nghiên cứu - trao đổi
30
T
ạp chí luật học số tháng 3/2003
ao động nữ đợc Bộ luật lao động năm
1995 (BLLĐ) coi là loại lao động đặc thù
bên cạnh những lao động đặc thù khác nh lao
động cha thành niên hoặc lao động là ngời
cao tuổi , do có những đặc điểm riêng biệt về
thể lực, tâm sinh lí và đặc biệt là thiên chức sinh
đẻ và nuôi con. Do vậy, ngoài những quy định
áp dụng đối với ngời lao động nói chung (bất
kể nữ hay nam), lao động nữ còn đợc BLLĐ
dành thêm một chơng gồm những quy định
riêng tại chơng X. Các quy định này đ tính
đến những đặc điểm nêu trên nhằm một mặt bảo
vệ ngời lao động nữ trớc những nguy cơ bất
lợi có thể xảy ra do ảnh hởng từ những đặc
điểm đó, mặt khác tạo điều kiện để lao động nữ
1. Nhằm bảo vệ ngời lao động nữ trong
chức năng thiên bẩm là làm vợ, làm mẹ, khoản 3
Điều 111 BLLĐ đ quy định: Ngời sử dụng
lao động không đợc sa thải hoặc đơn phơng
chấm dứt hợp đồng lao động đối với ngời lao
động nữ vì lí do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản,
nuôi con dới 12 tháng tuổi, trừ trờng hợp
doanh nghiệp chấm dứt hoạt động. Nh vậy, quy
định này cấm ngời sử dụng lao động (NSDLĐ)
lấy lí do ngời lao động nữ kết hôn, có thai, nuôi
con dới 12 tháng để xử lí kỉ luật sa thải hay
đơn phơng chấm dứt hợp đồng lao động đối với
họ. Nhng nếu ngời lao động nữ có một hay
nhiều hành vi vi phạm thuộc các trờng hợp quy
định tại Điều 38 và Điều 85 BLLĐ thì dù đang
mang thai hay đang nuôi con nhỏ dới 12 tháng
L
* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế
Trờng đại học luật Hà Nội
TS. Đào thị hằng
*
nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số tháng 3/2003
tại, bởi nội dung Điều này có thể đợc suy ra từ
Điều 38 và Điều 85 BLLĐ. Điều 38 cho phép
NSDLĐ có thể đơn phơng chấm dứt hợp đồng
lao động (chỉ) trong các trờng hợp ngời lao
động thờng xuyên không hoàn thành công việc,
bị xử lí kỉ luật sa thải, bị ốm đau, vì những lí do
bất khả kháng hoặc do doanh nghiệp, cơ quan,
tổ chức chấm dứt hoạt động. Đây không phải là
quy định mở cho nên có thể hiểu rằng ngoài
những lí do nêu trên NSDLĐ không có quyền
đơn phơng chấm dứt hợp đồng lao động với
ngời lao động vì bất cứ lí do nào khác, càng
không thể vì những lí do liên quan đến thiên
chức của ngời lao động nữ. Tơng tự nh vậy
đối với Điều 85 BLLĐ về kỉ luật sa thải. Hình
thức kỉ luật sa thải chỉ đợc áp dụng trong 3
trờng hợp đ đợc liệt kê cụ thể tại khoản 1
Điều 85 BLLĐ mà ở đó các lí do nh ngời lao
động nữ có thai, nghỉ thai sản không đợc đề
cập. Nói cách khác, nên cắt bỏ đoạn 1 của khoản
3 Điều 111 đ sửa đổi, bổ sung để đảm bảo tính
khoa học của các điều luật.
Thứ hai, tại đoạn 2 khoản 3 Điều 111 (tức
đoạn bổ sung), cụm từ kéo dài thời hiệu đợc
sử dụng không phù hợp với nội dung điều luật.
