Giáo trình quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường - Pdf 26

MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TỔNG
HỢP TÀI NGUYÊN - MÔI TRƯỜNG
1.1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
1.1.1. Các khái niệm về tài nguyên
1.1.1.1. Tài nguyên
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam [19], tài nguyên được hiểu là
“tổng lượng một dạng thức sẵn có trong môi trường, như đất đai, nhân lực, tư
liệu sản xuất, cơ hội, khả năng, tiền vốn, dữ liệu khoa học, thông tin được khai
thác, sử dụng trong những điều kiện xã hội, kinh tế và công nghệ nhất định”. Có
nhiều loại tài nguyên khác nhau như: Tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên kinh tế,
tài nguyên xã hội, tài nguyên khoa học, vv. Việc đánh giá tài nguyên thay đổi
theo những biến đổi về kinh tế (vd. biến đổi về giá cả), về xã hội và khoa học
công nghệ (vd. công nghệ mới có thể làm tăng số lượng tài nguyên). Phần tài
nguyên có thể khai thác theo công nghệ thông dụng, trong những điều kiện kinh
tế và xã hội hiện thời gọi là dự trữ. Những dự trữ đã được nhận biết có thể chia
thành loại dự trữ đã xác minh, loại có thể có và loại có thể thu hồi; những dự trữ
khác được phát hiện thì hoặc là dự trữ giả thiết hoặc là dự trữ theo lí thuyết.
Nói cách khác, tài nguyên, theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn vật
liệu, năng lượng, thông tin có trên trái đất và trong vũ trụ mà con người có thể
sử dụng để phục vụ nhu cầu cầu phát triển của mình. Tùy theo tiêu chí, tài
nguyên được phân chia thành các dạng khác nhau.
- Nếu dựa vào khả năng có thể bị hao kiệt trong quá trình khai thức sử
dụng, người ta chia ra: tài nguyên có thể bị cạn kiệt và tài nguyên không cạn
kiệt.
- Nếu dựa vào khả năng có thể phục hồi trong quá trình khai thác sử dụng,
người ta chi ra: tài nguyên có thể phục hồi và tài nguyên không thể phục hồi.
- Nếu dựa vào nguồn gốc phát sinh, người ta chia ra: tài nguyên thiên
nhiên và tài nguyên nhân văn.
- Nếu dựa vào mục đích sử dụng, người ta có thể chia ra: tài nguyên nông

1.1.1.5. Tài nguyên sinh vật
Là toàn bộ giống loài trên trái đất có khả năng phục vụ cho nhu cầu của
con người. Tài nguyên sinh vật bao gồm tài nguyên thực vật và tài nguyên động
vật. Giá trị của tài nguyên sinh vật thể hiện ở mức độ phong phú về chủng loại,
số lượng cá thể và mức độ quý hiếm của các loài.
3
1.1.1.6. Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản là tích tụ vật chất dưới dạng hợp chất hoặc đơn
chất trong vỏ trái đất, mà ở điều kiện hiện tại con người có đủ khả năng lấy ra
các nguyên tố có ích hoặc sử dụng trực tiếp chúng trong đời sống hàng ngày.
Tài nguyên khoáng sản thường tập trung trong một khu vực gọi là mỏ
khoáng sản. Tài nguyên khoáng sản có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển
kinh tế của loài người và khai thác sử dụng tài nguyên khoáng sản có tác động
mạnh mẽ đến môi trường sống. Một mặt, tài nguyên khoáng sản là nguồn vật
chất để tạo nên các dạng vật chất có ích và của cải của con người. Bên cạnh đó,
việc khai thác tài nguyên khoáng sản thường tạo ra các loại ô nhiễm như bụi,
kim loại nặng, các hoá chất độc và hơi khí độc (SO2, CO, CH4 v.v ).
Tài nguyên khoáng sản được phân loại theo nhiều cách: Theo dạng tồn
tại: Rắn, khí (khí đốt, Acgon, He), lỏng (Hg, dầu, nước khoáng); Theo nguồn
gốc: Nội sinh (sinh ra trong lòng trái đất), ngoại sinh (sinh ra trên bề mặt trái
đất); Theo thành phần hoá học: Khoáng sản kim loại (kim loại đen, kim loại
màu, kim loại quý hiếm), khoáng sản phi kim (vật liệu khoáng, đá quý, vật liệu
xây dựng), khoáng sản cháy (than, dầu, khí đốt, đá cháy)….
1.1.1.7. Bản chất của việc khai thác và sử dụng tài nguyên
Quá trình sử dụng tài nguyên thiên nhiên là quá trình con người khai thác
các chất, các thuộc tính có ích của các vật thể và các lực trong tự nhiên, đồng
thời để lại trong môi trường các chất thải và năng lượng thừa, một mặt có thể
làm tài nguyên bị cạn kiệt, mặt khác lại làm cho môi trường bị ô nhiễm.
Quá trình sử dụng tài nguyên thiên nhiên chính là quá trình con người
tham gia vào các chu trình vật chất, năng lượng trong tự nhiên, làm cho các chu

