Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Tài chính
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 2
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG CÔNG TÁC CHO VAY CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1
1.1 Rủi ro cho vay của ngân hàng thương mại 1
1.1.1 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 1
1.1.2 Rủi ro cho vay của ngân hàng thương mại 2
1.2.2 Biểu hiện hạn chế rủi ro cho vay 6
1.3 Các nhân tố tác động tới hạn chế rủi ro cho vay 8
1.3.3 Nhân tố thuộc về môi trường 9
2.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế chi nhánh Hà Đông 11
2.3. Đánh giá thực trạng rủi ro cho vay tại chi nhánh ngân hàng 24
2.3.2 Những điểm yếu và nguyên nhân 25
3.6 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tín dụng 31
Trần Đình Đang MSV:07A12880N
Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Tài chính
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt :Chữ viết đầy đủ
VIB : Ngân hàng Quốc Tế Việt Nam
TCKT : Tổ chức kinh tế
QĐ : Quyết định
NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
Trần Đình Đang MSV:07A12880N
Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Tài chính
LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động ngân hàng ngày nay được coi là xương sống của nền kinh tế, sự
phát triển của nó phản ánh đúng thực trạng kinh tế của mỗi quốc gia. Trong
VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Rủi ro cho vay của ngân hàng thương mại
1.1.1 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại
Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng đầu tiên ra đời ở Ý vào thời kỳ phục hưng. Các ngân hàng có
nguồn gốc từ những người đổi tiền. Từ “ngân hàng-bank” có nguồn gốc từ từ
“banca” trong tiếng Ý nghĩa là cái ghế băng nới những người đổi tiền thương
ngồi để tiến hành các hoạt đông kinh doanh. Những người làm người đổi tiền là
những nhà giàu nên thường có két sắt an toàn do đó họ nhận luôn việc giữ các
đồ vật quý cho những người chủ sở hữu nó, tránh gây mất mát. Đổi lại, người
chủ sở hữu phải trả cho người giữ một khoản tiền công. Khi công việc này mang
lại nhiều lợi ích cho những người gửi, các đồ vật cần gửi ngày càng đa dạng
hơn, các vật có giá trị như vậy là tiền, dần dần, ngân hàng là nơi giữ tiền cho
những người có tiền. Khi xã hội phát triển, thương mại phát triển, nhu cầu về
tiền ngày càng lớn, tức là phát sinh nhu cầu vay tiền ngày càng lớn trong xã hội.
Khi nắm trong tay một lượng tiền, những người giữ tiền nhận thấy thường xuyên
có người gửi tiền vào và có người rút tiền ra. Tuy nhiên những người gửi tiền
không rút tiền cùng một lúc nên thường xuyên có số dư. Và những người giữ
tiền nảy ra ý định cho vay số tiền đó. Từ đó phát sinh nghiệp vụ đầu tiên nhưng
cơ bản nhất của ngân hàng nói chung, đó là huy động vốn và cho vay vốn.
Ngân hàng là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài
chính đa đạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực
hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào
trong nền kinh tế.
Trần Đình Đang MSV:07A12880N
1
Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Tài chính
1.1.1.2 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Khái niệm tín dụng :
Rủi ro cho vay là khả năng khách hàng nhận khoản vốn vay không thực
hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng, gây tổn thất cho ngân
hàng, đó là khả năng khách hàng không trả, không trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc
và lãi cho ngân hàng.
Rủi ro cho vay được gắn liền với hoạt động quan trọng nhất, có quy mô
lớn nhất của NHTM – hoạt động cho vay.
1.1.2.2 Nguyên nhân dẫn tới rủi ro cho vay trong ngân hàng thương mại
Hoạt động ngân hàng chứa đựng nhiều tiềm ẩn rủi ro mà chúng ta khó có
thể lường trước được. Nguyên nhân của những tiềm ẩn rủi ro này là do ngân
hàng là một trung gian tài chính, huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế với lãi
suất thấp, sau đó cho các tổ chức kinh tế, cá nhân vay lại với lãi suất cao để thu
lợi nhuận. Nếu ngân hàng không đáp ứng đủ vốn cho nền kinh tế hoặc huy động
đủ vốn nhưng không có thị trường để cho vay thì ngân hàng hoạt động kém hiệu
quả, sẽ dẫn đến rủi ro.
