Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu
Hà
MỤC LỤC
1.2.2 Phân loại tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại 8
Phạm Thị Thanh Hoa Lớp: Ngân hàng 49A
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu
Hà
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHNN : Ngân hàng nhà nước
GTCG : Giấy tờ có giá
CIC : Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng nhà nước
TECHCOMBANK : Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam
TMCP : Thương mại cổ phần
TSDB : Tài sản đảm bảo
HDKD : Hoạt động kinh doanh
HĐTD : Hội đồng tín dụng
ROA : Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
ROE : Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
DPRR : Dự phòng rủi ro
TCTD : Tổ chức tín dụng
Phạm Thị Thanh Hoa Lớp: Ngân hàng 49A
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu
Hà
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Các chỉ tiêu kinh doanh những năm gần đây Error: Reference source not
found
Bảng 2.2: Các chỉ tiêu phản ánh sinh lời Error: Reference source not found
Bảng 2.3: Kết quả huy động vốn tại chi nhánh Lý Thường KiệtError: Reference source
not found
chi nhánh Error: Reference source not found
Phạm Thị Thanh Hoa Lớp: Ngân hàng 49A
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu
Hà
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và nhà nước đất
nước ta ngày càng phát triển. Nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển mạnh mẽ,
các cá nhân cũng như các doanh nghiệp có nhu cầu vốn để phát triển kinh doanh
cũng dần tăng cao. Cùng với xu hướng đổi mới của nền kinh tế thì hệ thống ngân
hàng
Việt Nam cũng đang trong quá trình phát triển mạnh mẽ .Trước xu thế hội nhập thì
hoạt động của NHTM có nhiều cơ hội cũng như thách thức đặt ra. Hoạt động của
NHTM đạt kết quả tốt thì sẽ tạo một điều kiện rất lớn cho sự phát triển của nền kinh tế
nước ta. Vì vậy xác định được tầm quan trọng của tín dụng cũng như vai trò to lớn của
hệ thống NHTM thì đã có rất nhiều giải pháp để nâng cao và mở rộng hoạt động tín
dụng. Và đặc biệt hiện nay thị trường ngân hàng bán lẻ đang hết thức sức tiềm năng trên
thị trường và được rất nhiều NHTM chú trọng đến khai thác. Do phạm trù mở rộng tín
dụng của NHTM rộng lớn nên em chỉ tập trung vào phân tích mở rộng tín dụng cá nhân
của NHTM. Bên cạnh mở rộng gắn liền với nâng cao chất lượng tín dụng cá nhân để
phát huy được hết vai trò của tín dụng cá nhân.
Mặc dù vậy, trước những biến động không ngừng của nền kinh tế thị trường
thì chúng ta không thể nào dự đoán hết được những rủi ro có thể xẩy ra, ảnh hưởng
của nó tới hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng cá nhân nói riêng của toàn bộ
ngành ngân hàng cũng như của ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam- chi nhánh
Lý Thường Kiệt như thế nào.
Nắm được chủ trương của Đảng và nhà nước cũng như để bắt kịp với xu hướng
vận động của nền kinh tế, ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương chi nhánh Lý
Thường Kiệt trong thời gian qua đã đẩy mạnh mở rộng tín dụng cá nhân. Hoạt động
này đã thu được nhiều kết quả khả quan nhưng cũng bộc lộ nhiều khó khăn, hạn chế
đòi hỏi ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương chi nhánh Lý Thường Kiệt phải nỗ
rộng tín dụng cá nhân tại chi nhánh để tìm ra những hạn chế, thiếu sót trong hoạt
động này.
Ngoài ra còn kết hợp với phương pháp phân tích tổng hợp để đánh giá thực
Phạm Thị Thanh Hoa Lớp: Ngân hàng 49A
2
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu
Hà
trạng mở rộng hoạt động tín dụng cá nhân tại chi nhánh, đưa ra những nhận xét và
biện pháp giải quyết tối ưu để có thể mở rộng tín dụng cá nhân tại ngân hàng
thương mại cổ phần Kỹ thương chi nhánh Lý Thường Kiệt một cách tốt nhất.
5. Kết cấu của chuyên đề thực tập
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của
chuyên đề được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của mở rộng tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại
ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng mở rộng tín dụng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ
phần Kỹ thương Việt Nam chi nhánh Lý Thường Kiệt.
