Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Phan Hồng Mai
MỤC LỤC
SV: Nguyễn Mạnh Tú Lớp: LTTCDN_11B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Phan Hồng Mai
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Viết đầy đủ
DN Doanh nghiệp
VKD Vốn kinh doanh
BQ Bình quân
VCĐ Vốn cố định
VLĐ Vốn lưu động
VCSH Vốn chủ sở hữu
TSCĐ Tài sản cố định
GTSX Giá thành sản xuất
LN Lợi nhuận
TSLN Tỷ suất lợi nhuận
CP Chi phí
CPBH Chi phí bán hàng
CPQLDN Chi phí quản lý dn
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
SV: Nguyễn Mạnh Tú Lớp: LTTCDN_11B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Phan Hồng Mai
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 : Cơ cấu vốn của công ty trong 2 năm 2009-2010 Error: Reference
source not found
Bảng 2 : Kết cấu nguồn vốn của công ty Error: Reference source not found
Bảng 3 : Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong 2 năm 2009-2010
Error: Reference source not found
Bảng 4 : Cơ cấu lợi nhuận trước thuế của công ty TNHH sản xuất Error:
Reference source not found
và thương mại Phúc Tiến Error: Reference source not found
doanh của doanh nghiệp trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Hiệu quả sản xuất kinh
doanh biểu hiện tập trung nhất đó là mức lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được. Mức
tăng doanh lợi của doanh nghiệp đã trở thành động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh
và tăng trưởng kinh tế
Như vậy có thể nói nâng cao lợi nhuận là mục tiêu chung của toàn bộ mọi doanh
nghiệp trong nền kinh tế.nhận thức được vai trò cũng như tầm quan trọng của lợi
nhuận với doanh nghiệp kết hợp với thời gian thực tập tại công ty TNHH sản xuất và
thương mại Phúc Tiến-Hưng Yên, dưới sự hướng dẫn tận tình của thạc sỹ Phan Hồng
Mai, các cô chú trong phòng tài chính kế toán của ty em đã mạnh dạn lựa chọn đề tài
“lợi nhuận và các giải pháp nâng cao lợi nhuận tại công ty TNHH sản xuất và thương
mại Phúc Tiến” làm đề tài cho báo cáo thực tập của mình
Mục đích của đề tài nhằm nêu lên thực trạng lợi nhuận của công ty từ đó đưa ra
một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa lợi nhuận của công ty. Trên cơ sở này ngoài
phần mở đầu và kết luận báo cáo của em được chia thành ba phần như sau:
Chương 1 : Những vấn đề cơ bản về lợi nhuận của doanh nghiệp
Chương 2 : Thực trạng lợi nhuận tại công ty TNHH sản xuất và thương mại
Phúc Tiến
Chương 3 : Một số giải pháp nhằm nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp
Do thời gian thực tập có hạn và kiến thức còn nhiều hạn chế nên những vấn đề
trình bày trong chuyên đề thực tập này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất
SV: Nguyễn Mạnh Tú Lớp: LTTCDN_11B
1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Phan Hồng Mai
mong nhận được sự quan tâm , góp ý của các thầy cô giáo để bài viết của em hoàn
thiện hơn
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cô chú trong phòng tài chính kế toán
của công ty đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thạc sỹ Phan Hồng Mai người
đã nhiệt tình hướng dẫn giúp em hoàn thành đề tài tốt nghiệp.
SV: Nguyễn Mạnh Tú Lớp: LTTCDN_11B
2
rộng quy mô sản xuất, cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ, chế tạo sản phẩm mới,
SV: Nguyễn Mạnh Tú Lớp: LTTCDN_11B
3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Phan Hồng Mai
quản lý chặt chẽ chi phí, hạ giá thành để đưa ra thị trường ngày càng nhiều sản phẩm
chất lượng cao, giá cả hợp lý, thu hút khách hàng, chiếm lĩnh thị phần và giành lợi thế
trong cạnh tranh với đối thủ khác, chống tụt hậu và vươn lên trình độ cao của ngành,
của khu vực và thế giới.