Hoạt động kinh doanh ngân hàng rất nhạy cảm, có liên quan đến nhiều
lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, chịu sự tác động của nhiều nhân tố khách
quan và chủ quan như kinh tế, chính trị, xã hội … Từ đó cũng gây ra những thiệt
hại không nhỏ cho ngân hàng. Hơn nữa, ngân hàng kinh doanh không những chỉ
huy động vốn và cho vay mà còn rất nhiều lĩnh vực khác như thanh toán, bảo
lãnh, kinh doanh ngoại hối, chứng khoán, góp vốn liên doanh, dịch vụ thẻ đại lý
… Vì vậy có thể nói rằng rủi ro ngân hàng rất đa dạng. Ngoài ra, các ngân hàng
đang hoạt động trong cơ chế thị trường có sự cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân
hàng với nhau hoặc giữa các tổ chức tín dụng, dẫn đến việc cạnh tranh về lãi
suất để huy động được vốn, làm cho lãi suất huy động vốn cao hơn lãi suất cho
vay cũng là một trong những nguyên nhân gây ra rủi ro cho ngân hàng.
Do đặc thù kinh doanh của ngân hàng nên có rất nhiều loại rủi ro: rủi ro
lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng … Trong số tất cả
các loại rủi ro kể trên thì rủi ro trong hoạt động tín dụng là loại rủi ro lớn nhất và
phức tạp nhất, đang diển ra ở mức đáng quan tâm.
Trần Đình Đang MSV:07A12880N
không có người mua, hoặc là tiền thu về thấp hơn so với số tiền cho vay; trực
tiếp thu nợ gốc và lãi nhưng không nộp lại cho ngân hàng mà dùng cho mục
Trần Đình Đang MSV:07A12880N
4
Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Tài chính
đích cá nhân;lập hồ sơ giả để vay tiền cá nhân, vay hộ, nhờ người vay hộ; tẩy
xoá, sửa chữa chứng từ có giá để thế chấp vay tiền ngân hàng;
1.2 Hạn chế rủi ro cho vay của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm và sự cần thiết hạn chế rủi ro cho vay của ngân hàng
thương mại
Rủi ro là yếu tố gắn liền với mọi hoạt động đầu tư nói chung, trong đó có
hoạt động cho vay của các ngân hàng. Trong nỗ lực nhằm thu được lợi nhuận,
các ngân hàng không thể chối bỏ rủi ro, nghĩa là không thể không cho vay, mà
chỉ có thể tìm cách làm cho hoạt động này trở nên an toàn và hạn chế đến mức
tối đa những tổn thất có thể có bằng cách đề ra cho mình một chiến lược quản lý
rủi ro thích hợp.
Việc hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM là một việc rất
quan trọng bởi vì khi rủi ro tín dụng xảy ra không những ảnh hưởng trực tiếp
đến hiệu quả kinh tế mà nó tác động và ảnh hưởng to lớn về mặt xã hội.
Đối với nền kinh tế
Hoạt động ngân hàng liên quan đến hoạt động doanh nghiệp, các ngành
và các cá nhân, vì vậy khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản
thì người gởi tiền ở các ngân hàng khác hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến
rút tiền ở các ngân hàng khác, làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó
khăn. Ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản suất kinh doanh của
doanh nghiệp, không có tiền trả lương dẫn đến đời sống công nhân gặp khó
khăn. Hơn nữa, sự hoảng loạn của các ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ
nền kinh tế. Nó làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất
nghiệp tăng, xã hội mất ổn định.
Đối với ngân hàng
đảm bảo, hoặc tài sản đảm bảo không bán được, con nợ thua lỗ triền miên hoặc
phá sản.
Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ. Các chỉ tiêu này có liên
quan chặt chẽ với nhau và phản ánh các mức độ rủi ro tín dụng khác nhau. Đối
với ngân hàng, việc khách hàng không trả đúng hạn có liên quan đến thanh
khoản và rủi ro thanh khoản: chi phí tăng để tìm nguồn mới để chi trả tiền gửi và
chi vay đúng hợp đồng. Nợ khó đòi là một cảnh báo cho ngân hàng về khoản
vay từ đó ngân hàng tìm biện pháp khắc phục để thu lại nợ.
