ĐỀ TÀI
Tìm 3 vụ án có thật liên quan
đến tranh chấp thừa kế
quyền sử dụng đất
MỤC LỤC Trang
LỜI NÓI ĐẦU …………………………………………………….2
1
NỘI DUNG
I. Khái quát chung
1. Khái niệm về thừa kế và quyền thừa kế………………………….2
2. Một vài nét về thừa kế quyền sử dụng đất ở…………………… 3
II. Ba vụ việc có tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất ở.
1. Tranh chấp di sản thừa kế nhà và đất ở giữa bà Đinh Thị Minh và bà
Nguyễn Thị Nho……………………………………………………………4
1.1. Tóm tắt nội dung vụ việc………………………………………5
1.2. Nhận xét của nhóm……………………………………………6
2. Tranh chấp quyền sở hữu và quyền sử dụng đất ở giữa Bà Nguyễn Thị
Hằng và Ông Nguyễn Văn Bách………………………………………… 7
2.1. Tóm tắt sự việc:……………………………………………… 7
2.2. Quyết định của Tòa án……………………………………… 8
2.3. Nhận xét của nhóm về quyết định của Tòa án……………… 9
3. Tranh chấp di sản thừa kế giữa ông Lại Hữu Minh, ông Lại Hữu Lệ, bà
Lại Thị Tuyên và ông Lại Hữu Hiền với ông Lại Hữu Vận………………11
3.1. Tóm tắt nội dung vụ việc………………………………………11
3.2. Cách giải quyết của Tòa……………………………………… 13
3.3. Nhận xét của nhóm ………………………………….14
KẾT LUẬN……………………………………………………………… 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………….17
2
LỜI NÓI ĐẦU
Trong các loại tài sản để lại thừa kế thì bất động sản được quan tâm đến
nhiều nhất đặc biệt là nhà ở và quyền sử dụng đất. Nhà ở và đất ở là những loại
tài sản có giá trị của bất cứ một hộ gia đình hay cá nhân nào. Từ Hiến pháp năm
1946 Nhà nước ta đã quy định: “Quyền sở hữu tài sản của công dân Việt Nam
được đảm bảo”. (Điều 12)
Thừa kế nhà ở và quyền sử dụng đất ở là việc chuyển nhượng nhà ở và
quyền sử dụng đất ở của cá nhân đã chết cho người thừa kế theo di chúc hoặc
theo pháp luật, theo đó người thừa kế sẽ trở thành chủ sở hữu nhà ở và quyền sử
dụng đất ở do được thừa kế.
Theo Bộ luật dân sự năm 2005 chỉ quy định về di sản thừa kế nói chung còn
di sản là quyền sử dụng đất được quy định cụ thể trong Luật Đất đai năm 2003.
Theo quy định tại Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao ban hành ngày 10/8/2004 thì quyền sử dụng đất được
xác định là di sản thừa kế trong những trường hợp sau:
- Đối với đất do người chết để lại (không biệt có tài sản hay không có tài sản gắn
liền với quyền sử dụng đất) mà người đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993 và Luật Đất đai năm 2003
thì quyền sử dụng đất đó là di sản.
- Đối với trường hợp đất do người chết để lại mà người đó có một trong các loại
giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 (có 8
loại giấy tờ) thì kể từ ngày 1/7/2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản không
phụ thuộc vào thời điểm mở thừa kế.
Về bản chất, thừa kế nhà ở và quyền sử dụng đất ở cũng giống như thừa kế các
loại tài sản khác. Tuy nhiên, thừa kế nhà ở và quyền sử dụng đất ở còn có những
đặc điểm tương đối độc lập với thừa kế các loại tài sản khác:
4
- Do chế độ sở hữu toàn dân về đất đai nên đất đai trước hết thuộc quyền sở hữu
của Nhà nước và do Nhà nước thống nhất quản lý. Do vậy thừa kế quyền sử
dụng đất ở cũng không nằm ngoài nguyên tắc thừa kế quyền sử dụng đất nói
chung, tuy rằng thừa kế quyền sử dụng đất ở không cần phải có các điều kiện
- Khối tài sản thứ nhất do bà Nguyễn Thị Nho (vợ ông Lệ) quản lý tại xã Liên
Hiệp, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây gồm diện tích 825,2m
2
đất, trong đó
521,2m
2
là đất ở, 304m
2
đất ao.
