ động và dạy
trên tờ Gia Định báo.
Trần Ngọc Quỳnh – K32B Báo In 5
5

Trần Ngọc Quỳnh – K32B Báo In 6
6
Đề tài: Những đóng góp của “Nam Phong tạp chí” và “ Đông Dương tạp chí”
đối với văn học Việt Nam
thấm đượm tinh thần yêu nước rất kích động hừng hực ngọn lửa căm thù giặc
Pháp và chí khí tự lập tự cường của Sào Nam, Tây Hồ của Đông Kinh Nghĩa
Thục thiêu cháy ảo tưởng về nền trị bình vĩnh cửu.
Đặc biệt đáng chú ý là việc xuất bản lục tỉnh tân văn, một tờ báo quốc ngữ
do Trần Chánh Chiếu - một người vào làng Tây nhưng có cảm tình với phong
trào Đông Du, với Phan Bội Châu - làm chủ bút. Báo hô hào bỏ cờ bạc, hút
thuốc phiện; giảm bớt nghi lễ cưới xin, ma nhay, kêu gọi giành lại quyền lợi
kinhtế trong thương mại, dịch vụ đang nằm trong tay Hoa kiều, Ấn kiều được
Chính phủ Pháp che chở. Báo còn lên án bọn quan lại phong kiến tham nhũng
kêu gọi đồng bào hợp quần tương thân tương ái Những tư tưởng cấp tiến này
khiến thực dân Pháp lo sợ và chúng ra lệnh bắt ông. Tờ báo sang tay các chủ bút
khác, màu sắc cũng khác đi.
2. Giai đoạn từ năm 1907 đến năm 1918
Sau khi phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, phong trào Đông Du, phong
trào chống thuế bị dập tắt, một mặt thực dân Pháp thi hành chính sách kiểm
duyệt gắt gao bịt mồn bịt miệng những tư tưởng tiến bộ, ngăn chặn sách báo
cách mạng từ ngoài vào (Tân thư, Tân văn) (Chính sách kiểm duyệt ngặt nghèo
này khiến cho sau khi Đăng cổ tùng báo ngừng xuất bản ở Bắc kỳ, trên toàn
quốc chỉ có hai tờ báo tiếng Việt xuất bản ở Nam Kỳ là lục tỉnh tân văn và nông
cổ mít đàm). Mặt khác, chúng tìm cách vạch ra một đường lối báo chí mới có
hiệu lực nhằm phản công lại những tư tưởng yêu nước. Trong khi đó năm 1911
cách mạng Tân Hội thành công gây ra một tiếng vang lớn trong nhân dân ta,
nhiều người yêu nước Việt Nam đã đi theo tiếng gọi ấy, trong đó có cụ Phan Bội
Châu. Việt Nam quang phục hội ra đời với tôn chỉ “Đánh đuổi giặc Pháp khôi
phục Việt Nam” và gây ra các vụ bạo động khiến thực dân Pháp hết sức lo sợ
càng làm cho chúng quyết tâm thực hiện ngay đường lối báo chí mới. Chính

Những chủ trương trên đây của thực dân Pháp đã quy định khuynh hướng
báo chí Việt Nam giai đoạn này : Từ Đông Dương tạp chí đến Trung Bắc tân
văn, công thị báo, rồi Nam Phong
Trần Ngọc Quỳnh – K32B Báo In 8
8
Đề tài: Những đóng góp của “Nam Phong tạp chí” và “ Đông Dương tạp chí”
đối với văn học Việt Nam
Nội dung cơ bản của báo chí thời kỳ này là đề cao công đức khai hoá của
thực dân Pháp, chống lại mạnh mẽ các tư tưởng yêu nước, các tư tưởng tiến bộ
đồng thời tuyên truyền chính sách của Pháp, vận động người dân mua quốc trái,
tham gia quân đội chiến đấu cho mẫu quốc”, cổ động góp vốn phát triển kinh tế
nước nhà bài trừ hàng hoá Trung Quốc Có thể nói tinh thần chủ yếu của các tờ
báo ra đời trong thời kỳ này là cổ suý cho chủ thuyết Pháp - Việt đề huề mà đi
tiên phong là Đông Dương tạp chí, Nam Phong.