Trần Đình Đang MSV:07A12880N
6
Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Tài chính
Tổng các khoản nợ quá hạn hay nợ khó đòi nhiều khi không phản ánh
hết chất lượng tín dụng vì có khi nợ quá hạn tăng lên trong khi tổng dư nợ
cũng tăng lên. Cho nên khi xem xét mức độ rủi ro tín dụng người ta thường
tính toán chỉ tiêu nợ quá hạn đi kèm với tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ, tỷ
lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ. Tuy nhiên tỷ lện này có thể không chính xác do
đảo nợ, giãn nợ…
Nợ có vấn đề
Các khoản nợ có vấn đề là các khoản có khả năng thành nợ quá hạn. Các
khoản nợ có vấn đề được phát hiện sớm và được áp dụng các biện pháp thích
hợp sẽ ngăn ngừa các khỏan nợ quá hạn phát sinh giảm khả năng tổn thất mà
ngân hàng phải gánh chịu. Mỗi ngân hàng đều xây dựng cho mình một tiêu
chuẩn về nợ có vấn đề, tuy nhiên bởi vì nợ có vấn đề dễ chuyển thành nợ quá
hạn nên việc các khỏan nợ có vấn đề giảm về giá trị cũng như tỷ lệ nợ có vấn đề
trên tổng dư nợ giảm đi là một biểu hiện của việc hạn chế rủi ro tín dụng.
Việc trích lập dự phòng rủi ro
Quỹ dự phòng rủi ro được thành lập nhằm mục đích bù đắp và chi phí của
ngân hàng khi xảy ra rủi ro để không làm ảnh hưởng đột biến đến chi phí của
ngân hàng. Quỹ dự phòng rủi ro được ngân hàng trích lập theo quy định của
ngân hàng trung ương. Tỷ lệ trích lập dựa vào mức độ rủi ro của các khoản vay
1.3.2 Nhân tố thuộc về khách hàng
Ngân hàng thực hiện hoạt động cho vay nhằm phục vụ khách hàng, các
khoản cho vay nhằm phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh của khách hàng. Vì
vậy muốn hạn chế rủi ro tín dụng, thì ngân hàng không thể làm một mình mà
còn phải có sự hợp tác từ phía khách hàng. Các yếu tố phụ thuộc về bản thân
người vay như trình độ, năng lực quản lý ảnh hưởng trực tiếptớ hiệu quả của
phương án kinh doanh – nguồn trả nợ đầu tiên cho ngân hàng, từ đó ảnh hưởng
tới việc trả nợ cho ngân hàng. Trong trường hợp phương án kinh doanh không
hiệu quả thì năng lực tài chính của người vay lại là yếu tố mang quyết định trong
việc trả nợ ngân hàng. Bên cạnh đó, khách hàng có phẩm chất đạo đức tốt, vị trí
xã hội quan trọng đảm bảo dù không chắc chắn rằng khách hàng không cố tình
lừa đảo ngân hàng hay chây ỳ trong việc trả nợ. Như vậy, các yếu tố thuộc về
bản thân khách hàng như trình độ quản lý, năng lực tài chính, tư cách phẩm chất
đạo đức có ảnh hưởng lớn tới việc hạn chế rủi ro tín dụng trong ngân hàng.
Trần Đình Đang MSV:07A12880N
8
Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Tài chính
Ngoài những yếu tố thuộc về bản thân khách hàng thì môi trường hoạt
động của họ cũng tác động tới việc hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng. Một
khách hàng tốt không may bị các nguyên nhân khách quan như bão lụt chẳng
hạn làm ảnh hưởng đến hoạt động knh doanh làm cho họ không có khả năng trả
nợ mặc dù họ không có ý định không trả nợ.
1.3.3 Nhân tố thuộc về môi trường
Cũng giống như các doanh nghiệp khác, ngân hàng hoạt động và chịu
nhiều nhân tố thuộc về môi trường kinh tế xã hội, chính trị, pháp luật nói chung.
Hoạt động tín dụng của ngân hàng lại đặc biệt liên quan đến rất nhiều ngành
nghề trong nền kinh tế, vì vậy việc hạn chế rủi ro tín dụng chịu sự ảnh hưởng
của nhiều yếu tố khách quan. Đầu tiên là sự ổn định về tầm vĩ mô nói chung, nó
bao gồm sự ổn định về chính trị, luật pháp và xã hội. Một khi có môi trường ổn
định thì không chỉ ngân hàng nói riêng mà các doanh nghiệp nói chung mới có
để hạn chế rủi ro tín dụng được hiệu quả, bản thân ngân hàng phải đóng vai trò
trung tâm, đưa ra các biện pháp thích hợp để đảm bảo hoạt động vừa hiệu quả
vừa an toàn, các yếu tố thuọc về khách hàng hay môi trường chỉ đóng vai trò hỗ
trợ cho ngân hàng trong hạn chế rủi ro nói chung và rủi ro cho vay nói riêng.