Chương 3: Giải pháp mở rộng tín dụng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ
phần Kỹ thương Việt Nam chi nhánh Lý Thường Kiệt.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô trong khoa Ngân hàng -
Tài Chính, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Phan Thị Thu Hà, cùng sự
giúp đỡ tận tình của các anh chị cán bộ phòng Quan hệ khách hàng cá nhân– Ngân
hàng thương mại cổ phần Kỹ thương chi nhánh Lý Thường Kiệt đã tạo điều kiện cho
em tìm hiểu về hoạt động tín dụng cá nhân của ngân hàng thương mại nói chung và
mở rộng hoạt động tín dụng cá nhân của ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương
chi nhánh Lý Thường Kiệt nói riêng, giúp em có cơ sở thực tiễn để hoàn thành tốt
chuyên đề này.
Trong quá trình nghiên cứu không thể tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy, em
rất mong nhận đuợc sự góp ý của các thầy cô giáo, ban giám đốc ngân hàng và bất
cứ ai quan tâm đến vấn đề này để đề tài này được hoàn thiện hơn.
kinh doanh tiền tệ, chức năng chính là trung gian tài chính tạo phương tiện thanh
toán, trung gian thanh toán, nhận tiền gửi hoạt động rất đa dạng bao gồm:
• Huy động vốn: NHTM huy động vốn làm tăng giá trị nguồn vốn cho ngân hàng
bao gồm chủ yếu các hình thức sau:
Phạm Thị Thanh Hoa Lớp: Ngân hàng 49A
4
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu
Hà
- Nhận tiền gửi: NHTM nhận tiền gửi từ mọi thành phần trong nền kinh tế: cá
nhân, các tổ chức thông qua hình thức tiết kiệm, tiền gửi có kì hạn, tiền gửi không
kì hạn, các loại tiền gửi khác. Hoạt động này cung cấp một phần vốn lớn hoạt động
cho NHTM.
- Phát hành giấy tờ có giá: NHTM phát hành ra các chứng chỉ tiền gửi, trái
phiếu ngân hàng và các giấy tờ có khác để huy động vốn khi được NHNN cho phép.
- Vay từ các tổ chức tín dụng khác: Các NHTM có thể vay lẫn nhau qua thị
trường liên ngân hàng, vay vốn của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước.
- Vay vốn của NHNN: NHTM có thể vay vốn thông qua các hình thức tái cấp
vốn, chiết khấu hay tái chiết khấu thương phiếu các giấy tờ có giá, cho vay có đảm
bảo bằng thế chấp hoặc bằng cầm cố thương phiếu hay các giấy tờ có giá
• Hoạt động sử dụng vốn: Đây là hoạt động sinh lời cho NHTM và sau đây là
những hoạt động chủ yếu:
-Hoạt động tín dụng và đầu tư: Đây là hoạt động vốn chủ yếu và truyền thống
mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho NHTM, trong đó hoạt động cho vay là khoản
mục tài sản lớn nhất. Hoạt động cho vay giúp phân bổ vốn một cách hiệu quả cho
nền kinh tế, tuy nhiên lại chứa nhiều rủi ro tiềm ẩn trong chính nền kinh tế đó nên
đòi hỏi NHTM phải luôn thận trọng khi quyết định.
Bên cạnh cho vay NHTM còn có các hình thức cấp tín dụng khác như bảo
lãnh, cho thuê tài sản, chiết khấu giấy tờ có giá (là ngân hàng ứng trước cho khách
hàng một khoản tiền bằng mệnh giá của GTCG trừ đi lãi suất chiết khấu và phí).
Những hoạt động này giúp NHTM đa dạng hóa và qua đó nâng cao thu nhập.
định, hết thời hạn đó phải hoàn trả cho ngân hàng.
- Giá trị hoàn trả thường lớn hơn giá trị lúc cho vay ban đầu vì có thêm phần
lợi tức (lãi vay) mà người đi vay phải trả cho việc sử dụng vốn của người khác và
phải hoàn trả vốn theo đúng cam kết nếu không sẽ phải chịu mọi hình phạt trong
hợp đồng tín dụng được kí kết giữa hai bên.