- Khối tài sản thứ hai do anh Đinh Thế Chấn (con trai cả ông Luật, bà Nga) quản
lý gồm diện tích đất 14 thước = 317,7m
2
.
Theo bà Minh, bà Gái, bà Năm và anh Chấn khai, trước khi mất, hai cụ không
để lại di chúc, tài sản trên chưa chia cho ai, nay yêu cầu được chia thừa kế theo
pháp luật.
Theo bà Nho khai: vợ chồng bà được bố mẹ chồng cho ở riêng từ năm 1961, nhà
do bố mẹ chồng làm từ trước, trên diện tích đất 2 sào 1 thước. Cụ Tùng (mẹ
chồng) cùng em gái út là bà Năm ở với vợ chồng bà, còn cụ Pháp ở với vợ
chồng ông Luật. Năm 1963, ông Lệ (chồng bà) đi bộ đội. Năm 1974, hy sinh ở
chiến trường. Năm 1966, cụ Pháp ốm nặng. Ngày 27-01-1966 âm lịch, cụ Pháp
có nhờ con rể là ông Đỗ Sĩ Tiếp viết di chúc phân chia nhà đất trên cho hai
người con là ông Luật và ông Lệ, di chúc hai cụ đã điểm chỉ, nhưng ông Luật,
bà Nho và ông Tiếp không đồng ý ký vào bản di chúc và di chúc đó không qua
xã chứng thực. Khi bố mẹ chồng ốm đau, bà là người trông nom nuôi dưỡng
chính, khi hai cụ qua đời, bà cùng vợ chồng ông Luật đứng lo mai táng, còn các
bà con gái tuy có đóng góp chỉ một ít báo hiếu với cha mẹ. Nay, các bà con gái
cụ Pháp, cụ Tùng kiện yêu cầu chia di sản của bố mẹ, bà không đồng ý.
Tại Bản án sơ thẩm số 01 ngày 26-02-1997, Toà án nhân dân huyện Phúc Thọ
quyết định:
huyện Phúc Thọ vì các quyết định được đưa ra khi mà còn nhiều vấn đề chưa
được xác minh rõ. Xét thấy rằng diện tích nhà và đất mà các đương sự đang
tranh chấp là di sản của cụ Đinh Thế Pháp (chết năm 1966) và cụ Phan Thị Tùng
(chết năm 1972) để lại. Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm
không xác minh làm rõ tờ “Giấy văn thư” (di chúc của cụ Pháp) do bà Nho xuất
trình có phải do hai cụ Pháp và cụ Tùng để lại hay không?. Dấu vân tay và chữ
ký trên giấy này là của ai mà đã xác định “Giấy văn thư” này không hợp pháp là
chưa có cơ sở vững chắc. Vậy theo nhóm em để đảm bảo quyền lợi của các bên
7
đương sự Tòa án phải xác minh rõ ràng xem giấy văn thư do bà Nho xuất trình
có hợp pháp hay không. Nếu giấy văn thư ấy không hợp pháp thì có thể giữ
nguyên cách giải quyết tại bản án sơ thẩm. Còn trong trường hợp xác minh được
giấy văn thư ấy hợp pháp thì khối di sản ấy phải được chia lại theo “giấy văn
thư” ( theo di chúc ) do cụ Pháp để lại. Trong trường hợp này không có ai thuộc
trường hợp quy đinh tại Điều 669 Bộ luật Dân sự có quy định về Người thừa kế
không phụ thuộc vào nội dung của di chúc cụ thể là trong các con của cụ Pháp
và cụ Tùng không có ai không còn khả năng lao động nên sẽ không được 2/3
của một suất thừa kế di sản. Nên việc chia di sản cứ chia như di chúc do ông
Pháp để lại sai khi đã trừ đi các chi phí khác. Di sản sẽ được chia cho ông Luật
và ông Lệ. Vì ông Lệ đã chết nên vợ của ông Lệ sẽ được thừa kế thế vị phần của
ông và con của ông Luật sẽ được thừa kế vị phần của ông Luật.
