LỜI MỞ ĐẦU
Đông Nam Bộ là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.Trong những năm
qua,với quyết tâm cao.Vùng Đông Nam Bộ đã có những bước tiến phát triển
mạnh mẽ trở thành khu vực phát triển mạnh nhất trong cả nước; GDP tăng
đều qua các năm, tỷ lệ hộ đói nghèo giảm đáng kể, cơ sở hạ tầng phát triển…
Một trong những yếu tố góp phần làm nên sự thành công của Vùng Đông
Nam Bộ đó chính là hoạt động đầu tư. Sự nỗ lực của Vùng Đông Nam Bộ
trong việc gia tăng đầu tư đã đem lại cho vùng nhiều kết quả đang tự hào. Tuy
nhiên, bên cạnh đó hoạt động đầu tư của Vùng trong những năm qua còn tồn
tại nhiều khó khăn bất cập cần phải được khắc phục như:, hiệu quả và chất
lượng đầu tư một số ngành còn chưa cao,, cơ cấu đầu tư chuyển dịch chậm
chưa phát huy lợi thế so sánh của từng ngành, từng vùng, năng lực sản xuất và
kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của
Vùng. Chính vì vậy việc tìm hiểu rõ nguyên nhân, và nêu ra những giải pháp
khắc phục là một việc làm thiết yếu.Chính vì lí do đó,em đã lựa chọn đề tài
“THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
VÙNG ĐÔNG NAM BỘ GIAI ĐOẠN 2000-2010” với mong muốn đóng góp
một phần vào việc giải quyết vấn đề trên.
Chuyên đề được chia làm 3 phần:
PHẦN I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT
TRIỂN VÀ PHÁT TRIỂN VÙNG.
PHẦN II:THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÙNG ĐÔNG NAM
BỘ GIAI ĐOẠN 2000-2010
PHẦN III:MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG TRƯỞNG
ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA VÙNG ĐÔNG NAM BỘ GIAI
ĐOẠN 2011-2020.
1
CHƯƠNG I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ
PHÁT TRIỂN VÙNG
1.1:Khái niệm và đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển
lâu dài,có thể tồn tại vĩnh viễn như các Kim tự tháp Ai Cập,Nhà thờ La Mã ở
Rôm….Trong suốt quá trình vận hành,các thành quả đầu tư chịu sự tác động
hai mặt,cả tích cực và tiêu cực,của nhiều yếu tố tự nhiên,chính trị,kinh tế xã
hội…
Thứ tư, thành quả hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xây dựng
thường phát huy tác dụng ngay tại nơi nó được tạo dựng nên, do đó, quá trình
thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh
hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng.
Thứ năm, đầu tư phát triển có độ rủi ro cao. Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời
kỳ đầu tư kéo dài và thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài…nên
mức độ rủi ro hoạt động đầu tư phát triển thường cao. Rủi ro đầu tư do nhiều
nguyên nhân, trong đó, có nguyên nhân chủ quan từ phía các nhà đầu tư quản
lý kém, chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu… có nguyên nhân khách
quan như giá nguyên vật liệu tăng,giá bán sản phẩm giảm…
1.2:Nguồn vốn Đầu tư phát triển.
1.2.1:Nguồn vốn trong nước:
Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy của nội bộ nền kinh tế bao
gồm tiết kiệm của khu vục dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và
tiết kiệm của chính phủ được huy động vào quá trình tái sản xuất của xã hội.
Biểu hiện cụ thể của nguồn vốn đầu tư trong nước gổm nguồn vốn nhà nước
và nguồn vốn của dân cư và tư nhân.
3
Trong nguồn vốn trong nước lại chia ra thành nhiều loại nguồn vốn:
- Vốn ngân sách nhà nước .
- Vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước.
- Vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước.
- Vốn đầu tư của tư nhân và dân cư.
4
1.2.1.1: Nguồn vốn nhà nước
Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước,
thuộc vào thu nhập của các hộ gia đình. Quy mô của nguồn tiết kiệm này phụ
thuộc vào: trình độ phát triển của đất nước, tập quán tiêu dùng của dân cư,
chính sách động viên của nhà nước thông qua thuế thu nhập và các khoản
đóng góp đối với xã hội.