1.1.2.2 Đặc trưng của tín dụng ngân hàng thương mại
Để phân biệt với các loại hình tín dụng khác như tín dụng thương mại, tín
dụng nhà nước, tín dụng NHTM có những đặc trưng sau:
-NHTM đóng vai trò trung gian trong quá trình huy động vốn và cho vay.
Phạm Thị Thanh Hoa Lớp: Ngân hàng 49A
6
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu
Hà
-Quá trình vận động và phát triển của tín dụng NHTM không hoàn toàn phù
hợp với quy mô phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa. Nhờ vậy mà tín dụng
NHTM rất linh hoạt về thời hạn và số lượng. Tín dụng thương mại phát sinh trực
tiếp khi có quan hệ trao đổi hàng hóa hay tiền tệ giữa hai bên với quy mô xác định.
Đây là điểm khác biệt giữa tín dụng NHTM và tín dụng thương mại.
-Quy mô tín dụng đa dạng: NHTM có thể cung cấp các khoản tín dụng có quy
mô từ nhỏ đến rất lớn, phục vụ nhu cầu đa dạng của nền kinh tế: tiêu dùng, sản xuất
kinh doanh của hộ gia đình cho đến các tổ chức đa quốc gia.
-Tín dụng NHTM thúc đẩy quá trình tập trung và điều hòa vốn giữa các chủ
thể trong nền kinh tế bằng cách là làm trung gian tài chính. Chính điều này đã giúp
điều tiết vốn một cách hợp lí và có hiệu quả hơn là tín dụng trực tiếp khi mà nền
kinh tế đang phát triển một cách nhanh chóng như hiện nay. Đây là điều mà các
quan hệ tín dụng trực tiếp không thể thực hiện tốt bằng tín dụng NHTM.
1.2 Tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm và vai trò của tín dụng khách hàng cá nhân
Như chúng ta đã đề cập ở trên, tín dụng NHTM là hình thức NHTM cấp cho
các khách hàng của mình một khoản dựa trên nhu cầu và khả năng tài chính của
nhu cầu sinh hoạt của các cá nhân. Với loại tín dụng này, ít có rủi ro cho NHTM vì
trong thời gian ngắn ít có biến động xảy ra và nếu có xảy ra thì NHTM có thể dự
tính được.
- Tín dụng trung hạn: Thời gian cấp tín dụng từ 1 đến 5 năm và chủ yếu được
sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất
và xây dựng các công trình nhỏ, có thời hạn thu hồi vốn nhanh. Loại tín dụng này
có mức độ rủi ro không cao vì NHTM có khả năng dự đoán được những biến động
có thể xảy ra.
- Tín dụng dài hạn: Thời gian cấp tín dụng trên 5 năm, được sử dụng để cấp
vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc
cơ sở hạ tầng (đường xá, bến cảng, sân bay ), cải tiến và mở rộng sản xuất với quy
mô lớn,hoặc đầu tư sản xuất kinh doanh trong thời gian dài. Loại tín dụng này có
mức độ rủi ro rất lớn vì trong thời gian dài thì có những biến động xảy ra không
lường trước được làm ảnh hưởng lớn đến NHTM.
Phạm Thị Thanh Hoa Lớp: Ngân hàng 49A
8
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu
Hà
* Nếu căn cứ vào bảo đảm tín dụng:
-Tín dụng không có bảo đảm: Là tín dụng không có tài sản cầm cố, thế chấp
hay có bảo lãnh của người thứ ba. Loại tín dụng này hầu như là ít.
-Tín dụng có bảo đảm: Là tín dụng có tài sản cầm cố, thế chấp hay có bảo lãnh
của người thứ ba.
* Nếu căn cứ vào mục đích tín dụng:
-Tín dụng bất động sản: Đây là các khoản tín dụng được bảo đảm bằng bất
động sản gồm tín dụng ngắn hạn cho xây dựng và mở rộng đất đai, tín dụng dài hạn
để mua đất đai, nhà cửa, căn hộ, cơ sở dịch vụ
-Tín dụng công thương nghiệp: Đây là các khoản tín dụng cấp cho các doanh
nghệp để trang trải cho các chi phí như mua nguyên vật liệu, trả thuế và chi trả
lương.
trình sản xuất kinh doanh. Và trong nghiệp vụ ngày NHTM không ấn định trước ngày
trả nợ và NHTM khó kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay.