Tờ Đông Dương tạp chí, chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh kịch liệt chống lại
cách mạng, ra sức tố cáo những người cách mạng một cách dữ dội mà sau chiến
tranh không hề thấy hoặc ít thấy trên mặt báo của người Việt, dù là tư sản. Ngay
trong số 1, Đông Dương tạp chí đã những vụ nổ bom, bạo động của Việt Nam
quang phục hội là “quân cuồng dại”, là dùng khí giới “tiểu nhân” là “dòi bọ
ngoại quốc” đáng “bỏ rọ lăn sông” hô hào quan lại hại nước Pháp - Việt phải
hợp tác mà trừ đi. Tờ báo chủ trương “Trung nghĩa với Đại Pháp để cầu tiến bộ
cải lương, khai hoá. Họ không phủ nhận người Pháp được nhiều quyền lợi
nhưng giải thích rằng đó là sự đền bù công lai khai hoá, bảo hộ, trị an. Họ không
phủ nhận (không thể phủ nhận) dân ta bị trị nhưng lại cho rằng dưới chế độ
thuộc địa còn khá hơn là sống dưới chế độ nhà vua hồi độc lập.Họ còn tự bào
chữa rằng chủ nghía Pháp - Việt mới là sự yêu nước. Họ cũng khẳng định chính
họ mới là những người biết yêu thương giống nòi, còn những người cách mạng
thì chẳng làm được gì hết mà chỉ làm loạn hại nước hại dân.
Tờ Nam Phong với chủ bút Phạm Quỳnh cũng có một luận điệu như thế,
tin vào thiên chức của Đại Pháp xưa nay vẫn được dạy cho phát triển quốc tuý

ta; góp phần vào phát triển chữ quốc ngữ và tiếng nói dân tộc. Cùng với Đông
Dương tạp chí, Nam Phong đã góp phần xây dựng nền văn học bằng chữ quốc
ngữ trong bước đầu mới hình thành (hai tờ đăng nhiều tác phẩm văn học hơn cả
so với các tờ báo khác hai mươi năm đầu thế kỷ XX).
Trần Ngọc Quỳnh – K32B Báo In 10
10
Đề tài: Những đóng góp của “Nam Phong tạp chí” và “ Đông Dương tạp chí”
đối với văn học Việt Nam
3. Giai đoạn từ năm 1919 đến năm 1920
Báo chí Việt Nam phát triển thêm một bước mới rất quan trọng về chất.
Sự phát triển đó ảnh hưởng nhiều của tình hình trong nước và quốc tế. Khôi
phục kinh tế Pháp bị tàn phá trong chiến tranh và tiến hành khai thác thuộc địa
với quy mô lớn, có chiều sâu. Đi đôi với sự thay đổi chính sách kinh tế thực dân
Pháp còn thực hiện các chủ trương thích ứng nhằm củng cố và tăng cường bộ
máy chính quyền cai trị như mở rộng cơ sở xã hội, mở rộng các trường học quốc
học thành lập hội. “Khai trí tiến đức” Làm nảy sinh những cơ cấu giai cấp mới
và quan hệ xã hội mới : Giai cấp tư sản và giai cấp công nhân tăng nhanh về số
lượng và chất lượng, tầng lớp tiểu tư sản đông đảo thêm, nông dân bị bóc lột
theo cả lối phong kiến và tư bản chủ nghĩa.
Đây là giai đoạn mà Pháp bỏ hẳn chữ Hán và lối thi cử chữ Hán thay bằng
các trường dạy chữ quốc ngữ và tiếng Pháp, mở các kỳ thi bằng chữ quốc ngữ
và chữ Pháp, thay đổi nội dung dạy học Do đó đã làm thay đổi lớn trong đội
ngũ trí thức nói chung và đội ngũ các nhà báo nói riêng. Tầng lớp trí thức được
đào tạo tại các trường quốc ngữ và Pháp ngày càng đông. Việc dạy chữ quốc
ngữ và ngày càng mở rộng nó đã tạo một công chúng bạn đọc đông đảo cho báo
tiếng Việt. Hơn nữa nhiều nhà tư bản bản xứ mở nhà in, ngành in càng phát triển
làm cho việc in báo tiếng Việt dễ dàng hơn . Tình hình đó ảnh hưởng đến báo
chí sau chiến tranh.
