SKKN Một số biện pháp giúp HS học tốt bài văn dạng bài kể ngắn lớp 2 - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT TẬP LÀM
VĂN DẠNG BÀI KỂ NGẮN LỚP 2 Ở TIỂU HỌC LIÊN KHÊ"
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌ ĐỀ TÀI
Xuất phát từ mục tiêu dạy Tiếng Việt ở Tiểu học là “Cung cấp cho học sinh vốn tri
thức Tiếng Việt và rèn cho học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt như một công cụ
giao tiếp và công cụ để tư duy”.
Môn Tập làm văn là một môn học mới đối với học sinh lớp 2 nên môn Tập làm văn
giữ một vị trí đặc biệt quan trọng bởi nó đã tận dụng những hiểu biết và kỹ năng về Tiếng
Việt do các phân môn khác rèn luyện hoặc cung cấp thêm. Đồng thời hoàn thiện những
kỹ năng đó trong quá trình làm các bài tập làm văn, học sinh được rèn luyện, hoàn thiện,
phát triển những kỹ năng nói, viết.
Sau một số năm làm công tác quản lí, chỉ đạo chương trình Tiểu học mới tôi thấy
cũng cần nhìn nhận lại nội dung và phương pháp dạy học Tập làm văn lớp 2 để thấy được
những ưu điểm, nhược điểm những hạn chế để từ đó có những biện pháp, cách thức góp
phần nâng cao chất lượng dạy học môn tập làm văn. Mặt khác để giúp giáo viên có biện
pháp giúp học sinh nói viết đúng, có khả năng sử dụng chính xác Tiếng Việt trong giao
tiếp ở cộng đồng và trong học tập các môn học khác thuận lợi hơn. Bên cạnh đó đáp ứng
được yêu cầu đòi hỏi của xã hội, phù hợp với năng lực, trình độ của học sinh và chất
lượng của giáo dục.
Xuất phát từ thực tế và những lí do trên thì làm thế nào để giúp học sinh học tốt
phân môn Tập làm văn khối Hai tôi xin đưa ra một kinh nghiệm đó là: “Một số biện
pháp giúp học sinh học tốt Tập làm văn dạng bài kể ngắn lớp 2 ở Tiểu học Liên
Khê”.
II. MỤC ĐÍCH NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Đánh giá thực trạng dạy học Tập làm văn lớp 2 của trường Tiểu học Liên Khê và chỉ ra
những ưu nhược điểm
- Khảo sát và phân tích nội dung, phương pháp các loại văn bản dạy học của phân môn
Tập làm văn.

Hoạt động lời nói là một cấu trúc động bao gồm bốn giai đoạn kế tiếp nhau: Định
hướng, lập chương trình, thực hiện hoá chương trình và kiểm tra. Cấu trúc này đã được
các tác giả phương pháp tập dạy học. Tập làm văn vận dụng triệt để khi xây dựng hệ
thống kĩ năng làm văn, có thể thấy mối quan hệ này trong sơ đồ sau:
Cấu trúc hoạt
động lời nói
Hệ thống kỹ năng làm văn
1. Định hướng 1. Kĩ năng xác định đề bài, yêu cầu và giới hạn
đề bài ( kĩ năng tìm hiểu đề )
2. Kĩ năng xác định tư tưởng cơ bản của bài viết.
2. Lập chương
trình và nội dung
biểu đạt
3. Kĩ năng tìm ý ( thu thập tài liệu cho bài viết)
4. K năng lập dàn ý ( hệ thống hóa lựa chọn tài
liệu)
3. Thực hiện hóa
chương trình
5. Kĩ năng diễn đạt ( dùng từ đặt câu thể hiện
chính xác, đúng đắn phong cách bài văn, tư
tương bài văn).
6. Kĩ năng viết đoạn, viết bài theo phong cách
khác nhau (miêu tả, kể chuyện, viết thư, .)
4.Kiểm tra 7. Kĩ năng hoàn thiện bài viết ( phát hiện và sửa
chữa lỗi )