1.2.2:Nguồn vốn ngoài nước:
1.2.2.1: Tài trợ chính thức( ODF- Official Development Finance)
Nguồn vốn này bao gồm Viện trợ Phát triển Chính thức( ODA – Official
Development Assistance) và các hình thức tài trợ khác. Trong đó ODA
chiếm tỷ trọng chủ yếu trong nguồn ODF.
Nguồn vốn ODA là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các
chính phủ nước ngoài cung cấp với các mục tiêu trợ giúp các nước đang
phát triển. So với các hình thức tài trợ khác, ODA mang tính ưu đãi hơn bất
cứ nguồn ODF nào khác. Ngoài các điều kiện ưu đãi về lãi xuất, thời hạn cho
vay dài, khối lượng vốn cho vay lớn, boa giờ trong ODA cũng có yếu tố
không hoàn lại( thành tố tài trợ) đạt ít nhất 25%. Đặc biệt ODA không cấp
cho những dự án mang tính thương mại mà chỉ nhằm mục đích nhân đạo, thể
hiện sự quan tâm, tinh thần tương thân tương ái giữa các nước, tăng cường
mối quan hệ ngoại giao giữa các nước, giữa các nước với các tổ chức quốc
tế.
1.2.2.2: Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI)
Đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển. Nguồn vốn này có tác
dụng cực kỳ to lớn đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển
6
dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao tốc độ và chất lượng tăng trưởng ở nước
nhận đầu tư.
Những nhân tố thúc đẩy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài:
- Chênh lệch về năng suất cận biên về vốn giữa các quốc gia
- Chu kỳ sản phẩm
- Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia
- Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại
khoảng 4 ngàn tỷ USD. Trong những năm gần đây dòng vốn này đã và đang
có xu hướng tiếp tục gia tăng.
1.2.2.5: Mối quan hệ giữa vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài
Trong mối quan hệ giữa nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư
nước ngoài, mặc dù nguồn vốn đầu tư nước ngoài có vai trò rất quan trọng
song nguồn vốn đầu tư trong nước phải đặc biệt phát huy vai trò quyết định
của mình, định hướng cho dòng chảy nguồn vốn đầu tư nước ngoài và hạn
chế những tiêu cực của nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Nguồn vốn đầu tư
trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài có một mối quan hệ hữu cơ, bổ
xung cho nhau, tác động trực tiếp và gián tiếp đến quá trình tăng trưởng và
phát triển kinh tế -xã hội của một quốc gia. Có rất nhiều những tác động tích
cực.
1.3:Vai trò của đầu tư phát triển đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của
vùng.
Đầu tư phát triển có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống kinh tế
của mỗi vùng,miền.
8
Trên góc độ vĩ mô, đầu tư là nhân tố quan trọng tác động đến tăng
trưởng và phát triển kinh tế; Đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
góp phần làm tăng năng lực khoa học công nghệ đất nước; Đầu tư còn tác
động đến tổng cung, tổng cầu của nền kinh tế.
Trên góc độ vi mô thì đầu tư là nhân tố quyết định sự ra đời, tồn tại và phát
triển của các cơ sở sản xuất, cung ứng dịch vụ và của cả các đơn vị vô vị lợi.
Để tạo dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở, đơn vị sản
xuất và cunh ứng dịnh vụ nào đều cần phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ
tầng, mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị, tiến hành các công tác xây dựng cơ
bản khác và thực hiện các chi phí gắn liền với hoạt động trong một chu kỳ của
các cơ sở vật chất kỹ thuật vừa được tạo ra. Đây chính là biểu hiện cụ thể của
hoạt động đầu tư.
Đối với các đơn vị đang hoạt động, khi cơ sở vật chất , kỹ thuật của các cơ sở
- TFP là phần đóng góp của tổng các yếu tố năng suất vào tăng trưởng
GDP( gồm đóng góp của công nghệ, cơ chế chính sách…)
Như vậy, Đầu tư là một trong các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng va nó
còn ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng kinh tế.