Lợi nhuận đối với doanh nghiệp không chỉ là nguồn tích luỹ để tái sản xuất mở
rộng có tính chất quyết định đối với phát triển doanh nghiệp, mà còn là nguồn để
khuyến khích lợi ích vật chất đối với người lao động, cải thiện đời sống người lao
động, thúc đẩy họ ra sức sáng tạo, nâng cao tay nghề để có năng suất lao động cao, sản
phẩm được hoàn thiện, gắn chặt nỗ lực của họ với kết quả sau cùng của họ.
Lợi nhuận còn là nguồn để doanh nghiệp tham gia các hoạt động xã hội như
làm từ thiện, nuôi các bà mẹ anh hùng, các người có công với cách mạng và thực hiện
tài trợ cho các phong trào nhằm nâng cao uy tín của doanh nghiệp.
b) Đối với kinh tế xã hội.
Lợi nhuận của doanh nghiệp không chỉ là một bộ phận của thu nhập thuần tuý
của doanh nghiệp mà đồng thời là nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà Nước và là
nguồn tích luỹ quan trọng nhất để thực hiện tái sản xuất mở rộng xã hội và đáp ứng
các nhu cầu phát triển của xã hội. Lợi nhuận có mối quan hệ chặt chẽ và mật thiết với
các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật như chỉ tiêu về đầu tư, sử dụng các yếu tố đầu vào, chi phí
và giá thành sản xuất, các chỉ tiêu đầu ra và các chính sách tài chính nhà nước.
Tóm lại, phấn đấu tăng lợi nhuận là một đòi hỏi tất yếu của doanh nghiệp trong
quá trình sản xuất kinh doanh, là mục tiêu của các doanh nghiệp.
1.2 KẾT CẤU CỦA LỢI NHUẬN TRONG DOANH NGHIỆP
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất - kinh doanh, là
chỉ tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và cơ
chế hạch toán kinh tế độc lập, phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp được mở rộng,
hoạt động
SXKD
=
Doanh thu
thuần trong
kỳ
-
Giá vốn
bán hàng
-
Chi phí
bán hàng
-
Chi phí
quản lý DN
Trong đó :
* Doanh thu thuần từ hoạt động kinh doanh là toàn bộ giá trị của sản phẩm
hàng hóa cung ứng dịch vụ trên thị trường được thực hiện trong một thời kỳ nhất định
sau khi đã trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu như : giảm giá hàng bán, hàng bị trả lại
(nếu có chứng từ hợp lệ), thuế TTĐB, thuế XK phải nộp (nếu có).
Đây là bộ phận doanh thu chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số doanh thu,
nó quyết định đến sự tồn tại của doanh nghiệp.
Thời điểm xác định doanh thu là khi người mua đã chấp nhận thanh toán, không
phụ thuộc vào việc doanh nghiệp đã thu được tiền hay chưa.
Tiền thu về trong kỳ là tổng số tiền mà doanh nghiệp thu được từ hoạt động bán
hàng trong kỳ bao gồm cả khoản tiền mà khách hàng còn nợ kỳ trước, kỳ này trả hoặc
tiền ứng trước của khách để mua hàng. Tiền thu về trong kỳ có thể lớn hơn hoặc nhỏ
hơn doanh thu trong kỳ của doanh nghiệp.
- Giảm giá hàng bán : Số tiền mà doanh nghiệp chấp nhận giảm cho người mua
vì những nguyên nhân thuộc về doanh nghiệp (hàng sai quy cách, kém phẩm chất )
- Lợi nhuận về hoạt động đầu tư, mua, bán chứng khoán ngắn hạn, dài hạn.
- Lợi nhuận về cho thuê tài sản.
- Lợi nhuận về các hoạt động đầu tư khác.
- Lợi nhuận về chênh lệch lãi tiền gửi ngân hàng và lãi tiền vay ngân hàng.
- Lợi nhuận cho vay vốn.
- Lợi nhuận do bán ngoại tệ.