Theo ý kiến của nhóm chúng tôi thì phải hủy bản án dân sự sơ thẩm dân sự số
01/DSST ngày 26-02-1997 của Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ về vụ án tranh
chấp di sản thừa kế giữa nguyên đơn là bà Đinh Thị Minh với bị đơn là bà
Nguyễn Thị Nho. Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tây xét xử lại sơ
thẩm theo đúng quy định của pháp luật.
2. Tranh chấp quyền sở hữu và quyền sử dụng đất ở giữa Bà Nguyễn Thị
Hằng và Ông Nguyễn Văn Bách.
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hằng, sinh năm 1945. Trú tại số nhà 10 phố Lò
Rèn, Phường Hàng Bồ, Quận Hoàn Kiếm, Tp. Hà Nội.
- Thời điểm mở thừa kế của Bà Tần là năm 1999.
- Hàng thừa kế thứ nhất của Bà Tần là Bà Hằng, Bính và Ông Bách.
9
Di sản thừa kế của Bà Tần đó là: 252m2 đất thổ cư đã được cấp Giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất mang tên 2 vợ chồng ông bà số
10103130107 ngày 2/6/2000 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội cấp và
được định giá là 3.024.000.000 đồng.
Trên đất thổ cư có một ngôi nhà cấp 4, 1 nhà xây tạm, tường bao quanh, bể
nước, sân lát gạch đỏ, 3 cây hồng xiêm và 1 giàn trầu không theo định giá là
55.855.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản mà bà Tần để lại đó là : 3.079.855.000 đồng.
Tài sản này được chia đều cho 2 con của bà Tần và mỗi người được nhận đó là
3.079.855.000 đồng : 3 = 1.026.618.000 đồng.
Chia cụ thể bằng hiện vật như sau:
Chia cho anh Bách được quyền sử dụng 161,19 m2 đất thổ cư tại số 58, cụm 1,
Phường Xuân La, Quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội trị giá 1.934.280.000 đồng.
Anh Bách có nghĩa vụ thanh toán phần chênh lệch di sản của mình cho Bà Bính
là 591.934.000 đồng.
Chia di sản cho Bà Hằng được quyền sử dụng 90,81 m
2
đất thổ cư tại số 58, cụm
1, Phường Xuân La, Quận Tây Hồ, Tp Hà Nội trị giá 1.089.720.000 đồng. Bà
Hằng có nghĩa vụ thanh toán phần chênh lệch di sản của mình cho Bà Bính là
74.675.000 đồng.
Chi di sản cho Bà Bính 1.026.618.000 đồng và Ông Bách, Bà Hằng có nghĩa vụ
thánh toán phần chênh lệch di sản của Bà Tần cho Bà Bính.
2.3. Nhận xét của nhóm về quyết định của Tòa án.
Tòa án không chấp nhận di chúc viết tay ngày 27/03/1999 do hai Bà Hằng và Bà
Bính xuất trình là đúng theo quy định của pháp luật. BLDS quy định tại điều
10
+ Ông Lại Hữu Lệ;
Cùng trú tại thôn Nghiêm Thôn, thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, Bắc Ninh.
+ Bà Lại Thị Tuyên, trú tại Thin Guột, xã Thị Cầu, thị xã Bắc Ninh, tỉnh Bắc
Ninh.
