3 vụ án có thật liên quan đến tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất - Pdf 26

MỤC LỤC Trang
LỜI NÓI ĐẦU …………………………………………………….2
NỘI DUNG
I. Khái quát chung
1. Khái niệm về thừa kế và quyền thừa kế………………………….2
2. Một vài nét về thừa kế quyền sử dụng đất ở……………………..3
II. Ba vụ việc có tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất ở.
1. Tranh chấp di sản thừa kế nhà và đất ở giữa bà Đinh Thị Minh và bà
Nguyễn Thị Nho……………………………………………………………4
1.1. Tóm tắt nội dung vụ việc………………………………………5
1.2. Nhận xét của nhóm……………………………………………6
2. Tranh chấp quyền sở hữu và quyền sử dụng đất ở giữa Bà Nguyễn Thị
Hằng và Ông Nguyễn Văn Bách…………………………………………..7
2.1. Tóm tắt sự việc:………………………………………………..7
2.2. Quyết định của Tòa án………………………………………...8
2.3. Nhận xét của nhóm về quyết định của Tòa án………………..9
3. Tranh chấp di sản thừa kế giữa ông Lại Hữu Minh, ông Lại Hữu Lệ, bà
Lại Thị Tuyên và ông Lại Hữu Hiền với ông Lại Hữu Vận………………11
3.1. Tóm tắt nội dung vụ việc………………………………………11
3.2. Cách giải quyết của Tòa………………………………………..13
3.3. Nhận xét của nhóm ………………………………….14
KẾT LUẬN………………………………………………………………..16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………….17
1
LỜI NÓI ĐẦU
Thừa kế là một chế định pháp lý quan trọng trong Bộ luật dân sự (BLDS)
nước ta, là sự cụ thể hóa pháp luật mang tính đặc trưng theo Điều 58 Hiến Pháp
năm 1992. “ Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của
công dân”. Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được
nhà nước bảo hộ.
Thừa kế quyền sử dụng đất nói chung là một trong những vấn đề rất phức

quyền sử dụng đất ở của cá nhân đã chết cho người thừa kế theo di chúc hoặc
theo pháp luật, theo đó người thừa kế sẽ trở thành chủ sở hữu nhà ở và quyền sử
dụng đất ở do được thừa kế.
Theo Bộ luật dân sự năm 2005 chỉ quy định về di sản thừa kế nói chung còn
di sản là quyền sử dụng đất được quy định cụ thể trong Luật Đất đai năm 2003.
Theo quy định tại Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao ban hành ngày 10/8/2004 thì quyền sử dụng đất được
xác định là di sản thừa kế trong những trường hợp sau:
- Đối với đất do người chết để lại (không biệt có tài sản hay không có tài sản gắn
liền với quyền sử dụng đất) mà người đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993 và Luật Đất đai năm 2003
thì quyền sử dụng đất đó là di sản.
- Đối với trường hợp đất do người chết để lại mà người đó có một trong các loại
giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 (có 8
loại giấy tờ) thì kể từ ngày 1/7/2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản không
phụ thuộc vào thời điểm mở thừa kế.
Về bản chất, thừa kế nhà ở và quyền sử dụng đất ở cũng giống như thừa kế các
loại tài sản khác. Tuy nhiên, thừa kế nhà ở và quyền sử dụng đất ở còn có những
đặc điểm tương đối độc lập với thừa kế các loại tài sản khác:
3
- Do chế độ sở hữu toàn dân về đất đai nên đất đai trước hết thuộc quyền sở hữu
của Nhà nước và do Nhà nước thống nhất quản lý. Do vậy thừa kế quyền sử
dụng đất ở cũng không nằm ngoài nguyên tắc thừa kế quyền sử dụng đất nói
chung, tuy rằng thừa kế quyền sử dụng đất ở không cần phải có các điều kiện
như đối với thừa kế đất nông nghiệp trồng cây nông nghiệp hằng năm, nuôi
trồng thủy hải sản. Đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước, cá nhân có quyền sử
dụng, khai thác đất ở chứ không có quyền chiếm hữu. Vì vậy, di sản thừa kế
không phải là đất ở hay diện tích đất ở mà phải được hiểu là thừa kế quyền sử
dụng đất ở. Hơn nữa, đất đai nói chung và đất ở nói riêng đều thuộc quyền sở
hữu của Nhà nước, vì vậy việc để lại thừa kế quyền sử dụng đất không những

là đất ở, 304m
2
đất ao.
- Khối tài sản thứ hai do anh Đinh Thế Chấn (con trai cả ông Luật, bà Nga) quản
lý gồm diện tích đất 14 thước = 317,7m
2
.
Theo bà Minh, bà Gái, bà Năm và anh Chấn khai, trước khi mất, hai cụ không
để lại di chúc, tài sản trên chưa chia cho ai, nay yêu cầu được chia thừa kế theo
pháp luật.
Theo bà Nho khai: vợ chồng bà được bố mẹ chồng cho ở riêng từ năm 1961, nhà
do bố mẹ chồng làm từ trước, trên diện tích đất 2 sào 1 thước. Cụ Tùng (mẹ
chồng) cùng em gái út là bà Năm ở với vợ chồng bà, còn cụ Pháp ở với vợ
chồng ông Luật. Năm 1963, ông Lệ (chồng bà) đi bộ đội. Năm 1974, hy sinh ở
chiến trường. Năm 1966, cụ Pháp ốm nặng. Ngày 27-01-1966 âm lịch, cụ Pháp
có nhờ con rể là ông Đỗ Sĩ Tiếp viết di chúc phân chia nhà đất trên cho hai
người con là ông Luật và ông Lệ, di chúc hai cụ đã điểm chỉ, nhưng ông Luật,
bà Nho và ông Tiếp không đồng ý ký vào bản di chúc và di chúc đó không qua
xã chứng thực. Khi bố mẹ chồng ốm đau, bà là người trông nom nuôi dưỡng
chính, khi hai cụ qua đời, bà cùng vợ chồng ông Luật đứng lo mai táng, còn các
bà con gái tuy có đóng góp chỉ một ít báo hiếu với cha mẹ. Nay, các bà con gái
cụ Pháp, cụ Tùng kiện yêu cầu chia di sản của bố mẹ, bà không đồng ý.
Tại Bản án sơ thẩm số 01 ngày 26-02-1997, Toà án nhân dân huyện Phúc Thọ
quyết định:
5
- Giấy văn thư đề ngày 27-01-1966 của cụ Đinh Thế Pháp là không hợp pháp.
- Xác định hàng thừa kế theo pháp luật gồm 5 người là: Ông Đinh Thế Luật, ông
Đinh Thế Lệ, bà Đinh Thị Minh, bà Đinh Thị Gái, bà Đinh Thị Năm.
- Khối di sản sau khi trừ các khoản chi phí còn lại trị giá 58.000.000 đồng chia
cho 5 kỷ phần, mỗi kỷ phần là 11,6 triệu đồng.

ký trên giấy này là của ai mà đã xác định “Giấy văn thư” này không hợp pháp là
chưa có cơ sở vững chắc. Vậy theo nhóm em để đảm bảo quyền lợi của các bên
6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status