Lợi nhuận
hoạt động
tài chính
=
Thu nhập hoạt
động tài chính
-
Chi phí hoạt
động tài chính
SV: Nguyễn Mạnh Tú Lớp: LTTCDN_11B
6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Phan Hồng Mai
Doanh thu hoạt động tài chính là những khoản thu và lãi liên quan đến hoạt
động về vốn.
Chi hoạt động tài chính là những khoản chi phí và các hoạt động lỗ liên quan
đến hoạt động về vốn.
1.2.3 Lợi nhuận thu được từ hoạt động bất thường hay lợi nhuận khác
Lợi nhuận bất thường là những khoản lợi nhuận mà doanh nghiệp không dự tính
trước hay có dự tính đến nhưng ít có khả năng xảy ra như : tài sản dôi thừa tự nhiên, nợ
khó đòi đã xử lý nay đòi được, nợ vắng chủ hoặc không tìm ra chủ được cơ quan có
thẩm quyền cho ghi vào lãi, thanh lý nhượng bán tài sản cố định, phải thu khó đòi, dự
phòng giảm giá hàng tồn kho Những khoản lợi nhuận bất thường có thể do chủ quan
đơn vị hay do khách quan đưa tới.
Lợi nhuận
khoản mục trong tổng lợi nhuận, từ đó xem xét, đánh giá kết quả của từng hoạt động,
tìm ra các mặt tích cực cũng như tồn tại trong từng hoạt động để đề ra quyết định thích
hợp để nâng cao hơn nữa lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Nhìn chung, trong các doanh nghiệp, lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp là bộ phận chủ yếu quyết định phần lớn tổng lợi nhuận của doanh
nghiệp so với lợi nhuận hoạt động tài chính và lợi nhuận hoạt động bất thường.
Để đạt được các khoản doanh thu đó, trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhất
thiết các doanh nghiệp phải bỏ ra những chi phí nhất định. Những khoản chi phí đó
bao gồm :
- Chi phí về vật chất tiêu hao trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm,
hàng hoá như : chi phí về nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất, khấu hao máy móc
thiết bị.
- Chi phí để trả lương cho người lao động nhằm bù đứp chi phí lao động sống
cần thiết họ đã bỏ ra trong quá trình sản xuất đó để tạo ra sản phẩm, hàng hoá.
- Các khoản tiền thực hiện nghĩa vụ đối Nhà nước. Đó là các khoản thuế gián
thu phải nộp cho Nhà nước theo luật định : Thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt
Quản lý những khoản chi phí này là một vấn đề cấp thiết được đặt ra cho các
doanh nghiệp bởi nếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh phát sinh những khoản chi
phí không hợp lý, không đúng với thực chất của nó đều gây ra những khó khăn trong
quản lý, làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy để kiểm soát tình hình sản xuất
và chi phí bỏ vào sản xuất, các doanh nghiệp đã sử dụng một công cụ quan trọng là giá
thành sản phẩm (biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí của doanh nghiệp để hoàn
thành sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm nhất định). Nội dung giá thành của sản
phẩm hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ bao gồm :
- Giá thành sản xuất của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ : là toàn bộ các
khoản chi phí bỏ ra để có được sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mang đi tiêu thụ (chỉ tính
cho các hàng hoá dịch vụ được tiêu thụ trong kỳ hạch toán). Gồm chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
SV: Nguyễn Mạnh Tú Lớp: LTTCDN_11B
8
thu bán
hàng
Chi phí kinh
doanh hợp lệ
Thuế gián thu
trong khâu
tiêu thụ
Chi phí sản xuất kinh
doanh hàng hoá dịch
vụ
Trị giá vốn
hàng đã
tiêu thụ
CPBH phân
bổ cho hàng
tiêu thụ trong
kỳ
CPQLDN phân
bổ cho hàng tiêu
thụ trong kỳ
Lợi nhuận từ hoạt
động tài chính
Doanh thu từ hoạt
động tài chính
Chi phí từ hoạt động
tài chính
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Phan Hồng Mai
Trong đó:
- Doanh thu từ hoạt động tài chính có thể bao gồm:
+ Thu do chia liên doanh.