1.3.2:. Đầu tư tác động đến tổng cung , tổng cầu của nền kình tế.
- Tác động đến tổng cầu : Để tạo ra sản phẩm cho xã hội , trước hết cần đầu tư
. Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh
tế . Theo số liệu của ngân hàng thế giới , đầu tư thường chiếm từ 24 đến 28%
trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới. Đối với tổng cầu , tác
động của đầu tư thể hiện rõ ràng trong ngắn hạn . Xét theo mô hình kinh tế vĩ
mô , đầu tư la bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu . Khi tổng cung chưa
10
kịp thay đổi , ra tăng đầu tư làm cho tổng cầu tăng ( nếu các yếu tố khác
không đổi ).
AD = C + I + G + X – M (1)
Trong đó : C : tiêu dùng
I : Đầu tư
G : Tiêu dùng chính phủ
X : Xuất khẩu
M : nhập khẩu
- Tác động đến tổng cung : Tổng cung của nền kinh tế bao gồm 2 nguồn chính
là cung trong nước và cung nước ngoài .Bộ phận chủ yếu , cung trong nước
là một hàm của các yếu tố sản xuất : vốn , lao động , tài nguyên ,công nghệ …
, thể hiện qua phương trình sau :
Q = F ( K ,L , T , R …)
Trong đó : K : Vốn đầu tư
L : Lao động
T : Công nghệ
R : Nguồn tài nguyên
Như vậy tăng qui mô vốn đầu tư là nguyên nhân trực tiếp làm tăng tổng
thế, kinh tế, chính trị…của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm
bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển.
Để đánh giá tác động của đầu tư đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế có thể sử
dụng các chỉ tiêu sau
12
% thay đổi tỷ trọng đầu tư của ngành/tổng
Hệ số co dãn giữa việc thay vốn đầu tư xã hội giữa kỳ
đổicơ cấu đầu tư với thay nghiên cứu so kỳ trước
đổi cơ cấu kinh tế =
của ngành % thay đổi tỷ trọng GDP của ngành
trong
tổng GDP giữa kỳ nghiên cứu so với kỳ trước
Chỉ tiêu này cho biết, để tăng 1% tỷ trọng GDP của ngành trong tổng GDP
thì phải đầu tư cho ngành tăng thêm bao nhiêu
% thay đổi tỷ trọng vốn đầu tư của ngành
nào đó/tổng vốn đầu tư
Hệ số co dãn giữa việc so với kỳ trước
thay đổi cơ cấu đầu tư =
ngành với thay đổi GDP % thay đổi tốc độ tăng trưởng GDP
giữa kỳ nghiên cứu so với kỳ trước
Chỉ tiêu này cho biết: để góp phần đưa tăng trưởng kinh tế (GDP) lên 1% thì
tỷ trọng đầu tư vào một ngành nào đó tăng bao nhiêu.
Tóm lại, đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua cơ cấu đầu
tư thể hiện ở sự phân bổ các nguồn lực theo ngành, vùng lãnh thổ, theo thành
phần kinh tế. Sự phân bổ này phụ thuộc vào các chính sách của nhà nước.
Nhà nước có thể sử dụng các chính sách đầu tư trực tiếp, phân bổ ngân sách
nhà nước cho các ngành, địa phương hoặc sử dụng các chính sách đầu tư gián
tiếp với các công cụ mang tính kinh tế như thuế, tín dụng, trợ giá. Các chính
sách này tạo ra tăng trưởng riêng cho từng ngành, địa phương, lãnh thổ hoặc
từng thành phần kinh tế từ đó thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mong
tư có hiệu quả để phát huy lợi thế so sánh của từng đơn vị cũng như toàn nền
kinh tế quốc dân.
Để phản ánh sự tác động của đầu tư đến trình độ phát triển của khoa học và
công nghệ, có thể sử dụng các chỉ tiêu sau:
+ Tỷ trọng vốn đầu tư đổi mới công nghệ/tổng vốn đầu tư. Chỉ tiêu này cho
thấy mức độ đầu tư đổi mới công nghệ nhiều hay ít trong mỗi thời kỳ.