-Cho vay trả góp: Đây là hình thức tín dụng mà theo đó NHTM cho phép
khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Cho vay trả
góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản
cố định hoặc hàng lâu bền. Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp với
khả năng trả nợ. Và loại hình này thường có rủi ro cao cho NHTM khi mà người
vay kinh doanh thua lỗ, thu nhập giảm sút. Chính vì vậy mà lãi suất cho vay trả góp
thường là lãi suất cao nhất trong khung lãi suất cho vay của NHTM.
1.3 Mở rộng tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại
1.3.1 Quan điểm về mở rộng tín dụng khách hàng cá nhân
Dịch vụ ngân hàng bán lẻ hiện nay là một hướng đi được nhiều ngân hàng
thương mại chú trọng và đầu tư rất mãnh mẽ. Với số lượng khách hàng tiềm năng
và những dịch vụ hết sức đa dạng thì việc một khía cạnh lớn đó là tín dụng cá nhân
càng ngày càng phát triển. Chúng ra có thể có rất nhiều ngân hàng nước ngoài đang
rất thành công ở trên thị trường bán lẻ cũng như là tín dụng cá nhân với các dịch vụ
cũng cấp được nhiều khách hàng hài lòng như ANZ, HSBC, Citi bank Và vì sao
chúng ta, các ngân hàng thương mại của Việt Nam hiện nay lại không tập trung chú
trọng vào một mảng rất tiềm năng này. Qua đó chúng ta thấy một chỗ đứng rất quan
trọng của tín dụng cá nhân, các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam hiện nay
Phạm Thị Thanh Hoa Lớp: Ngân hàng 49A
10
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu
Hà
và với cổ đông là các ngân hàng nước ngoài có kinh nghiệm trong dịch vụ ngân
hàng bán lẻ đang hợp tác cùng phát triển. Và làm như thế nào và các tiêu chí ra sao để
có thể phản ánh được rằng đã mở rộng tín dụng cá nhân. Có thể nói mở rộng tín dụng
cá nhân không những mở rộng về mặt số lượng mà cả về chất lượng. Và sau đây chúng
ta sẽ phân tích và tìm hiểu các chỉ tiêu phản ánh mở rộng tín dụng cá nhân.
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh mở rộng tín dụng cá nhân
vay còn chứa đựng những rủi ro mà NHTM phải gánh chịu. Chỉ tiêu tổng dư nợ còn
phản ánh quy mô tín dụng của NHTM, sự uy tín của NHTM đối với khách hàng.
Tổng dư nợ của NHTM khi so sánh với thị phần tín dụng của NHTM trên địa bàn
cho chúng ta biết được dư nợ của NHTM là cao hay thấp.
Kết cấu dư nợ được phân chia theo thời gian, đối tượng cho vay hay chất
lượng cho vay. Kết cấu dư nợ sẽ cho biết tỷ trọng của các loại dư nợ trong tổng dư
nợ, từ đó giúp NHTM nhận biết được NHTM cần đẩy mạnh cho vay theo loại hình
nào để cân đối với thực lực của NHTM. Kết cấu dư nợ khi so sánh với kết cấu
nguồn huy động sẽ cho biết rủi ro của loại hình cho vay nào là cao nhất.
- Tăng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng cá nhân: Khi mở rộng tín dụng về mặt
số lượng thì không thể không kể đến chất lượng của nó. Muốn biết rằng nó mở rộng
có hiệu quả không, có đạt được những mục tiêu đã đặt ra thì nó phải có kết quả tốt,
lợi nhuận tăng cao. NHTM hoạt động với mục đích kinh doanh là vì lợi nhuận, và
khi mở rộng hay phát triển một lĩnh vực nào đó thì cần có lợi nhuận thu lại được.
Lợi nhuận = Thu từ lãi cho vay + Thu phí – Chi cho lãi huy động vốn – Chi
phí khác
Khi mở rộng tín dụng cá nhân thì lợi nhuận thu được từ hoạt động này cũng tăng
lên, dựa vào công thức ở trên thì muốn lợi nhuận tăng thì chênh lệch giữ thu và chi từ
hoạt động tín dụng phải tăng cao hay nói cách khác thu từ lãi cho vay tăng lên.