Mỗi đề bài tập làm văn đều xác định một nhiệm vụ giao tiếp, việc định hướng trong
một giao tiếp sẽ được thực hiện dưới dạng tìm hiểu đề bài. Việc tìm hiểu đề bài phải được
trả lời câu hỏi nói ( viết ) để làm gì ( xác định mục tiêu nói năng ), nói ( viết ) về cái gì
(xác định nội dung nói năng), nói ( viết ) theo thể loại nào ( hình thức nói năng), nói ( viết

là những hiểu biết, những nhận thức về thế giới xung quanh, về xã hội và chính bản thân
con người, nội dung này tạo thành nghĩa sự vật của văn bản.
Bình diện thứ hai là nội dung thông tin về những cảm xúc, tình cảm, thái độ của
người viết đối với đối tượng, sự việc được đề cập đến, đối với người tham gia hoạt động
giao tiếp, nội dung này tạo ra nghĩa liên kết cá nhân của văn bản.
3.3. Đoạn văn và cấu trúc của đoạn văn
Đoạn văn là một bộ phận của văn bản bao gồm một số câu liên kết với nhau chặt chẽ
thể hiện một cách tương đối trọn vẹn về một tiểu chủ đề. Nó có một cấu trúc nhất định và
được tách ra khỏi đoạn văn khác bằng dấu hiệu chấm xuống dòng, được bắt đầu bằng chữ
cái hoa viết thụt đầu dòng.
Cấu trúc của đạon văn gồm:
+ Cấu trúc diễn dịch
+ Cấu trúc quy nạp
+ Cấu trúc song song
+ Cấu trúc phối hợp
3.4. Một số thể loại tập làm văn được dạy ở Tiểu học
3.4.1. Miêu tả
Theo từ điển Tiếng Việt - Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội; 1997 có nghĩa là: “
Thể hiện sự vật bằng lời nói hay nét vẽ”
Theo Đào Duy Anh trong Hán Việt tự điển, “ miêu tả” là “ lấy nét vẽ hoặc câu văn
để biểu hiện cái chân tướng của sự vật ra”.
Trong văn học, nhà văn “ miêu tả” là bằng ngôn ngữ sinh động đã khắc họa những
nét đặc trưng những đặc điểm, tính chất … tạo nên bức tranh khiến người đọc, người
nghe như cảm thấy mình đang đứng trước sự vật hiện tượng đó.
3.4.2. Kể chuyện
Truyện là một loại thể hiện văn học lớn thuộc loại tự sự có hai phần chủ yếu là cốt
truyện và nhân vật, thủ pháp nghệ thuật chính là kể.
4. Các quy tắc hội thoại và dạy hội thoại ở Tiểu học
Quy tắc hội thoại là những quy tắc bất thành văn nhưng được xã hội chấp nhận và
những người tham gia hội thoại phải tuân theo khi vận động hội thoại để cho cuộc vận

+ Học sinh 1: Ngoài 35 tuổi
+ Học sinh 2: Mẹ của em gần 14 tuổi
+ Học sinh 3: Mẹ em 60 tuổi
Trong các câu trả lời của học sinh thì câu 1 học sinh trả lời thiếu bộ phận trả lời câu
hỏi Ai?, câu trả lời của học sinh 2, 3 sử dụng độ tuổi với mẹ chưa đúng. Tuổi mẹ quá trẻ
hoặc quá già do các em chưa nắm được tuổi của từng tuổi của từng lứa tuổi đối với người
trưởng thành.
- Do học sinh trường ở khu vực nông thôn, học sinh ít được giao tiếp trước đám đông
nên khả năng nói của các em còn rụt rè, ngại trình bày ý kiến của mình trước mọi người.
- Học sinh chưa xác định rõ nội dung, yêu cầu của bài yêu cầu các em làm gì? Các
câu hỏi phải trả lời như thế nào? Các em chọn những từ ngữ nào để trả lời.
- Một số em chưa hiểu bài nhưng chưa mạnh dạn có ý kiến với giáo viên.
Về phía giáo viên
Tôi đi sâu vào dự giờ thăm lớp các giáo viên trong trường với phân môn “Tập làm
văn” nói chung ở các khối và đặc biệt môn Tập làm văn ở khối 2 nói riêng, tôi nhận thấy
rằng:
- Giáo viên chưa nắm vững ý đồ, nội dung các bài tập đưa ra trong tiết Tập làm văn.
- Phương pháp giảng dạy còn đơn điệu, rập khuôn máy móc theo sách hướng dẫn.
- Giáo viên chưa làm rõ các bước cần thiết của một tiết học, chỉ quan tâm đến việc
học sinh nói đúng viết đúng theo ý cô giáo sao cho nhanh để giải quyết hết các bài tập
đưa ra trong tiết học. Từ đó dẫn đến học sinh tiếp thu bài một cách thụ động.
- Giáo viên chưa quan tâm đến sửa câu, cách dùng từ đặt câu, cách dùng từ sai của
học sinh.
- Chưa khắc sâu nội dung kiến thức cần đạt được sau mỗi bài tập.
Nội dung chương trình sách giáo khoa
- Các dạng bài tập đưa ra nhiều nhưng chưa khắc sâu được nội dung kiến thức cho
từng dạng bài.
- Hình thức các bài tập đưa ra giông nhau nên chưa kích thích sự hứng thú học tập
của các em.
- Thời gian mỗi tiết tập làm văn học sinh giải quyết từ 2 đến 4 bài tập trong khoảng