Trần Đình Đang MSV:07A12880N
10
Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Tài chính
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG CÔNG TÁC CHO VAY TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ_CHI NHÁNH HÀ ĐÔNG.
2.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại cổ phần Quốc
Tế chi nhánh Hà Đông
2.1.1 Quá trình hình thành phát triễn và cơ cấu tổ chức của NHTM CP Quốc
Tế_chi nhánh Hà Đông.
2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Tế Việt Nam được thành lập theo
quyết định số 22/QĐ/NH5 ngày 25/01/1996 của Thống Đốc Ngân Hàng Nhà
Nước Việt Nam.
Được thành lập dưới một công ty cổ phần và có:
- Tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam
- Tên đầy đủ là Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Việt Nam
Ngân hàng được khai trương hoạt động vào ngày 18/09/1996 với số vốn điều
lệ ban đầu là 50 tỷ đồng Việt Nam và thời gian hoạt động là 99 năm. Sau hơn 10
năm hoạt động cho đến ngày 25/12/2007 vốn điều lệ của ngân hàng được tăng
lên là 2.000 tỷ đồng. Tổng tài sản đạt trên 35.000 tỷ đồng.
Cổ đông sáng lập của Ngân hàng Quốc Tế bao gồm các cá nhân, doanh
nhân thành đạt tại Việt Nam và trên trường quốc tế, cùng hai hệ thống ngân
hàng lớn là Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam và Ngân Hàng Nông Nghiệp và
Phát Triển Nông Thôn Việt Nam.
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức của chi nhánh VIB Hà Đông
Chi nhánh VIB Hà Đông là một đơn vị trực thuộc hệ thống VIB. Cũng giống
như các chi nhánh khác cơ cấu tổ chức của chi nhánh bao gồm 3 phòng ban vừa
phụ thuộc vừa độc lập với chức năng nhiệm vụ khác nhau. Có thể khái quát sơ
đồ cơ cấu tổ chức của chi nhánh VIB Hà Đông như sau:
Trần Đình Đang MSV:07A12880N
12
Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Tài chính
SƠ ĐỒ 1: CƠ CẤU TỔ CHỨC TẠI CHI NHÁNH VIB HÀ ĐÔNG
2.1.2 Khái quát tình hình hoạt động của chi nhánh VIB Hà Đông
Với phương châm hoạt động kinh doanh “ Luôn gia tăng giá trị cho bạn ”
trong những năm qua chi nhánh Hà Đông đã hoạt động, xây dựng dựa trên chất
lượng dịch vụ tiêu chuẩn cao nhất, phát triển hoạt động an toàn và bền vững,
nhằm không ngừng mang lại những lợi ích gia tăng cho khách hàng, đối tác, cán
bộ nhân viên trong hệ thống. Chi nhánh đã không ngừng tăng cường đầu tư
công nghệ đáp ứng được tốc độ phát triển, nâng cao chất lượng phục vụ được
khách hàng đánh giá cao trong suốt thời gian qua.
Trần Đình Đang MSV:07A12880N
13
Phòng
Kinh
Doanh
Phòng
Giao
Dịch
Khách
Hàng
Phòng
Giao
Giao Dịch
Khách
Hàng
Giám Đốc
chi nhánh
Hội Sở
Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Tài chính
BẢNG 2.1: TĂNG TRƯỞNG TỔNG TÀI SẢN
Đơn vị: triệu đồng
Năm 2009 2010 2011
Tổng tài sản 629506 654224 1087424
Tổng tài sản của chi nhánh năm 2011 đạt 1.087.424 triệu đồng tăng 66%
so với năm 2010 và tăng 72.7% so với năm 2009. Sở dĩ tổng tài sản năm 2011
tăng vọt so với năm trước là do được hội đồng cổ đông quyết định tăng vốn điều
lệ lên để tăng tính cạnh tranh cho chi nhánh và đáp nhu cầu phát triễn không
ngừng của chi nhánh.