+ Ông Lại Hữu Hiển, trú tại khu 1, xã Thị Cầu, thị Xã Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
- Bị đơn: Anh Lại Hữu Vận, trú tại khu 3, thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, tỉnh
Bắc Ninh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liện quan:
+ Bà Trần Thị Mỹ;
+ Anh Lại Hữu Thắng;
+ Chị Lại Thị Oanh;
+ Chị Lại Thị Yến;
+ Chị Lại Thị Lợi;
+ Bà Bùi Thị Giang;
Cùng trú tại khu 5, thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
+ Bà Bùi Thị Hải, trú tại nhà B3, tập thể đường sắt Kim Liên, thành phố Hà
Nội.
+ Bà Bùi Thị Lan, trú tại thôn Yên Mẫu, xã Kinh Bắc, thị xã Bắc Ninh, tỉnh
Bắc Ninh.
+ Bà Nguyễn Thị Phán, trú tại khu 3, thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc
Ninh.
3.1. Tóm tắt nội dung vụ việc.
- Vụ việc xảy ra huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Cụ Lại Hữu Cận có hai vợ:
12
+ Vợ thứ nhất là cụ Nguyễn Thị Nhớn. Cụ Cận và cụ Nhớn có 5 con đẻ gồm
các ông, bà: Lại Thị Tuyên, Lại Hữu Minh, Lại Hữu Nội (chết lúc nhỏ), Lại Hữu
Lợi (hi sinh năm 1969, không có vợ con), Lại Hữu Quang (chết 5-1983; có hai
vợ: vợ cả là bà Cúc, đã ly hôn, có một con chung là anh Vận. Vợ hai là bà Trần
Thị Mỹ, có bốn con là anh, chị: Lại Thị Oanh, Lại Thị Yến, Lại Hữu Lợi, Lại
phương cấp đất. Khi chưa về ở nhà của các cụ, anh Vận được hợp tác xã Lại
Nghiêm, xã Phương Mao cấp 240 m
2
đất ở ven đường. Do phải trông nom nhà
đất của các cụ nên ngày 15-10-1983 anh trả lại đất cho hợp tác xã Lại Nghiêm,
xã Phương Mao và anh xin được sử dụng nhà đất của các cụ, được chính quyền
địa phương xã Phương Mao xác nhận ngày 16-11-1983. Trong quá trình sử
dụng, vợ chồng anh Vận đã nâng nền, cải tạo đất. Anh Vận không đồng ý trả lại
nhà và đất theo yêu cầu của nguyên đơn.
Ông Lại Hữu Lệ không yêu cầu được hưởng di sản thừa kế.
Bà Trần Thị Mỹ cùng các kế thừa của ông Lại Hữu Quang gồm: chị Lại Thị
Oanh, chị Lại Thị Yến, anh Lại Hữu Thắng, chị Lại Thị Hợi công nhận lời khai
của anh Vận là đúng và nhường kỷ phần thừa kế được hưởng của ông Quang
cho anh Vận.
Các kế thừa của bà Bùi Thị Chung gồm: chị Bùi Thị Giang, Chị Bùi Thị Hải,
chị Bùi Thị Lan nhường phần thừa kế của bà chung mà các chị được hưởng cho
anh Lại Hữu Vận.
3.2. Cách giải quyết của Tòa.
Tại bản dân sự sơ thẩm số 05 ngày 19-6-1996, Tòa án nhân dân huyện Quế Võ,
tỉnh Hà Bắc (cũ) đã quyết định:
+ Hủy việc chứng nhận giao đất ở của cụ Cận cho anh Vận của Ủy ban nhân
dân xã Phương Mao.