-Giảm tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu trong trong dư nợ tín dụng cá nhân
Tổng dư nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
____________________________
Tổng dư nợ
Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng chưa trả được khi đến kỳ hạn thoả
thuận phải trả NHTM. Tỷ lệ nợ quá hạn cao thì NHTM sẽ gặp nhiều khó khăn trong
kinh doanh vì mất khả năng thanh toán, tăng rủi ro cho NHTM từ đó dẫn tới giảm
Phạm Thị Thanh Hoa Lớp: Ngân hàng 49A
12
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu
Phạm Thị Thanh Hoa Lớp: Ngân hàng 49A
13
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu
Hà
Để xây dựng một chính sách tín dụng đúng đắn, phù hợp với từng NHTM là
một điều hết sức cần thiết để có thể thu hút được nhiều khách hàng, đảm bảo khả
năng sinh lời, giảm thiểu rủi ro tín dụng, tuân thủ theo những quy chế của chính phủ
và NHNN ban hành. Bất cứ một NHTM nào muốn có chất lượng tín dụng tốt và mở
rộng tín dụng cũng đều phải có chính sách tín dụng khoa học, phù hợp với thực tế
của NHTM cũng như của thị trường.
- Quy trình nghiệp vụ tín dụng
Quy trình tín dụng là tập hợp những nội dung, nghiệp vụ cơ bản, các bước tiến
hành trong suốt quá trình cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng. Nó
được bắt đầu từ khi chuẩn bị cho vay, phát tiền vay, kiểm tra quá trình cho vay cho
đến khi thu hồi nợ. Khi một NHTM có quy trình nghiệp vụ tín dụng khoa học, chặt
chẽ và thuận lợi cho cả khách hàng cũng như NHTM thì có thể thu hút được nhiều
số lượng khách hàng đến với ngân hàng. Điều này làm sự mở rộng tín dụng cá nhân
của NHTM tăng lên về mặt số lượng cũng như là chất lượng tín dụng của mỗi
khoản vay của khách hàng.
Trong quy trình nghiệp vụ tín dụng, bước chuẩn bị cho vay rất quan trọng, là
cơ sở để lượng định rủi ro trong quá trình cho vay. Trong bước này, để cấp tín dụng
cho khách hàng tùy thuộc vào công tác thẩm định đối tượng được vay vốn cũng như
những quy định về điều kiện và thủ tục cho vay của từng NHTM.
Kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay giúp cho NHTM nắm được diễn biến của
khoản tín dụng đã cung cấp cho khách hàng để có những hành động điều chỉnh can
thiệp khi cần thiết, sớm ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra, can thiệp được việc trả nợ
của khách hàng kịp thời để trích dự phòng cũng như có các biện pháp hữu hiệu để
thu hồi nợ. Việc lựa chọn và áp dụng có hiệu quả các hình thức kiểm tra sẽ thiết lập
được một hệ thống phòng ngừa hữu hiệu, giảm rủi ro tín dụng cho NHTM.
Đồng thời với các bước trong quy trình tín dụng là công tác thu thập thông tin.
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng cũng quyết định đến sự
thành công của công tác tín dụng và mở rộng tín dung. Cán bộ tín dụng giỏi về
chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng, có kinh nghiệm đánh giá chính xác tính khả thi
của dự án, xác định được tính chân thực của các báo cáo tài chính, phát hiện các
hành vi cố tình lừa đảo của khách hàng (như sửa chữa báo cáo tài chính, lập hồ sơ
thế chấp giả, dùng một tài sản thế chấp đi vay ở nhiều nơi ) từ đó phân tích được
Phạm Thị Thanh Hoa Lớp: Ngân hàng 49A
15
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu
Hà
khả năng quản lý và năng lực thực sự của khách hàng để quyết định có cho vay hay
không. Bên cạnh đó cán bộ tín dụng cũng cần có những hiểu biết sâu rộng về kiến
thức xã hội, kinh tế, xu hướng thế giới để có thể tư vấn cho khách hàng, cũng như
nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn của chính mình, qua đó tăng thêm sự tin
tưởng của khách hàng vào ngân hàng và muốn sử dụng dịch vụ của NHTM nhiều
hơn nữa. Sự tự đổi mới chính mình cũng như trau dồi kiến thức của mỗi cán bộ là
một trong những yếu tố cấu thành nên sự thành công của mỗi NHTM.