BIỂU ĐỒ 2.1: TĂNG TRƯỞNG TỔNG TÀI SẢN
Đơn vị : triệu đồng
( Theo nguồn báo cáo tài chính 2009 – 2011 của chi nhánh)
Tình hình huy động vốn của chi nhánh
Trong vài năm gần đây tuy điều kiện huy động vốn có nhiều yếu tố không
thuận lợi như tỷ lệ lạm phát ở mức cao 12.63% đã gây ra nhiều tâm lý không
muốn gửi tiền vào ngân hàng của dân cư cộng với năm vừa qua ngân hàng Nhà
Nước quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc của hệ thống ngân hàng thương mại
từ 5% lên 10% làm cho chi phí huy động vốn của các ngân hàng tăng lên. Bên
cạnh đó thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán, thị trường vàng ngày
Trần Đình Đang MSV:07A12880N
14
Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Tài chính
càng phát triển nó thu hút một lượng vốn đáng kể đổ vào làm giảm lượng tiền
huy động từ tiền gửi của cá nhân là 468.777 triệu đồng tăng 119.12% so với năm
2010 và tăng 164.65% so với năm 2009. Số liệu cho thấy lượng vốn ngân hàng
huy động được vẫn tăng trưởng ổn định, điều này cho thấy khả năng huy động
vốn của Ngân hàng này ngày càng được mở rộng cùng với xu hướng phát triển
của xã hội ngân hàng, đã tập trung hướng huy động của mình tới các khách hàng
cá nhân ngày càng gần hơn.
BẢNG 2.3 : TỶ TRỌNG HUY ĐỘNG VỐN THEO KÌ HẠN
Đơn vị : triệu đồng
Năm 2009 2010 2011
Hình thức Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền` Tỷ trọng
Có kì hạn 312674 50.49% 280728 45% 150107 28.3%
Không kì hạn 306615 49.51% 343369 55% 380395 71.7%
Tổng 619289 100% 624097 100% 530502 100%
(Theo nguồn báo cáo tài chính 2009 – 2011 của chi nhánh)
Trần Đình Đang MSV:07A12880N
16
Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Tài chính
Bên cạnh việc chia hình thức huy động theo đối tượng huy động thì ngân
hàng còn chia lượng vốn huy động theo thời hạn huy động, thành tiền gửi có kì
hạn và tiền gửi không kì hạn.
Tiền gửi có kì hạn ngân hàng huy động được năm 2011 là.150107 triệu
đồng trong đó huy động từ cá nhân chiếm 93.2% còn lại là huy động từ các tổ
chức kinh tế. Điều này cho thấy ngân hàng đã chú trọng vào việc đưa ra nhiều
hình thức huy động nhằm thu được các khoản tiền với kì hạn nhất định. Nó cho
phép ngân hàng dự đoán tính thanh khoản chính xác hơn hạn chế rủi ro thanh
khoản và giảm thiểu chi phí huy động vốn khi phải dự trữ quá nhiều mà không
cần thiết.
Thực trạng sử dụng vốn tại chi nhánh
Nguồn vốn của chi nhánh trong thời gian qua được phân bổ hợp lý, phù hợp
quan trọng tạo tiền đề cho việc củng cố từng bước tiềm lực tài chính của chi
nhánh nói riêng và của hệ thống ngân hàng Quốc tế nói chung. Lợi nhuận sau
thuế năm 2011 của chi nhánh đạt 3.200 tỷ đồng tăng 35.1% so với năm 2010và
tăng 88.3% so với năm 2005, điều này cho thấy hoạt động của chi nhánh ngày
càng hiệu quả với khả năng tăng trưởng đều đặn, thực hiện tốt kế hoạch đề ra.
Bên cạnh đó thu nhập từ lãi chiếm 94% tổng thu nhập của chi nhánh.Thu nhập
từ các dịch vụ khác cũng ngày càng tăng, thu nhập ngoài lãi năm 2011 là 1.100
tỷ đồng tăng 54% so với năm 2010 và tăng 150% so với năm 2009. Từ số liệu
thực tế càng khẳng định chi nhánh đã biết đa dạng các hoạt động của mình để
đáp ứng nhu cầu hội nhập trong nền kinh tế.Bên cạnh từ doanh thu từ hoạt động
tín dụng truyền thống thì ngày nay chi nhánh phát triển mạnh các dịch vụ khác
như dịch vụ thanh toán, dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ tư vấn… và đang từng bước
mở rộng, nâng cao chất lượng của các dịch vụ này.
BIỂU ĐỒ 2.5 : HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA CHI NHÁNH
Trần Đình Đang MSV:07A12880N
18
Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Tài chính
Đơn vị: Tỷ đồng
2.2. Thực trạng rủi ro trong công tác cho vay của NHTMCP Quốc Tế_chi
nhánh Hà Đông.