+ Giao cho anh Vận được sở hữu phần tài sản thừa kế của ông Lại Hữu
Quang trị giá 82.320.000 đồng, một ngôi nhà 3 gian anh đã xây dựng và sử dụng
đất ở có diện tích là 188 m
2
trị giá 206.800.000 đồng, nhưng được trừ đi
4.980.000 đồng tiền anh đổ đất, 13.000.000 đồng tiền công trình phụ đổ trần và
82.320.000 đồng tiền chia thừa kế phải trả cho ông Minh, bà Tuyên, ông Hiền,
ông Hiển 106.000.000 đồng tiền chia thừa kế của cụ Cận. Anh Vận phải tháo dỡ
- Anh Lại Hữu Vận khai rằng năm 1983 anh Vận được hợp tác xã Lại
Nghiêm, xã Phương Mao (nay là thị trấn Phố Mới) cấp cho thửa đất 240 m
2
đất,
nhưng do phải trông nom, giữ gìn di sản, nên anh Vận phải trả lại cho hợp tác xã
diện tích đất nêu trên. Lời khai của anh Vận được bà Nguyễn Thị Mỹ (nguyên
chủ nhiệm hợp tác xã Lại Nghiêm năm 1983) và ông Lại Hữu Hinh (trưởng chi
họ Lại) công nhận. Anh Vận xuất trình “ Đơn xin xác nhận sử dụng đất ở” của
anh Vận, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Phương Mao năm 1983 là đồng ý
cho anh Vận được sử dụng nhà và đất ở của cụ Cận, cụ Nhớn và cụ Hòa.
15
Mặc dù có lời khai và một số chứng cứ như trên, nhưng anh Vận không xuất
trình được tài liệu của cấp có thẩm quyền để chứng minh cho lời khai của mình
như: Quyết định cấp đất, quyết định thu hồi đối với diện tích 240 m
2
đất Các
nguyên đơn không công nhận việc anh Vận vì sử dụng đất của cụ Cận, cụ Nhớn
và cụ Hòa mà phải trả lại 240 m
2
đất cho hợp tác xã Lại Nghiêm, xã Phương
Mao.
Căn cứ vào chứng cứ chủ yếu như trên, bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm
đã xác định anh Vận có quyền sử dụng 240 m
2
đất trong số diện tích 376,5 m
2
đất, di sản thừa kế chỉ còn 138,5 m
2
đất là chưa đủ cơ sở vững chắc. Chỉ xác
định được 240 m
tranh chấp về thừa kế tài sản giữa nguyên đơn là ông Lại Hữu Minh, ông Lại
Hữu Hiền, ông Lại Hữu Lệ, bà Lại Thị Tuyên và ông Lại Hữu Hiển với bị đơn
là anh Lại Hữu Vận; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh giải quyết
lại theo đúng quy định của pháp luật.
KẾT LUẬN
Trong thực tiễn việc giải quyết tranh chấp về thừa kế đất ở hiện nay cho thấy
người dân không nắm được những quy định của pháp luật về thừa kế, quyền
thừa kế nói chung và quyền thừa kế đất ở nói riêng. Khi giải quyết tranh chấp,
các thẩm phán thường lúng túng, nhiều khi phán quyết của Tòa án không mang
lại công bằng cho các đương sự và còn nhiều vướng mắc. Pháp luật về thừa kế ở
nước ta còn nhiều điểm bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện.
17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Tập I, NXB
Công An Nhân Dân, Hà Nội, 2009.
2. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật đất đai, NXB Hà Nội, Hà Nội,
2009.
3. Phùng Trung Tập, Luật thừa kế Việt Nam, NXB Hà Nội, Hà Nội, 2008.
4. Phùng Trung Tập, Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ 1945
đến nay, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2004.
5. Những quy định mới về thừa kế trong Bộ luật dân sự năm 2005, Trần Kim
Chi, Tạp chí kiểm sát, số 02/2006.
6. Các văn bản quy phạm pháp luật
+ Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005.
+ Luật đất đai năm 2003.
+ Luật Hôn nhân và gia đình năm 1995.
7. Nguyễn Minh Tuấn, Pháp luật thừa kế của Việt Nam những vấn đề lí luận và
thực tiễn, NXB Lao đông – xã hội, Hà Nội, 2009
8. Tài liệu trên internet
+