Lợi nhuận khác Thu nhập khác Chi phí khác
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Phan Hồng Mai
+ Các khoản thu nhập của những năm trước bị bỏ sót hay quên ghi sổ năm nay
mới phát hiện.
+ Các khoản thu nhập bất thường khác
- Chi phí khác: là những khoản chi không thường xuyên như:
+ Chi phí thanh lý nhượng bán TSCĐ.
+ Tiền phạt do vi phạm hợp đồng.
+ Khoản tiền bị phạt thuế, truy thu thuế.
+ Các khoản chi phí năm trước bị bỏ sót không ghi sổ nay phát hiện ghi bổ sung
+ Chi phí bất thường khác
Qua đây, ta thấy việc xác định chính xác từng bộ phận lợi nhuận trong tổng lợi
nhuận trong kỳ hoạt động của doanh nghiệp có ý nghĩa rất quasn trọng. Bởi nó sẽ phản
ánh đúng tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh toàn doanh nghiệp nói chung và ở
từng lĩnh vực hoạt động nói riêng.
1.3.2 Phân phối lợi nhuận.
Phân phối lợi nhuận là một khâu không thể thiếu sau khi doanh nghiệp đã hoạt
động có lãi. Phân phối lợi nhuận trong doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là việc phân
chia số tiền lãi thu được. Mà việc phân phối này còn phải đảm bảo nguyên tắc giải
quyết hài hoà mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và công nhân viên.
Doanh nghiệp cũng phải dành phần thích đáng lợi nhuận để lại để giải quyết các nhu
cầu sản xuất kinh doanh của mình, đồng thời chú trọng đảm bảo lợi ích của các thành
viên trong đơn vị.
Lợi nhuận tạo ra sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh một phần đợc trích nộp vào
ngân sách nhà nớc, một phần để lại doanh nghiệp.
Phần trích nộp vào ngân sách nhà nước biểu hiện ở hình thức nộp thuế thu nhập
doanh nghiệp đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào ( tỷ lệ nộp thuế thu nhập doanh
nghiiệp đối với các doanh nghiệp thường là 25%)
Phần để lại doanh nghiệp được trích vào 3 qũy đó là qũy khuyến khích phát triển
sản xuất, qũy phúc lợi và qũy khen thởng theo các tỷ lệ sau :
hiệu quả và ngược lại. Tuy nhiên, vì đây chỉ là chỉ tiêu tuyệt đối nên để có thể đưa ra
được những đánh giá chính xác về chất lượng hoạt động của mỗi đơn vị thì cần phải
kết hợp với các chỉ tiêu bên dưới.
1.4.2 Tỷ suất lợi nhuận/doanh thu.
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu là một chỉ tiêu tương đối phản ánh quan hệ tỷ lệ
giữa tổng mức lợi nhuận với tổng doanh thu trong kỳ.
= X100
SV: Nguyễn Mạnh Tú Lớp: LTTCDN_11B
12
Tỷ suất lợi nhuận
doanh thu bán hàng
Tổng mức lợi nhuận kinh doanh
Tổng doanh thu thực hiện trong kỳ
=
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Phan Hồng Mai
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 100 đồng doanh thu thu được thì doanh nghiệp sẽ có
được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Do vậy, tỷ suất lợi nhuận doanh thu càng lớn thì kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh càng cao và ngược lại.
Tuy nhiên, nếu đơn thuần chỉ sử dụng tỷ suất này thì sẽ không đưa cho ta đánh
giá chính xác về hiệu quả kinh doanh. Bởi có thể tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu cao
nhưng hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào lại không cao.
1.4.3 Tỷ suất lợi nhuận/vốn
*Tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh bình quân
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh là một chỉ tiêu tương đối phản ánh quan
hệ tỷ lệ giữa tổng lợi nhuận và tổng vốn kinh doanh sử dụng bình quân trong kỳ.
= X100Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn nghĩa là cứ 100 đồng vốn đem đầu tư
xuất kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Qua đó thấy được hiệu quả
sử dụng vốn của doanh nghiệp và phục vụ cho việc phân tích tài chính của doanh
nghiệp.