Thời kỳ 1919 - 1939 chứng kiến những sự kiện quan trọng : tiếng bom Sa
Điện của Phạm Hồng hái, phong trào đòi thả Phan Bội Châu, phong trào để tang

bản bí mật không hợp pháp mở đầu bằng tờ thanh niên của Tổng bộ thanh niên
cách mạng do Nguyễn Ái Quốc sáng lập.
Thời kỳ 1919 - 1930 còn chứng kiến sự tăng nhanh của báo chí xuất bản
bằng chữ quốc ngữ. Ta có thể thấy rõ điều đó qua bảng số liệu dưới đây :
Báo chí Năm 1922
TỔNG SỐ
BÁO TIẾNG
PHÁP
BÁO CHỮ QUỐC
NGỮ
Trần Ngọc Quỳnh – K32B Báo In 12
12
Đề tài: Những đóng góp của “Nam Phong tạp chí” và “ Đông Dương tạp chí”
đối với văn học Việt Nam
BẮC KỲ 44 36 8
TRUNG KỲ 39 29 10
NAM KỲ 3 2 1
TỔNG 86 67 19
Báo chí Năm 1925
TỔNG SỐ
BÁO TIẾNG
PHÁP
BÁO CHỮ QUỐC
NGỮ
BẮC KỲ 69 56 13
TRUNG KỲ 49 38 11
NAM KỲ 3 2 1
TỔNG 121 96 25
Báo chí Năm 1929
TỔNG SỐ

lăn sông” các nhà yêu nước mà không gặp phải sự phản đối công khai của quần
chúng. Điều đó chứng tỏ thời thế đã thay đổi, giai cấp đã thức tỉnh, báo chí của
thực dân Pháp tay sai không thể phớt lờ sức mạnh đấu tranh của quần chúng.
Thời kỳ này báo chí thực dân, phong kiến có thế lực hơn song uy tín đã
ngày càng giảm sút.
Các tổ chức cách mạng ngay từ khi thành lập đã rất coi trọng việc xuất
bản báo chí làm cơ quan ngôn luận cho mình, coi đó là vũ khí chiến đấu cực kỳ
quan trọng không thể thiếu được trong đấu tranh. Các tờ báo cách mạng in bằng
phương tiện thô sơ, các bản viết tay (in giấy sáp, in thạch, in đất sét) cỡ nhỏ. Số
lượng trên 100 bản trở lại. Theo thống kê chưa đầy đủ trong thời kỳ này có
khoảng trên dưới 50 tờ báo cách mạng. So với các tổ chức yêu nước và cách
mạng khác như Hội phục Việt sau đổi là Hưng Nam rồi Tân Việt và Việt Nam
Quốc dân đảng thì rõ ràng các tổ chức này chưa ý thức về việc sử dụng báo chí
làm vũ khí chiến đấu (tổ chức Tân Việt không có một tờ báo nào, còn Quốc dân
Đảng thì chỉ ra được một số báo duy nhất). Nếu so sánh với tổng số báo trong
khoảng thời gian 1923 - 1929 là 90 tờ mà báo cách mạng trên dưới 50 tờ càng
Trần Ngọc Quỳnh – K32B Báo In 14
14
Đề tài: Những đóng góp của “Nam Phong tạp chí” và “ Đông Dương tạp chí”
đối với văn học Việt Nam
chứng tỏ các nhà cách mạng Việt Nam đã rất coi trọng công cụ này (6/1925 -
12/1929).
Như trên đã nói tờ báo Thanh niên là tờ báo cách mạng đầu tiên, sau đó
Nguyễn Ái Quốc còn xuất bản các tờ : Công nông, (tờ lính cách mạng (2/1927),
đổi tên báo Đồng thanh thành tờ “Nhân ái” (1928) Cùng với sự phát triển của
hệ thống tởổ chức, và cơ sở của Hội thanh niên cách mạng nhiều tờ báo của kỳ
bộ, tỉnh bộ và chi hội cũng ra đời. Kỳ bộ Nam kỳ có tờ Bônsêvích, tỉnh bộ Hải
Phòng có cờ đỏ, Đồng lòng tranh đấu Đến khi các Đảng Cộng sản ra đời, báo
chí càng được coi là vũ khí đấu tranh sắc bén.