+ Tỷ trọng chi phí mua sắm máy móc thiết bị/ tổng vốn đầu tư thực hiện. Chỉ
tiêu này cho thấy tỷ lệ vốn là máy móc lthiết bị chiếm bao nhiêu. Đối với các
doanh nghiệp sản xuất công nghiệp khai khoáng, chế tạo, lắp ráp, tỷ lệ này
phải lớn.
+ Tỷ trọng vốn đầu tư theo chiều sâu/ tổng vốn đầu tư thực hiện. Đầu tư chiều
sâu thường gắn liền với đổi mới công nghệ. Do đó, chỉ tiêu này càng lớn phản
ánh mức độ đầu tư đổi mới khoa học và công nghệ cao.
+ Tỷ trọng vốn đầu cho các công trình mũi nhọn, trọng điểm. Các công trình
trọng điểm, mũi nhọn thường là các công trình đầu tư lớn, công nghệ hiện đại,
mang tính chất đầu tư mới, tạo tiền đề để đầu tư phát triển các công trình
khác. Chỉ tiêu này càng lớn càng cho thấy mức độ tập trung của công nghệ và
gián tiếp phản ánh mức độ hiện đại của công nghệ.
1.3.5: Đầu tư tác động đến môi trường
Sự gia tăng đầu tư tác động đến môi trường theo hướng tiêu cực nhiều hơn là tiêu cực
- Tác động tiêu cực:
+ sự gia tăng đầu tư sẽ kéo theo sự gia tăng việc khai thác tài nguyên thiên
nhiên. Nếu việc khai thác được tiến hành bừa bãi không có sự quản lý sẽ dẫn
đến khánh kiệt tài nguyên. Hậu quả là hệ sinh thái mất cân bằng là nguyên
nhân dẫn đến hiện tượng hạn hán, lũ lụt hay sóng thần. Không những vậy,
việc cạn kiệt tài nguyên sẽ ảnh hưởng đến các thế hệ sau này, sự phát triển là
không bền vững.
15
+ sự gia tăng đầu tư kéo theo sự gia tăng các nhà máy sản xuất. Các nhà máy
này trong khi hoạt động sẽ thải nhiều chất thải độc hại ra môi trường, ảnh
+ Đầu tư thúc đẩy tăng trưởng kinh tế từ đó làm gia tăng khoảng cách giàu
nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa nông thôn và thành thị, giữa miền xuôi
và miền ngược. Điều này được thể hiện ở hệ số Gini.
1.4:Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả của đầu tư
1.4.1 Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn đầu tư ở tầm vĩ mô.
Đầu tư mang lại tính chất dài hạn và liên quan đến nhiều mặt hoạt động.
Trong từng giai đoạn của toàn bộ quá trình đầu tư, các mặt hoạt động này sẽ
tác động đến hiệu quả vốn đầu tư theo những mức độ khác nhau. Để đánh giá
hiệu quả vốn đầu tư ở tầm vĩ mô cần phải có nhiều chỉ tiêu nhằm đo lường
hiệu quả từng mặt hoạt động này sẽ tác động đến hiệu quả vốn đầu tư theo
những mức độ khác nhau. Để đánh giá hiệu quả vốn đầu tư ở tầm vĩ mô cần
phải có nhiều chỉ tiêu nhằm đo lường hiệu quả từng mặt, từng giai đoạn đầu
tư.
1.4.1.1 Hiệu suất tài sản cố định
Hiệu suất tài sản cố định biểu hiện sự so sánh giữa khối lượng tổng sản phẩm
quốc nội được tạo ra trong kỳ (GDP) với khối lượng giá trị TSCĐ trong kỳ
(FA), được tính theo công thức.