+ Dạng 2: Các kĩ năng phục vụ học tập và đời sống hàng ngày
Dạng bài tập này gồm:
- Khai bản tự thuật - Tra mục lục sách
-Viết tin nhắn để nhắn tin, chia
vui, chia buồn
- Luyện tập về thời khóa biểu
- Nhận và gọi điện thoại - Luyện thời gian biểu
- Đọc và lập danh sách học sinh
+ Dạng 3: Kể ngắn ( hay thực hành rèn luyện kĩ năng diễn đạt nói )
- Kể ngắn theo tranh - Kể về người thân
- Kể ngắn theo câu hỏi - Kể về con vật
- Kể về gia đình - Kể chuyện được chứng kiến

+ Dạng 4: Tả ngắn ( hay thực hành rèn luyện kĩ năng diễn đạt viết )
- Tả ngắn về 4 mùa
- Tả ngắn về loài chim
- Tả ngắn về biển
- Tả về cây cối
- Tả ngắn về Bác Hồ
+ Dạng 5: Thực hành rèn luyện kĩ năng nghe
Dạng này dựa vào những câu hỏi gợi ý để kể lại hoặc nêu được ý chính của mẩu
chuyện ngắn đã nghe.
Trong khuôn khổ cho phép của đề tài này tôi đi sâu giúp giáo viên dạy tốt dạng bài
“ Kể ngắn”.
2.4. Nhận xét các nội dung, bài tập dạy tập làm văn dạng “Kể ngắn” ở lớp 2
Qua việc nghiên cứu nội dung dạy Tập làm văn 2, dạng bài tập “Kể ngắn” được sắp
xếp như sau:
Tuần Nội dung bài Trang
1(Bài 3) Kể lại nội dung mỗi tranh dưới đây bằng 1, 2
câu để tạo thành câu chuyện. 12

Bài Nội dung bài Tuần/
Trang
Ghi chú
3 Kể lại nội dung mỗi tranh dưới đây
bằng 1,2 câu để tạo thành câu
chuyện
1/12
Bốn tranh không
có gợi ý
1
Sắp xếp lại thứ tự các tranh dưới
đây, dựa theo nội dung các tranh
ấy kể lại câu chuyện ( Gọi bạn )
3/30
Nội dung bài tập
đọc ( Gọi bạn)
nay giảm tải
1
Hãy dựa vào các tranh sau trả lời câu
hỏi
5/47
Mỗi tranh gợi ý
bằng một câu hỏi
1
Dựa vào tranh vẽ, hãy kể câu
chuyện có tên ( Bút của cô giáo )
7/62
Có gợiýbằng lời
một số nhân
vật