Hàng loạt các tờ báo nhân danh Trung ương, các cấp bộ Đảng ở địa

họ). Tính chất hai mặt của giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam thể hiện sự không
dứt khoát, cương quyết, nhiều khi rất mâu thuẫn (tờ thực nghiệp dân báo một
mặt xin thực dân Pháp được tự do ngôn luận, mặt khác một mặt xin thực dân
Pháp được tự do ngôn luận, mặt khác lại cám ơn cơ quan kiểm duyệt cho rằng
nó có tác dụng đẩy lùi các tư tưởng sai lệch). Giai cấp tư sản dùng tơ báo như là
một công cụ để gây sức ép làm phương tiện thúc ép Pháp nảh ra một số quyền
lợi.
Sôi động hơn cả là những tờ báo của tầng lớp tiểu tư sản năng động và
giàu lòng yêu nước. Dòng báo “đối lập” xuất hiện, dĩ nhiên hoạt động không dễ
dàng (PGS-TS Phạm Xanh đã từng nhận xét chưa bao giờ có tờ báo nào mà bị
đe doạ và trù úm như tờ La Cloche Félec trong lịch sử báo chí Việt Nam) nhưng
ảnh hưởng tích cực của nó đối với tình cảm cộng đồng, tinh thần dân tộc là điều
khẳng định. Nguyễn An Ninh là người đã khơi dòng báo chí đối lập đó, ông đã
lợi dụng sơ hở trong luật pháp của thực dân cho phép người Pháp được tựdo ra
báo để ra một tờ báo tuyên truyền tinh thần yêu nước, tố cáo tội ác của thực rân.
Từ tờ báo của Nguyễn An Ninh hàng loạt các tờ báo tiến bộ khác ra đời, tờ Le
Nhà Quê của Nguyễn Khánh Toàn Le Jêun An nam của Lam Hiệp Châu, La
Cloche Félec sau đổi là L’An nam của Nguyễn An Ninh, Phan Văn Tường.
Những tờ báo tiến bộ do người Việt chủ trương đã làm lay động và thôi thúc
những người Pháp chân chính sống ở Sài Gòn lúc đó hoạt động (Luật sư
Trần Ngọc Quỳnh – K32B Báo In 16
16
Đề tài: Những đóng góp của “Nam Phong tạp chí” và “ Đông Dương tạp chí”
đối với văn học Việt Nam
Mònanh cho ra tời Đông Dương GS.Ganôpski ra tờ Tiếng nói tự do) Những tờ
báo do người Việtvà người Pháp chủ trương đã tạo thành dòng báo đối lập tiến
bộ trong lịch sử báo chí Việt Nam. Dòng báo chí đối lập, vì vậy đã có một lượng
độc giả khổng lồ đặc biệt là giới trẻ. Đó là lực lượng chuẩn bị cho cách mạng,
cho sự đối đầu quyết liệt hơn với chính quyền thực dân.
Bên cạnh dòng báo chí đối lập kể trên, ta còn thấy những tờ báo có tinh

4. Giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1945
Đây là giai đoạn cuối cùng của nền báo chí thuộc địa, giai đoạn mà báo
chí Việt Nam đạt con số cao nhất, trên 400 tờ vào những năm 1930 - 1939. Con
số này có giảm đi khi quân đội Nhật vào Đông Dương, nhưng đến cách mạng
tháng Tam thành công, con số là trên 200 tờ.
Dòng báo công khai, hợp pháp càng có sự phân hoá sâu sắc theo những
màu sắc chính trị - xã hội khác nhau và nở rộ các loại báo chuyên biệt cho từng
giới, nghề nghiệp, tôn giáo, giải trí
Đặc biệt sự trưởng thành của báo giới được thể hiện ở con số người làm
báo, cơ cấu xã hội và nghề nghiệp của họ, tính cách hiện đại hoá càng tăng
thêm. Đầu những năm 40 Hoa Bằng đã nhận xét : Nghề làm báo xứ ta mới xuất
hiện độ 70 năm nay. Bây giờ Nhật báo, tạp chí, sớm gióng trống, tối khua
chuông, đổi mới tai mắt dân chúng không phải là mới lạ nữa. Báo chí trở thành
một nghề mới, một sự nghiệp. Báo được in ra với đủ loại ngôn ngữ, đủ loại báo
và chỉ được biệt phát triển tạp chí chuyên ngành, đã có báo nói (trong tay quân
đội Pháp), báo đã bắt đầu in màu, nhiều ảnh và khá mỹ thuật.