H
(fa)
= GDP/FA
Chỉ tiêu này cho biết, trong từng thời kỳ nào đó, một đồng giá trị TSCĐ sử
dụng sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng sản phẩm quốc nội. Chỉ tiêu này phản ánh
hiệu quả sử dụng vốn đầu tư còn có chỗ chưa chính xác vì sự biến động của
TSCĐ và tổng sản phẩm quốc nội không hoàn toàn phụ thuộc vào nhau.
1.4.1.2. Hiệu suất vốn đầu tư
17
Hiệu suất vốn đầu tư biểu hiện quan hệ so sánh giữa mức tăng trưởng GDP
và vốn đầu tư trong kỳ, được xác định theo công thức:
Hi = ∆ GDP/I
Trong đó : Hi: hiệu suất vốn đầu tư trong kỳ
đảm bảo tăng năng suất lao động, phát triển sản xuất , nâng cao mức sống của
dân cư.
1.4.1.5. Hệ số thực hiện vốn đầu tư.
Hệ số thực hiện vốn đầu tư là một chỉ tiêu hiệu quả vốn đầu tư rất quan trọng,
nó phản ánh mối quan hệ giữa khối lượng vốn đầu tư bỏ ra với các tài sản cố
định (kết quả của vốn đầu tư ) được đưa vào sử dụng. Hệ số được tính theo
công thức
Hu= FA/I
Trong đó: Hu: Hệ số thực hiện vốn đầu tư;
FA: Giá trị TSCĐ được đưa vào sử dụng trong kỳ;
I: Tổng số vốn đầu tư trong kỳ.
Hệ số vốn đầu tư càng lớn, biểu hiện hiệu quả vốn đầu tư càng cao.
1.4.2: Các chỉ tiêu hiệu quả vốn đầu tư ở tầm vĩ mô
Đo lường và đánh giá hiệu quả vốn đầu tư ở tầm vĩ mô tức là đo lường và
đánh giá hiệu quả của từng dự án đầu tư.
1.4.2.1 Thời hạn thu hồi vốn.
Thời hạn thu hồi vốn đầu tư xác định khoảng thời gian số vốn đầu tư bỏ vào
thu hồi lại được hoàn toàn.
Thời hạn thu hồi vốn đầu tư có thể xác định theo thời hạn thu hồi vốn đầu tư
giản đơn (ký hiệu là T) và thời hạn thu hồi vốn đầu tư có tính đến yếu tố thời
gian của tiền ( thời hạn thu hồi vốn đầu tư có chiết khấu t ).
Thời hạn thu vốn đầu tư giản đơn
T
K= ∑ CFi
I=1
19
T: thời hạn thu hồi vốn giản đơn
CFi = lợi nhuận + khấu hao = Bi - Ci
K: tổng vốn đầu tư ban đầu
Thời hạn thu hồi vốn đầu tư có chiết khấu:
IRR là tỷ lệ lãi mà nếu thay nó để xác định NPV thì NPV = 0 tức là :
n (Bi-Ci)
NPV = ∑ =0
I=0 (1+IRR)
i
Xác định IRR : n (Bi-Ci)
∑ = 0
I=1 (1+x)
i
Giải phương trình này dùng hai phương pháp nội suy và ngoại suy.
1.4.2.3. Chỉ tiêu hiện giá thuần (NPV)
n CFi
NPV = ∑
I=0 (1+r)
i
CFi = Bi - Ci
Bi - Thu nhập năm i
Ci - Chi phí năm i
n- khoảng thời gian hoạt động của dự án
r- tỷ lệ chiết khấu
NPV > 0 thì dự án đầu tư có hiệu quả và chỉ tiêu này càng lớn hơn không,
hiệu quả càng cao.
1.4.2.4. Tỷ số lợi ích / chi phí (B/C)
Tỷ số lợi ích / chi phí (B/C) là tỷ số giữa hiện giá thu nhập và hiện giá chi phí,
được tính theo công thức:
Tổng hiện giá thu nhập ∑Bt/(1+i)
t
B/C = =
Tổng hiện giá chi phí ∑Ct/(1+i)
t
chính sách kinh tế tác động làm cho các đối tượng này phát huy tác dụng tích
22
cực hay tiêu cực, vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả cao hay thấp. Các
chính sách kinh tế tác động vào lĩnh vực đầu tư, góp phần tạo ra một cơ cấu
đầu tư nhất định, là cơ sở để hình thành cơ cấu hợp lý hay không cũng như tác
động làm giảm hoăc tăng thất thoát vốn đầu tư, theo đó mà vốn đầu tư được
sử dụng hiệu quả hoặc kém hiệu quả.