1.4.4 Tỷ suất lợi nhuận/chi phí
Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí là chỉ tiêu tương đối phản ánh quan hệ tỷ lệ
giữa tổng lợi nhuận với tổng chi phí kinh doanh trong kỳ.
= x 100
Chỉ tiêu này cho thấy cứ 100 đồng chi phí bỏ ra thì mang lại bao nhiêu đồng lợi
nhuận cho doanh nghiệp mình. Chỉ tiêu này giúp doanh nghiệp nắm được tình hình sử
dụng chi phí trong đơn vị tiết kiệm hay lãng phí để từ đó đề ra biện pháp quản lý sao
cho có hiệu quả.
1.5 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI LỢI NHUẬN TRONG DOANH
NGHIỆP
1.5.1 Những nhân tố khách quan
1.5.1.1 Chính sách kinh tế của Nhà nước
Trên cơ sở pháp luật về kinh tế và các chính sách kinh tế, Nhà nước tạo ra môi
trường và hành lang cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh và hướng
các hoạt động của doanh nghiệp phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế-xã hội trong
mỗi thời kỳ. Sự thay đổi trong chính sách kinh tế của Chính phủ có ảnh hưởng rất lớn
đến hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và tới lợi nhuận của doanh nghiệp nói
riêng. Bởi điều tiết mọi hoạt động kinh tế ở tầm vĩ mô chính là vai trò chính của Nhà
nước trong nền kinh tế thị trường này. Bằng các chính sách, luật lệ và các công cụ tài
chính khác Nhà nước định hướng, khuyến khích hay hạn chế hoạt động của các doanh
SV: Nguyễn Mạnh Tú Lớp: LTTCDN_11B
14
Tỷ suất lợi nhuận trên
chi phí
Tổng lợi nhuận trong kỳ
Tổng chi phí kinh doanh trong kỳ
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Phan Hồng Mai
nuốt cá bé”.
SV: Nguyễn Mạnh Tú Lớp: LTTCDN_11B
15
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Phan Hồng Mai
1.5.1.4 Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội
Một đất nước mà tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ổn định không có khủng bố,
chiến tranh thì sẽ tạo ra một môi trường tốt kích thích doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh có hiệu quả. Ngược lại, sẽ tạo ra những bất lợi ảnh không nhỏ đến mọi kế hoạch
trong kinh doanh của DN. Và nó sẽ làm cho lợi nhuận có xu hướng giảm.
1.5.1.5 Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật
Một khi khoa học ngày càng tiến bộ thì đòi hỏi các doanh nghiệp cũng phải
không ngừng tiếp thu những tiến bộ đó như cải tiến, hiện đại hoá máy móc; đào tạo,
bồi dưỡng về chuyên môn cho người lao động sao cho theo kịp với thời đại. Nếu
không thì mọi sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra sẽ trở nên lạc hậu khó lòng đáp
ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng và như vậy lợi nhuận lại giảm là
điều không thể tránh khỏi.
1.5.2 Những nhân tố chủ quan
Trong lợi nhuận của doanh nghiệp, lợi nhuận hoạt động kinh doanh chiếm tỷ
trọng lớn nhất.
Theo công thức xác định lợi nhuận hoạt động kinh doanh.Ngoài nhân tố thuế, ta
thấy có hai nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận là doanh thu và giá thành toàn bộ.
1.5.2.1 Doanh thu hoạt động sản xuất kinh doanh
Công thức xác định doanh thu là:
Doanh thu =ΣP(i) x q(i)
Trong đó:P(i):giá bán đơn vị hàng i
q(i): Số lượng hàng hoá i bán ra
Từ công thức trên ta thấy doanh thu chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau:
1.5.2.1.1 Khối lượng hàng hoá tiêu thụ
Trong khi các yếu tố khác không đổi thì khối lượng hàng hoá bán ra tăng lên sẽ
làm cho doanh thu tăng lên và kéo theo lợi nhuận tăng. Để tiêu thụ hàng hoá, trước hết
lượng là yếu tố ảnh hưởng tới lợi nhuận và nó giữ vai trò quyết định đến khối lượng
sản phẩm, hàng hoá dịch vụ sẽ tiêu thụ ra thị trường. Khi doanh nghiệp sản xuất ra
được những sản phẩm, hàng hoá có chất lượng cao thì mức tiêu thụ cũng sẽ cao và
doanh thu cũng như lợi nhuận về doanh nghiệp sẽ tăng.