-Kiểm soát nội bộ
Thông qua kiểm soát nội bộ giúp cho nhà lãnh đạo NHTM nắm được tình hình
hoạt động kinh doanh đang diễn ra, phát hiện những thuận lợi, khó khăn, sai trái từ
đó đề ra các biện pháp giải quyết kịp thời. Nếu một NHTM có bộ phận kiểm soát
nội bộ tốt thì giảm thiểu được rất nhiều chi phí liên quan đến quản lí các món vay
của khách hàng, qua đó tăng lợi nhuận của NHTM từ tín dụng cá nhân.
-Sản phẩm tín dụng của NHTM và marketing ngân hàng
Với mục tiêu phát triển ở dịch vụ ngân hàng bán lẻ hiện nay của các NHTM là
hướng đến các nhóm khách hàng khác nhau với những sản phẩm dịch vụ đa dạng.
Để có thể tiếp cận đến nhiều đối tượng khách hàng thì không thể không đưa ra
nhiều các gói sản phẩm để có thể dễ dàng phục vụ, đưa ra những chính sách
marketing sâu rộng. Hiện nay để tiếp cận với các dịch vụ của NHTM không chỉ
hướng đến các nhóm khách hàng có mức thu nhập khá, tập trung ở thành phố đô thị
đến mở rộng tín dụng cá nhân của NHTM. NHTM trang bị đầy đủ các thiết bị tiên
tiến phù hợp với khả năng tài chính, phạm vi, quy mô hoạt động sẽ giúp cho NHTM
phục vụ kịp thời yêu cầu của khách hàng về tất cả các mặt dịch vụ, phục vụ hoạt
động cho vay với chi phí thấp, đồng thời cũng sẽ giúp cho cấp quản lý của NHTM
kịp thời nắm bắt tình hình hoạt động cho vay, có những điều chỉnh kịp thời cho phù
hợp với tình hình thực tế, từ đó đảm bảo hoạt động cho vay được hiệu quả hơn.
Thông tin tín dụng là yếu tố quan trọng trong quản lý tín dụng của NHTM.
Qua thông tin tín dụng cán bộ quản lý có thể nắm bắt đầy đủ, chính xác về tình hình
hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, thông tin về thị trường để từ đó
đưa ra những quyết định cần thiết và kịp thời trong cho vay cũng như theo dõi và
quản lý khoản vay của khách hàng.
Phạm Thị Thanh Hoa Lớp: Ngân hàng 49A
17
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu
Hà
- Hệ thống chi nhánh và kênh phân phối của NHTM
NHTM muốn tạo sự thuận tiện cho khách hàng trong sự giao dịch với ngân
hàng thì cần mở rộng hệ thống chi nhánh và kênh phân phối trên toàn quốc. Qua đó
thì khách hàng sẽ dễ dàng hơn để tiếp cận với NHTM, thực hiện các giao dịch với
NHTM cũng nhanh chóng hơn, hình ảnh của NHTM cũng sẽ được nhiều khách
hàng biết đến hơn. Vì thế khách hàng có thể phát sinh thêm nhiều nhu cầu vay vốn
với NHTM vì những ưu thế về sự thuận tiện trong các dịch vụ của ngân hàng. Nhân
tố này cũng là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự mở rộng tín dụng cá nhân
của NHTM.
1.3.3.2 Nhóm nhân tố thuộc về khách hàng
- Nhu cầu vốn của khách hàng
Đây chính là nhân tố đến sự sử dụng các sản phẩm tín dụng cá nhân của
NHTM. Một khi khách hàng không có nhu cầu sử dụng vốn cũng như các giao dịch
với ngân hàng thì cho dù dịch vụ, chính sách của NHTM có tốt đến mấy thì khách
hàng cũng sẽ không có bất cứ một quan hệ nào với NHTM.
thiên tai, hoả hoạn, do năng lực sản xuất kinh doanh yếu kém, là nạn nhân của sự
thay đổi chính sách của nhà nước, do bị lừa đảo, trộm cắp…Ví dụ như giá bán
nguyên vật liệu tăng vọt nhưng giá bán sản phẩm không thay đổi sẽ làm lợi nhuận
của doanh nghiệp giảm hay hộ kinh doanh giảm sút ảnh hưởng đến việc trả nợ cho
NHTM.