Trong quá trình khai thác sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành, các
chính sách kinh tế tác động làm cho các đối tượng này phát huy tác dụng tích
cực hay tiêu cực. Đó là điều kiện làm cho vốn đầu tư được sử dụng có hiệu
quả cao hay thấp.
Khi đã lựa chọn mô hình chiến lược công nghiệp hoá đúng, nếu các chính
sách kinh tế được xác định phù hợp có hệ thống, đồng bộ và nhất quán thì sự
nghiệp công nghiệp hoá sẽ thắng lợi, vốn đầu tư sẽ mang lại hiệu quả sử dụng
cao. Nếu các chính sách kinh tế phụ hợp với mô hình chiến lược công nghiệp
hoá, tạo điều kiện cho sự thành công của công nghiệp hoá, sử dụng vốn đầu tư
có hiệu quả.
1.5.2: Công tác tổ chức quản lý đầu tư xây dựng.
Tổ chức quản lý đầu tư xây dựng là một lĩnh vực rất rộng, bao gồm nhiều
nội dung nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất kinh
doanh phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước trong từng thời kỳ, để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hoá - hiện đại hoá, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời
sống vật chất tinh thần của nhân dân. Sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn
vốn đầu tư do nhà nước quản lý, chống thât thoát lãng phí. Bảo đảm xây dựng
dự án theo quy hoạch xây dựng yêu cầu bền vững mỹ quan, bảo vệ môi
trường sinh thái, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong xây dựng, áp
dụng công nghệ tiên tiến, bảo đảm chất lượng và thời hạn xây dựng với chi
phí hợp lý, bảo hành công trình xây dựng.
23
hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
Nhóm nhân tố này ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, trước hết là
tác động đến việc tạo ra kết quả đầu tư ( các đối tượng đầu tư hoàn thành ) và
tác động đến chi phí đầu tư.
Chất lượng của công tác tổ chức quản lý đầu tư xây dựng nói trên sẽ tạo
điều kiện cho việc tiết kiệm hay thất thoát lãng phí vốn đầu tư, cũng tạo điều
kiện cho các kết quả đầu tư tăng hay giảm về mặt khối lượng và mang lại
nhiều hay ít các lợi ích kinh tế - xã hội khi khai thác sử dụng các kết quả đầu
tư này. Do những thiếu sót trong công tác quản lý đầu tư xây dựng đã làm
cho vốn đầu tư bị thất thoát lãng phí. Một số đối tượng đầu tư hoàn thành
mang lại hiệu quả sử dụng không như mong muốn làm cho số vốn đầu tư sử
dụng kém hiệu quả.
1.5.3: Chiến lược công nghiệp hoá.
Công nghiệp hoá được coi là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ từ
nền sản xuất nhỏ, lạc hậu lên một nền sản xuất lớn, hiện đại. Vì vậy, chiến
lược công nghiệp hoá sẽ ảnh hưởng đến các chính sách kinh tế khác. Lựa
chọn chiến lược công nghiệp hoá đúng sẽ tạo cho việc lựa chọn các chiến
lược, các chính sách đúng đắn. Đó là điều kiện cực kỳ quan trọng quyết định
sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá, tạo điều kiện cho
nền kinh tế tăng trưởng lâu bền, tạo nhiều việc làm, ổn định giá cả, đảm bảo
nâng cao mức sống của cộng đồng dân cư và thiết lập một xã hội cộng đồng
văn minh, biểu hiện của việc sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư.
Các chiến lược công nghiệp hoá từ trước tới nay đã được các nhà kinh tế
tổng kết thành 4 mô hình: công nghiệp hoá, hình thành trong những điều kiện
25