1.5.2.2 Giá thành toàn bộ
Giá thành toàn bộ = giá thành sản xuất + chi phí bán hàng + chí phí quản lý
doanh nghiệp
SV: Nguyễn Mạnh Tú Lớp: LTTCDN_11B
17
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Phan Hồng Mai
Qua công thức trên ta thấy : Giá thành toàn bộ của hàng hoá tiêu thụ phụ thuộc
vào giá thành sản xuất, CPBH, CPQLDN. Đối với doanh nghiệp sản xuất, giá thành
sản xuất chính là giá vốn hàng bán.
1.5.2.3 Nhân tố con người
Có thể nói con người luôn đóng vai trò trung tâm và có ảnh hưởng trực tiếp đến
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Trình độ quản lý, trình độ chuyên môn cũng
như sự nhanh nhạy nắm bắt được cơ hội, xu thế kinh tế của người lãnh đạo trong cơ
chế thị trường ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Bên
cạnh đó, trình độ kỹ thuật, năng lực chuyên môn và ý thức trách nhiệm trong lao động
của cán bộ công nhân viên cũng đóng một vai trò rất quan trọng, quyết định sự thành
công của mỗi doanh nghiệp. Với một đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ cao
thích ứng với yêu cầu của thị trường, doanh nghiệp có thể nâng cao năng suất lao
động, từ đó tạo điều kiện nâng cao lợi nhuận .
1.5.2.4 Khả năng về vốn
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ngoài những nhân tố
quan trọng như con người, kinh nghiệm và kiến thức kinh doanh thì vốn là yếu tố
không thể thiếu đối với sự sống còn của mỗi doanh nghiệp.
Vốn là tiền đề vật chất cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy nó là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến hiệu quả sản xuất
kinh doanh và lợi nhuận của doanh nghiệp.
-Thứ nhất: Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng quát phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Bởi vậy dựa vào đó doanh nghiệp có thể biết được hoạt động kinh
doanh của mình có hiệu quả hay không. Để có được sự cung cấp hàng hoá và dịch vụ
phục vụ nhu cầu thị trường các doanh nghiệp phải bỏ ra một khoản chi phí nhất định,
chi phí đó có thể là tiền thuê đất,thuê lao động,tiền vốn trong quá trình kinh doanh
để sản xuất và tiêu thụ hàng hoá đó. Ngoài việc phải bù đắp được chi phí bỏ ra họ
mong muốn có phần dôi ra để mở rộng sản xuất, trả lãi tiền vay.
-Thứ hai: Lợi nhuận là mục tiêu là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao
năng suất lao động,là một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng tác độngđến việc
hoàn thiện các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Đó là nguồn thu để cải thiện điều kiện
sản xuất, nâng cao đời sống vật chất,tinh thần cho người lao động góp phần khơi dậy
tiềm năng của người lao động vì sự phát triển vững chắc của doanh nghiệp trong tương
lai. Lợi nhuận còn là nguồn để doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ của mình với nhà
nước,thông qua đó góp phần vào sự phát triển kinh tế quôc dân. Nền kinh tế như một
cơ thể sống các doanh nghiệp chính là những tế bào. Nền kinh tế muốn phát triển vững
chắc thì mỗi tế bào của nó phải lớn mạnh,phải làm ăn có hiệu quả. Bằng việc trích lập
SV: Nguyễn Mạnh Tú Lớp: LTTCDN_11B
19
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.Phan Hồng Mai
một khoản lợi nhuận vào ngân sách nhà nước dưới hình thưc thuế các doanh nghiệp co
thể đóng góp một phần đáng kể cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.