Việc kéo dài thời hiệu xử lí kỉ luật lao động
thờng đợc hiểu theo nghĩa có lợi cho NSDLĐ
hơn là có lợi cho ngời lao động; thời hiệu xử lí
kỉ luật lao động càng kéo dài thì cơ hội xử lí kỉ
luật của NSDLĐ đối với ngời lao động càng T
ạp chí luật học số tháng 3/2003
Bằng việc cắt bỏ cụm từ đối với trờng hợp
sinh con lần thứ nhất, thứ hai LSĐBS đ sửa
đổi khoản 1 Điều 144 BLLĐ về chế độ trợ cấp
thai sản theo hớng thông thoáng, cởi mở hơn.
Nếu trớc đây ngời lao động nữ đ đóng
BHXH chỉ đợc hởng trợ cấp thai sản (bằng
100% tiền lơng cho các tháng nghỉ thai sản
theo quy định và đợc trợ cấp thêm một tháng
lơng ) khi sinh con lần thứ nhất, thứ hai thì
với quy định mới tại LSĐBS, mọi ngời lao
động nữ (đ đóng BHXH) khi sinh con không
phụ thuộc vào số lần sinh đều đợc hởng chế
độ trợ cấp thai sản. Sự sửa đổi này thực sự đ
khắc phục đợc hạn chế của quy định cũ, ảnh
hởng đến lợi ích của ngời lao động nữ. Những
hạn chế thể hiện ở chỗ, các nguyên tắc và mục
tiêu của BHXH không đợc chú ý đúng mức,
chính sách kế hoạch hoá dân số đợc lồng ghép
một cách không hợp lí. Mục tiêu của BHXH là
nhằm bù đắp vật chất cho ngời lao động khi họ
gặp những biến cố bất thờng hoặc rủi ro mà bị
giảm hoặc mất thu nhập và đợc thực hiện cho
mọi ngời lao động gặp hoàn cảnh nêu trên.
lao động nam 5 tuổi đời và 5 năm đóng BHXH
vẫn đợc hởng tỉ lệ lơng hu hàng tháng tối
đa bằng mức hởng của lao động nam có tuổi
đời và số năm đóng BHXH cao hơn. Quy định
này dù còn cần đợc cụ thể hoá tiếp tục bằng
các văn bản dới luật nhng đ thể hiện chính
sách u đi của Nhà nớc đối với lao động nữ
đồng thời góp phần làm cân bằng hơn chế độ
BHXH hu trí giữa lao động nữ và lao động nam
trong điều kiện cha có quy định về tăng độ tuổi
nghỉ hu của lao động nữ.
Tuy nhiên, theo chúng tôi, sẽ góp phần đảm
bảo quyền lợi chế độ hu trí của lao động nữ
triệt để hơn nếu vấn đề tiền lơng đợc nghiên
cứu sửa đổi đồng thời trong mối quan hệ này.
Khoản 1a Điều 145 quy định tỉ lệ lơng hu tối
đa ngang bằng giữa lao động nữ và lao động
nam có điều kiện về tuổi đời và số năm đóng
BHXH không ngang bằng nhau nhng không
phải vì thế mà ngời lao động hai giới cùng
hởng mức lơng hu tối đa nh nhau, bởi mức
lơng hu cao hay thấp ngoài ra còn phụ thuộc
vào mức bình quân của tiền lơng tháng làm căn
cứ đóng BHXH. Trong trờng hợp bình thờng,
mức đó đợc tính bình quân gia quyền các mức
tiền lơng tháng (và một số khoản phụ cấp theo
quy định) trong 5 năm cuối trớc khi nghỉ hu nghiên cứu - trao đổi
độ tuổi 60.
3. Vấn đề không kém phần quan trọng đối với
ngời lao động nữ là quyền đơn phơng chấm dứt
hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật. ở
đây, chúng tôi muốn đề cập một số trờng hợp
quy định tại Điều 37 BLLĐ mà không đợc sửa
đổi, bổ sung trong LSĐBS lần này.
Theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 37
BLLĐ, ngời lao động nữ làm việc theo hợp
đồng lao động xác định thời hạn từ 1 đến 3 năm,
hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo công
việc nhất định có thời hạn dới 1 năm mà có
thai phải nghỉ việc theo chỉ định của thầy thuốc,
có quyền đơn phơng chấm dứt hợp đồng lao
động trớc thời hạn. Thời hạn báo trớc cho
NSDLĐ tuỳ thuộc vào thời hạn do thầy thuốc
chỉ định (trong trờng hợp này ngời lao động
nữ không phải bồi thờng chi phí đào tạo (nếu
có), nếu có giấy của thầy thuốc chứng nhận tiếp
tục làm việc sẽ ảnh hởng xấu đến thai nhi).
Nh vậy, ngời lao động nữ có thai và nếu thai
nhi bị ảnh hởng bởi công việc sẽ đợc pháp
luật bảo vệ bằng cách cho phép chấm dứt hợp
đồng lao động kịp thời. Tuy nhiên, theo chúng
tôi, dờng nh đây vẫn cha phải là phơng án
tối u để bảo vệ các đối tợng nêu trên. Chấm
dứt hợp đồng lao động cũng có nghĩa là không
còn công ăn việc làm tại doanh nghiệp, cơ quan
hoặc tổ chức đó. Dù BLLĐ coi đây là quyền
nhng thực tế lại là bắt buộc phải chấm dứt
nghiên cứu - trao đổi
34
T
ạp chí luật học số tháng 3/2003
hợp đồng lao động cũng là lúc họ tự tớc bỏ
nhiều quyền lợi của mình. Chính điều này thể
hiện sự bất cập của điểm e khoản 1 Điều 37
BLLĐ và đặt ra yêu cầu cần phải sửa đổi Điều
luật đó để bảo vệ ngời lao động nữ. Theo
chúng tôi, nên sửa quy định này theo hớng: Coi
trờng hợp ngời lao động nữ có thai phải nghỉ
việc theo chỉ định của thầy thuốc là căn cứ
để tạm hon hợp đồng lao động. Trong thời
gian nghỉ thai sản, sản phụ vẫn đợc hởng
đầy đủ chế độ BHXH thai sản và hết thời
gian này ngời lao động nữ đơng nhiên đợc
tiếp tục trở lại làm việc (trừ khi thầy thuốc có
chỉ định khác).
BLLĐ còn quy định quyền đơn phơng
chấm dứt hợp đồng lao động của ngời lao
động, trong đó có lao động nữ khi có một số căn
cứ khác đợc liệt kê tại điểm a, b, c khoản 1
vậy, sự phản ứng của ngời lao động đối với
những hành vi vi phạm từ phía NSDLĐ bằng
việc đơn phơng chấm dứt hợp đồng chỉ là sự
phản ứng tiêu cực. Ngoài ra, quy định nh nêu
trên còn có thể tạo sự lạm dụng từ phía NSDLĐ:
Khi không muốn tiếp tục sử dụng một ngời lao
động nào đó nhng không có lí do chính đáng
để chấm dứt hợp đồng với họ, NSDLĐ có thể
lách luật bằng cách chủ động không bố trí
đúng công việc hoặc không trả lơng đúng theo
hợp đồng đ kí để ngầm tạo nên những căn
cứ luật định cho việc đơn phơng chấm dứt hợp
đồng từ phía ngời lao động.
Do vậy theo chúng tôi, để bảo vệ ngời lao
động nữ một cách tích cực hơn, cần sửa đổi
những quy định đ đề cập ở trên theo hớng cho
phép ngời lao động có quyền ngừng việc nếu
NSDLĐ có hành vi vi phạm nghĩa vụ trả lơng,
bố trí công việc theo hợp đồng. Thời gian
ngừng việc kéo dài cho đến khi NSDLĐ thực
hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ của họ đối với
ngời lao động. Trong thời gian ngừng việc,
ngời lao động đợc trả đủ tiền lơng theo quy
định tại khoản 1 Điều 62 BLLĐ (ngừng việc do
lỗi của NSDLĐ).
Tóm lại, với Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của BLLĐ, ngời lao động nữ đ đợc quan
tâm đầy đủ hơn, đợc tạo điều kiện tốt hơn để
nâng cao năng lực nghề nghiệp và phát huy tốt
vai trò của mình trong x hội cũng nh trong