-Tài sản đảm bảo
Quyền sở hữu tài sản là một trong những tiêu chuẩn để được cấp tín dụng (có
thể là tài sản đảm bảo hoặc tín chấp). Tuy nhiên hiện nay có rất nhiều tài sản của
các pháp nhân và cá nhân không có giấy chứng nhận sỡ hữu. Tài sản cố định phần
lớn là nhà xưởng, máy móc, thiết bị lạc hậu không đủ tiêu chuẩn thế chấp. Trong
khi đó nhu cầu vay vốn NHTM là rất lớn. Như vậy, các NHTM để đảm bảo an toàn
cho hoạt động tín dụng của mình cần phải có những ưu ái vừa phải với khách hàng,
đồng thời với việc hướng dẫn các khách hàng trong việc làm các thủ tục, giấy tờ về
quyền sở hữu tài sản, nhưng cũng cần phải chặt chẽ trong khâu định giá giá trị tài
sản đảm bảo.
Phạm Thị Thanh Hoa Lớp: Ngân hàng 49A
19
Chuyên đề thực tập GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu
Hà
- Sự không theo kịp với quá trình đổi mới
Có nhiều hộ kinh doanh cá thể khi vay vốn để mở rộng sản xuất, nhưng lại
không chú ý trong khâu công nghệ hoặc quản lý điều hành, dẫn đến việc lãng phí
nguồn vốn, hoạt động kinh doanh không hiệu quả, điều này ảnh hưởng đến chất
lượng tín dụng, đặc biệt là chất lượng tín dụng trung dài hạn. Khiến cho sự mở rộng
tín dụng cá nhân trung và dài hạn của NHTM cũng gặp nhiều hạn chế.
1.3.3.3 Các nhân tố thuộc về môi trường hoạt động của NHTM
Môi trường hoạt động của NHTM cũng gây ra nhiều tác động lớn đến mở
rộng tín dụng nói chung và tín dụng cá nhân nói riêng. Nó bao gồm môi trường kinh
tế, môi trường luật pháp, môi trường văn hóa xã hội, sự phát triển khoa học công
nghệ và đối thủ cạnh tranh.
thời bên cạnh đó cũng nâng cao khả năng cung cấp dịch vụ tài chính chất lượng cao
cho khách hàng. Tạo sự thuận lợi cho cả phía khách hàng cũng như là của NHTM
trong việc mở rộng tín dụng cá nhân.
- Môi trường văn hóa xã hội
Môi trường văn hóa xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển hay mở
rộng hoạt động cho vay của NHTM. Bởi vì những hành vi của khách hàng một phần
nào phản ánh những sự tác động của môi trường văn hóa xã hội như: trình độ dân
trí, các thói quen, phong tục tập quán, tôn giáo
+ Trình độ dân trí của người dân:
Những người dân mà có trình độ dân trí cao thì thường có những việc làm
ổn định và thu nhập cao. Do đó thì họ cũng có xu hướng là vay tiêu dùng rất nhiều
để phục vụ nhu cầu của họ. Mà bên cạnh đó thì những hiểu biết những như nhận
thức về dịch vụ sản phẩm ngân hàng cũng tốt hơn. Lúc đó những điều kiện vay vốn
ngân hàng, ý thức trả nợ đúng hạn như cam kết cũng tốt hơn.
Những người dân mà có trình độ dân trí chưa cao, họ đi vay ngân hàng thì
thường biểu hiện sự túng quẫn hay là sự chiếm dụng vốn của ngân hàng nhưng chưa có
mục đích vay rõ ràng mà khả năng trả nợ của họ cũng không cao. Điều này dẫn đến sự
khó khăn cho sự mở rộng tín dụng cá nhân. Với những nước đang phát triển thì trình
độ dân trí của người dân càng ảnh hưởng sâu sắc hơn đến việc mở rộng tín dụng cá
nhân vì khi đất nước chưa thực sự phát triển thì trình độ dân trí thấp dẫn đến sự mở
Phạm Thị Thanh Hoa Lớp: Ngân hàng 49A
21