-Thứ ba: Lợi nhuận là nguồn tài chính quan trọng để doanh nghiệp mở rộng quy
mô sản xuất kinh doanh,đổi mới máy móc thiết bị,công nghệ sản xuất nhằm tiết kiệm
chi phí nguyên vật liệu,tạo ra những sản phẩm chất lượng cao,giá thành hạ.Từ đó giúp
doanh nghiệp có điều kiện tạo dựng và nâng cao uy tín trên thị trường thu hút vốn đầu
tư,bổ sung vốn kinh doanh,tăng thêm vốn chủ sở hữu và trả cac khoản nợ.Tạo sự vững
chắc về tài chính cho doanh nghiệp.Không những thế lợi nhuận còn là nguồn tài chính
để doanh nghiệp bù đắp các khoản chi phí không được tính vào chi phí sản xuất kinh
doanh như cac khoản lỗ năm trước,các khoản chi phí vượt định mức
-Thứ tư: Lợi nhuận cao cho thấy được triển vọng phát triển của doanh nghiệp đó
kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi về môi trường kinh doanh,đầu tư tài
chính cho các doanh nghiệp.Từ đó doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh
doanh có lãi và nó còn thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.Lợi nhuận không những
có ý nghĩa quan trọng với bản thân doannh nghiệp mà còn có ý nghĩa với toàn xã hội
-Lợi nhuận còn có vai trò quan trọng với sự tăng trưởng và phát triển của nền
kinh tế,việc tăng lợi nhuận sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển mạnh mẽ.Bởi
nền kinh tế phát triển nhanh hay chậm phụ thuộc rất lớn vào tích luỹ,quy mô của tích
luỹ quyết định quy mô tăng trưởng.Doanh nghiệp muốn tăng trưởng nhanh thì phải
làm ăn đạt lợi nhuận cao.có được lợi nhuận doanh nghiệp sẽ tăng được quy mô tích
luỹ,một khi đã có tích luỹ đủ lớn thì doanh nghiệp có thể tái sản xuất mở rộng,đây là
tiền đề thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.Ngược lại,nền kinh tế tăng trưởng sẽ tác động trở
lại doanh nghiệp,tạo môi trường thuận lợi và động lực cho doanh nghiệp phát triển
Đối với người lao động
Lao động là một trong ba yếu tố không thể thiếu được của quá trình sản xuất kinh
doanh,để tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì doanh nghiệp phải quan tâm
thoả đáng đến người lao động cả về vật chất lẫn tinh thần.Nếu doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh có hiệu quả,lợi nhuận cao thì sẽ có điều kiện trích lập các quỹ như quỹ
khen thưởng phúc lợi,quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm là cơ sở để từng bước
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp
Lợi nhuận còn là đòn bẩy kích thích người lao động đẩy mạnh sản xuất,nâng cao
năng suất lao động và hăng say sáng tại trong công việc.Từ đó góp phần nâng cao thu
nhập cho người lao động trong doanh nghiệp,tăng tích luỹ để mở rộng sản xuất kinh
doanh
Đối với bên thứ ba
Bên thứ ba là những người có quan hệ với doanh nghiệp như các nhà cung
cấp,ngân hàng,các nhà đầu tư nếu doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả có lợi
nhuận và tăng được lợi nhuận thì doanh nghiệp sẽ dễ dàng vay thêm vốn từ các ngân
hàng,thu hút vốn từ các nhà đầu tư,tạo lập tín dụng thương mại với các nhà cung cấp
SV: Nguyễn Mạnh Tú Lớp: LTTCDN_11B
21
dùng,giá cả phù hợp với thu nhập của họ
Như vậy lợi nhuận không những là mục tiêu cuối cùng mà còn là động lực trực
tiếp đối với các doanh nghiệp.trong khi lựa chọn các phương án kinh doanh,doanh
nghiệp luôn lấy lợi nhuận làm mục tiêu hàng đầu đồng thời làm thước đo hiệu quả và
SV: Nguyễn Mạnh Tú Lớp: LTTCDN_11B
22