Báo chí cách mạng vẫn đi đầu cả về số lượng và mức độ ảnh hưởng tỏng
quần chúng. Sau thất bại của khởi nghĩa Yên Bái và cao trào đấu tranh do Đảng
Cộng sản lãnh đạo, một tâm lý thất vọng, cầu an hưởng lạc len vào các tầng lớp
tư sản, tiểu tư sản trí thức, học sinh ở thành thị. Dưới sự áp bức của phong kiến,
của thực dân, họ sợ cách mạng, sợ đổ máu, sợ không dám đấu tranh trực diện về
chính trị mà chỉ hoạt động văn hoá với mục đích cải lương. Do đó trong báo chí
xuất hiện một trào lưu mới : văn chương lãng mạn trào phúng thịnh hành tiêu
biểu của nó là nhóm Tự lực văn đoàn gồm những nhà văn trong tầng lớp tiểu tư
Trần Ngọc Quỳnh – K32B Báo In 18
18
Đề tài: Những đóng góp của “Nam Phong tạp chí” và “ Đông Dương tạp chí”
đối với văn học Việt Nam
sản chịu ảnh hưởng của tư sản dân tộc. Trên hai tờ Phong Hoá và ngầyny họ
không dám đả kích càng không dám mơ đến việc thay đổi chế độ đương thời mà

mới tiến bộ, Kiến văn, Tiếng trẻ, Nhành lúa lấn át những tiếng cười vui vẻ và
đánh ngã những thuyết duy tâm và nghệ thuật vị nghệ thuật của nhóm báo tiên
tiến hoá và báo Sông Hương.
Từ năm 1936, đặc biệt là từ sau phong trào Đông Dương đại hội một mặt
trận dân chủ hình thành. Những nhóm cộng sản xuất hiện với những tờ báo
Chính danh của nó. Phong trào công khai thời kỳ này (với các khẩu hiệu đòi tự
do cơm áo và hoà bình), một mặt đã pháp lý hoá cho những tờ báo cộng sản, mặt
khác thông qua những khẩu hiệu này báo chí góp phần thúc giục nhân dân nổi
dậy đấu tranh : từ phong trào đón tiếp Gôđa đến cuộc mít tinh ngày 1/5 thu hút
hàng vạn người tham gia cùng hàng trăm cuộc đình công dưới ảnh hưởng của
các phong trào này. Tác dụng của báo chí còn củng cố tình đoàn kết Trung -
Việt (ủng hộ cuộc kháng chiến của Trung Quốc) chống tư tưởng thân Nhật,
ngoan ngoãn âm mưu của bọn phong kiễn cấu kết thực dân nhằm trở lại hiệp
ước 1884. Báo chí cộng sản và mặt trận dân chủ ngày càng giữ vai trò quan
trọng trong các hội nghị báo giới Bắc và Trung Kỳ hồi bấy giờ.
Từ phong trào đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng từ sự cương quyết của
Đảng cộng sản tờ báo Dân chúng ra đời, không phải xin phép thực dân. Sự ra
đời của tờ báo tiếng việt đầu tiên không xin phép là một bước nhảy quan trọng
trong báo chí. Rõ ràng dưới sức ép của quần chúng đã buộc đế quốc phải
nhựơng bộ.
Ngoài tờ báo của cộng sản và các lực lượng tiến bộ, báo chí thời kỳ này
còn xuất hiện các tờ báo mang hình thức khác nhau. Tờ báo của phái Tờ rốt kít,
báo dân của Việt Nam quốc dân đảng, mang xu hướng cải lương như ngày nay,
chủ trương tự trị chống độc lập dân tộc như tờ L’Effort (nỗ lực), cho đến mấy tờ
báo Bảo Hoàng (Tổ quốc An Nam, Việt cường), những tờ báo chuyên phá rối
cộng sản : Tranh đấu, Tia sáng, Phụ nữ thời đàm, các tờ báo tôn giáo, các tờ
chuyên môn như Đông y tùng báo, y học thừơng thức (1939), các tờ địa phương
như tỉnh Ninh Bình (1936 - 1939), Ninh Thuận công báo (1938). Ngoài ra còn
Trần Ngọc Quỳnh – K32B Báo In 20
20

Trần Ngọc Quỳnh – K32B Báo In 21
21
Đề tài: Những đóng góp của “Nam Phong tạp chí” và “ Đông Dương tạp chí”
đối với văn học Việt Nam
lịch sử của dân tộc. Cách mạng tháng Tám thành công, vì thế không chỉ là sự
thắng lợi về chính trị mà còn là sự thắng lợi về tư tưởng, về văn hoá.