2.2.1 Thực trạng hoạt động cho vay tại chi nhánh.
Khi nền kinh tế càng ngày càng phát triển thì tốc độ tăng dư nợ của các ngân hàng
càng ngày càng lớn. Vì vậy việc xây dựng một quy trình cấp tín dụng chặt chẽ, nhanh
gọn sẽ giúp các ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn. Do đó trong quá trình hoạt động
kinh doanh của mình đặc biệt trong hoạt động cho vay chi nhánh VIB Hà Đông luôn
tuân thủ các nguyên tắc và điều kiện mà hội sở đề ra trong quy trình cấp tín dụng.
Trần Đình Đang MSV:07A12880N
Xử lý
TSĐB
Chế độ lưu giữ
báo cáo
Thẩm định
Hoàn
chỉnh
thủ
tục
Tái thẩm
định
Luận Văn Tốt Nghiệp Khoa Tài chính
- Trường hợp cấp phê duyệt đồng ý, thì đơn vị cho vay vẫn có thể quyết
định không cấp tín dụng.
Hoạt động cho vay của chi nhánh rất đa dạng với nhiều hình thức cho vay
đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng. Hoạt động trên địa bàn khá rộng và mới
phát triển trong vài năm gần đây nên mục tiêu mà chi nhánh hướng tới là phục
vụ đối tượng khách hàng là cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Tổng dư nợ của chi nhánh năm 2011 đạt 1065.789 tỷ đồng, tăng 67.5% so
với năm 2010 và tăng 245.75% so với năm 2009. Dư nợ tín dụng của năm 2010
là 636.297 tỷ đồng tăng 146.72% so với năm 2009, điều này cho thấy rõ tốc độ
tăng trưởng đáng kể dư nợ tín dụng của chi nhánh trong thời gian qua.
Ngân hàng chia hình thức cấp tín dụng theo nhều tiêu thức khác nhau.
Nếu chia theo đối tượng khách hàng thì bao gồm cho vay các tổ chức kinh tế
và cho vay cá nhân hộ sản xuất.
BẢNG 2.5: DƯ NỢ TÍN DỤNG THEO ĐỐI TƯỢNG KHÁCH HÀNG
Đơn vị : triệu đồng
Năm 2009 2010 2011
Cho vay Dư nợ Tỷ trọng Dư nợ Tỷ trọng Dư nợ Tỷ trọng
TCKT 239395 55.2% 384899 60.5% 747118 70.1%
hàng đều cố duy trì rủi ro ở một mức nhất định có thể kiểm soát và chấp nhận,
đã được coi là thành công trong việc hạn chế rủi ro tín dụng.
BẢNG 2.6 : CHI TIẾT CÁC KHOẢN NỢ CÓ VẤN ĐỀ
Đơn vị : triệu đồng
Năm 2009 2010 2011
Phân loại Dư nợ Tỷ trọng Dư nợ Tỷ trọng Dư nợ Tỷ trọng
Tổng dư nợ 433687 100% 636297 100% 1065789 100%
Nợ quá hạn 13141 3.03% 15017 2.36% 20463 1.92%
Nợ nhóm 1 420546 96.97% 621280 97.64% 1045326 98.08%
Nợ nhóm 2 7374 1.7% 8908 1.4% 12789 1.2%
Nợ nhóm 3 4769 1.09% 5091 0.8% 6715 0.63%
Nợ nhóm 4 651 0.15% 700 0.11% 639 0.09%
Nợ nhóm 5 347 0.08% 318 0.05% 320 0.03%
( theo nguồn bảng chi tiết dư nợ qua các năm của chi nhánh)
Từ số liệu bảng trên cho thấy tổng dư nợ của chi nhánh luôn tăng trưởng
song tỷ nợ quá hạn luôn giảm. Năm 2009 nợ quá hạn chiếm 3.03% tổng dư nợ,
trong đó nợ nhóm 5 chiếm 0.08% tổng dư nợ. Nhưng cho đến năm 2010 con số
này đã giảm xuống nợ quá hạn chiếm 2.36%, trong đó nợ nhóm 5 chỉ còn 0.05%
so với tổng dư nợ. Năm 2011 nợ quá hạn chỉ còn chiếm 1.92% so với tổng dư
nợ. Nợ nhóm 5 chiếm 0.03% tương đương với 320 triệu đồng ,điều này cho thấy
rõ nhờ áp dụng các biện pháp, quy trình kiểm soát chặt chẽ nợ nhóm 5 của chi
Trần Đình Đang MSV:07A12880N
22