lớp 2 chưa có hệ thống thể hiện nội dung, chưa đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức
tạp nên học sinh khó định hướng vào nội dung thể hiện trong mỗi bức tranh.
Ví dụ: Bài tập 3 trang 12 được học ngay ở tuần 1, bài tập đưa ra 4 bức tranh yêu cầu
học sinh mỗi tranh kể lại bằng 1, 2 câu. Mặc dù trong 4 bức tranh đã có 2 bức tranh các
em được quan sát, học ở phân môn Luyện từ và câu nhưng các tranh đều không có gợi ý
làm điểm tựa cho các em là một điều rất khó khi các em mới lên lớp 2, mới học môn mới,
còn hầu hết các bài tập tiếp theo ở các tuần sau đều có những gợi ý từng tranh. Hay tính
không hệ thống thể hiệ ở bài tập 1 trang 62 tuần 1, có 4 bức tranh yêu cầu học sinh kể lại
câu chuyện có tên ( Bút của cô giáo) trong khi đó sự gợi ý ở mỗi tranh quá út nên các em
khó kể được chuyện ngay ở tuần 7.
- Thời gian cho mỗi bài tập ít, thường mỗi tiết Tập làm văn học sinh làm từ 2 đến 3
bài tập, mỗi bài tập trong một tiết thuộc các dạng khác nhau nên việc khai thác dạng bài
tập quan sát tranh trả lời câu hỏi có phần bị hạn chế, bị bó hẹp trong khoảng thời gian
nhất định. Vì vậy chỉ học sinh giỏi, nhận thức nhanh mới nắm bắt được nội dung chính
của các tranh còn đa số học sinh học rất thụ động, nhất là học sinh trường tôi ở vùng
nông thôn. Chẳng hạn: Tiết tập làm văn tuần 5 trang 47 có 3 bài tập tương ứng với 3 nội
dung:
+ Bài 1: Trả lời câu hỏi
+ Bài 2: Đặt tên cho bài
+ Bài 3: Luyện tập về mục lục sách
Hay tiết tập làm văn tuần 7 trang 62 có 3 bài tập tương ứng với 2 nội dung:
+ Bài 1: Kể theo tranh
+ Bài 2,3: Luyện tập về thời khóa biểu
- Sách giáo viên hướng dẫn phương pháp dạy học, không có định hướng cụ thể cho
mỗi bài “kể ngắn theo tranh”, hầu hét các dạng bài này đưa ra cách dạy như sau:
+ Giáo viên giúp học sinh nắm vững yêu cầu bài
+ Giáo viên giúp học sinh chữa một phần bài tập
+ Học sinh làm bài vào vở
+ Giáo viên tổ chức cho học sinh trao đổi, nhận xét về kết quả, rút
ra những điểm ghi nhớ về tri thức

- Từ kĩ năng nói, dựa vào các câu trả lời, viết được một đoạn văn khoảng 4, 5 câu về
thầy, cô giáo.
- Rèn học sinh cách nói, viết. Nói rõ ràng, rành mạch, viết thành câu.
Từ những mục đích đề ra, tôi thấy khi giảng dạy học sinh chỉ đạt được yêu cầu sau:
Nói được tên cô giáo lớp 1 của mình, đúng thực tế
- Biết trả lời được 4 câu hỏi.
Bên cạnh những học sinh đạt được tôi thấy trong quá trình giảng dạy còn gặp một số
những hạn chế, khó khăn sau đây:
* Về học sinh:
- Chưa biết tìm những từ nói về tình cảm của người lớn đối với trẻ con và ngược lại.
- Chưa biết cách sử dụng từ đúng chỗ tùy thuộc vào văn cảnh.
Ví dụ: Với câu hỏi 4 học sinh trả lời
+ Em rất chu đáo, tận tình với cô giáo của em
- Học sinh chưa biết cách trả lời mà hầu hết chỉ biết cách bám sát vào câu hỏi và thêm
từ trả lời như trong học Toán học.
Chẳng hạn với bài tập trên học sinh trả lời:
a. Cô giáo lớp 1 của em tên là Thanh
b. Tình cảm của cô đối với em là thương yêu.
c. Em nhớ nhất điều ở cô là cô cho em mượn bút ạ!
d. Tình cảm của em đối với cô là kính trọng.
* Về phương pháp giảng dạy
Tôi thấy hầu hết giáo viên giảng như sách giáo viên như sau:
- Một học sinh đọc yêu cầu của bài, cả lớp đọc thầm, suy nghĩ.
- Giáo viên mở bảng phụ đã viết 4 câu hỏi (a, b, c, d); mời 4 học sinh nêu lần lượt
4 câu hỏi, hỏi các bạn:
Học sinh 1 hỏi: Cô giáo (hoặc thầy giáo) lớp 1 của em tên là gì? (Nhiều HS tiếp nối trả
lời).
Học sinh 2 hỏi: Tình cảm của cô (hoặc thầy) đối với học sinh như thế nào? (Nhiều HS
tiếp nối trả lời).
Tương tự như thế với câu 3, 4 giáo viên khuyến khích HS trả lời hồn nhiên, chân thực