PHẦN III. PHẦN KẾT LUẬN
Báo chí Việt Nam ra đời vào thời khắc thật đặc biệt tồn tại và phát triển
gắn liền với quá trình xâm lược và nô dịch văn hoá của thực dân Pháp. Chính
hoàn cảnh đó đã quy định rất lớn tới sự phát triển của dòng báo chí Việt Nam.
Đặc biệt trong những giai đoạn đầu khi Pháp vẫn giữ quyền thống trị đối với báo
chí. Báo chi Việt Nam vì vậy có thể coi là xuất phát tử dòng báo thuộc địa !
Điều đó khẳng định ngay từ đầu báo chí phải làm nhiệm vụ là công cụ cho cuộc
đấu tranh chính trị của nhân dân ta.
Nhìn vào lịch sử báo chí thuộc địa 80 năm qua (1865 - 1945) ta thấy rõ
ràng các thái độ tiếp nhận của nhiều tằng lớp nhân dân, trước sự du nhập của
văn minh phương Tây (ở đây là báo chí). Từ mục đích là công cụ thống trị nô
dịch văn hoá của thực dân Pháp, báo chí đã dần trở thành một vũ khí sắc bén
nhằm chống lại chính sự nô dịch ấy. Các giai tầng Việt Nam vươn lên nắm lấy
tờ báo trong tay thực dân. Nếu như trước 1919 do chính sách ngăn cản cấm
đoán, sự kiểm duyệt khắt khe của đế quốc, báo chí hầu như chỉ là tiếng nói của
thực dân và phong kiến tay sai thì từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất với sự ra
đời và lớn mạnh của các tầng lớp nhân dân đã bộc lộ nhu cầu thể hiện mình lao
vào những cuộc đấu tranh chính trị, xã hội và kinh tế và báo chí là vũ khí mà họ
sử dụng. Song chỉ có những người cách mạng theo khuynh hướng vô sản mới sử
dụng thành công báo chí với ý nghĩa là công cụ tư tưởng văn hoá để vận động
quần chúng đi theo cách mạng và đưa cách mạng đến thắng lợi cuối cùng. PGS-
TS Phạm Xanh trong bài : Nguyễn An Ninh - người khơi dòng báo chí độc lập
Trần Ngọc Quỳnh – K32B Báo In 22
22

Đề tài: Những đóng góp của “Nam Phong tạp chí” và “ Đông Dương tạp chí”
đối với văn học Việt Nam
PHẦN IV. DANH MỤC NHỮNG TÀI LIỆU THAM KHẢO
* Sách
1. Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lê - Đại cương
lịch sử Việt Nam , Tập II - Nxb Giáo dục , 2000.
2. Đỗ quang hưng - Lịch sử báo chí Việt Nam (1865 - 1945) - Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội , 2000.
3. Đỗ quang Hưng - Tiếp xúc văn hoá Đông Tây ở Việt Nam thời cận đại
- Chuyên đề giảng dạy, Hà Nội , 1997.
4. Hồng Chương : Tìm hiểu lịch sử báo chí Việt Nam - Nxb Sự Thật, H,
1987.
* Tạp chí .
1. PGS-TS Phạm Xanh - Nguyễn An Ninh - Người khơi dòng báo chí đối
lập Việt Nam dưới thời thuộc Pháp - Tạp chí Xưa và Nay số 144 (T7/2003)
trang 12,13,14, 39.
2. Phạm Thanh : Tìm hiểu những Nhà báo đầu tiên ở Việt Nam - Tạp chí
báo chí và tuyên truyền số 3 (Tháng 5 + tháng 6 năm 2003) trang 42-43.
Trần Ngọc Quỳnh – K32B Báo In 24
24
Đề tài: Những đóng góp của “Nam Phong tạp chí” và “ Đông Dương tạp chí”
đối với văn học Việt Nam
MỤC LỤC
Trần Ngọc Quỳnh – K32B Báo In 25
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status