+ Nhiều em không biết dùng từ đặt câu đúng với văn cảnh.
+ Chưa biết cách xưng hô trong khi kể về gia đình.
- Đối với giáo viên: Chỉ đưa ra phương pháp giảng dạy như sách giáo viên.
2.4.4. Kể về người thân
Dạng bài “ Kể về người thân” là dạng tiếp nối bài “ Kể về gia đình”, ở dạng bài
“ Kể về gia đình” đòi hỏi học sinh phải kể tất cả thành viên trong gia đình mình, còn ở
dạng bài “ Kể về người thân” sách giáo khoa đưa ra như sau:
Bài Nội dung của bài Yêu cầu, tên bài Tuần /trang
1 Kể về ông, bà (hoặc 1 người thân của Kể về người 10/85
em)
Gợi ý:
a, Ông, bà (hoặc người thân )của
em bao nhiêu tuổi?
b, Ông, bà (hoặc người thân ) của
em làm nghề gì?
c, Ông, bà (hoặc người thân ) của
em yêu quý, chăm sóc em như thế
nào?
thân
2 Dựa theo lời kể ở bài tập 1, hãy
viết 1 đoạn văn ngắn từ 3 đến 5
câu kể về ông, bà hoặc người thân
của em.
3
Hãy viết từ 3 đến 4 câu kể về anh,
chị, em ruột ( hoặc anh, chị, em
họ) của em.
Kể về anh, chị
em
15/126

- Khi kể việc sử dụng từ của các em còn lặp lại từ, liên kết giữa các câu còn chưa
chặt chẽ.
Ví dụ: Mẹ em đã cao tuổi, mẹ em trắng hồng, mẹ em làm ruộng, em rất yêu mẹ.
2.4.5. Kể về con vật
Dạng bài kể về con vật sách giáo khoa đưa ra một bài tập được trình bày như sau:
Bài : Kể về một con vật nuôi trong nhà mà em biết.
( Tiếng Việt2 tập 1 trang 137, tuần 16 ).
a. Mục đích cần đạt:
- Học sinh biết kể về một vật nuôi trong gia đình.
- Biết quan sát và nói được đặc điểm nổi bật của con vật mà các em đã quan sát
- Rèn kĩ năng nói thành câu, liên kết các câu thành đoạn văn
- Có ý thức bảo vệ, chăm sóc vật nuôi trong nhà.
b. Những hạn chế, khó khăn khi dạy
- Thời gian dành cho bài tập quá ít, một tiết Tập làm văn đòi hỏi học sinh thực
hiện 3 yêu cầu: Khen ngợi. Kể về con vật. Lập thời gian là rất khó.
- Học sinh chưa biết lựa chọn những đặc điểm nổi bật về hình dáng, về hoạt động
để kể mà hầu hết các em chỉ kể mang tính liệt kê tất cả các bộ phận. Chẳng hạn: Con
chó nhà em có bộ lông vàng. Nó có 2 cái tai, một cái đầu, 4 cái chân và 1 cai đuôi ngoe
nguẩy.
- Học sinh chưa biét kể tình cảm, thái độ của mình đối với con vật nuôi.
2.4.6. Kể chuyện được chứng kiến
Dạng bài này cũng như dạng bài “ Kể về vật nuôi được đưa ra 1 bài tập ở tuần 33 và
được trình bày như sau:
Bài: Hãy viết 1 đoạn văn ngắn (3 đến 4 câu) kể một việc tốt của em (hoặc của bạn
em).

Trích đoạn Biện pháp 3: Xây dựng một số bài tập bổ trợ luyện kỹ năng “Kể ngắn” cho học sinh lớp Tìm những từ ngữ nói về tình cảm của con cháu đối vớiông bà, bố mẹ? ĐÁP ÁN Em rất vui vẻ với mọi người.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status