Trong quá trình sử dụng tài nguyên, con người làm thay đổi mạnh mẽ
cảnh quan cũng như phân bố lại vật chất trên lớp vỏ trái đất, tạo ra các dị thường
địa hóa, chẳng hạn các kim loại phân bố khá phân tán trong vỏ Trái Đất, nhưng
nhờ công nghiệp luyện kim, con người đã tích tụ chúng ở các máy công cụ,
phương tiện vận tải, các công trình xây dựng… Các dị thường địa hóa này
thường gắn nhiều nhất với các vùng nông nghiệp thâm canh, các trung tâm công
nghiệp. Và đáng ngại thay, các nơi này lại là vùng tập trung đông dân cư. Chính
vì vậy mà các ổ gây ô nhiễm càng dễ gây hại cho sức khỏe cộng đồng.
Thiên nhiên tồn tại ở thể cân bằng động. Dưới tác động của con người,
cân bằng động này bị phá vỡ, cân bằng động mới được thiết lập. Quan hệ qua lại
giữa môi trường địa lý và xã hội loài người phát triển qua hàng chuỗi các cân
bằng động như vậy. Việc bảo vệ tự nhiên, khôi phục các trạng thái cân bằng của
tự nhiên không có nghĩa là khôi phục lại đúng trạng thái cân bằng ban đầu đã
mất. Iu. G. Xauskin (1973) đã cảnh báo (mặc dù lúc bấy giờ chưa phổ biến quan
niệm phát triển bền vững) rằng nền sản xuất xã hội phát triển mở rộng như một
vòng xoáy trôn ốc với biên độ ngày càng lớn, còn cơ sở tài nguyên của nhân loại
5
lại thu hẹp như một vòng xoáy trôn ốc với biên độ ngày càng nhỏ, và đó chính là
một mâu thuẫn lớn trong quá trình phát triển. Ngay từ lúc ấy, Iu. G. Xauskin đã
nhấn mạnh đến sự phụ thuộc của số phận loài người vào cách thức con người
khai thác tự nhiên, số phận của nhân loại không tách rời số phận của môi trường
tự nhiên trên Trái Đất. Ông đã nhìn thấy khía cạnh đạo đức trong việc sử dụng
hợp lý tài nguyên, điều mà sau này người ta nói đến trong khái niệm phát triển
bền vững sao cho sự phát triển của thế hệ hôm nay không làm tổn hại đến sự
phát triển của thế hệ tương lai.
Loài người có thể làm cho việc sử dụng tài nguyên hợp lý hơn thông quá
quá trình tổ chức hợp lý lãnh thổ sản xuất, hợp lý hóa các chu trình năng lượng –
sản xuất, các chu trình tài nguyên, sử dụng tổng hợp nguyên liệu, năng lượng,
giảm thiểu các chất thải và năng lượng thừa chuyển vào môi trường, tìm kiếm
các công nghệ sạch (công nghệ không tạo ra chất thải), tìm kiếm các vật liệu

Theo định nghĩa của tổ chức Y tế thế giới: sự ô nhiễm là việc chuyển các
chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây tác hại đến
sức khỏe con người, đến sự phát triển của sinh vật hoặc làm suy giảm chất
lượng môi trường.
Như vậy, môi trường chỉ được gọi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng,
nồng độ hoặc cường độ các tác nhân gây ô nhiễm đạt đến mức có khả năng tác
động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu.
1.1.3. Khái niệm sinh thái học và hệ sinh thái
1.1.3.1. Sinh thái học
Sinh thái học là khoa học tổng hợp về quan hệ tương hỗ giữa sinh vật và
môi trường và giữa các sinh vật với nhau.
1.1.3.2. Hệ sinh thái
Hệ sinh thái là hệ quần thể sinh vật trong một khu vực địa lý tự nhiên nhất
định cùng tồn tại và phát triển, có tác động qua lại với nhau.
1.1.3.3. Đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học là sự phong phú về nguồn gen, loài sinh vật và hệ sinh
thái. Đa dạng hệ sinh học bao gồm:
- Đa dạng về di truyền: là sự phong phú những biến dị trong cấu trúc di
truyền của cá thể bên trong loài hoặc giữa các loài; những biến dị di truyền bên
trong hoặc giữa các quần thể.
- Đa dạng loài: là sự phogn phú về các loài được tìm thấy trong các hệ
sinh thái tại một vùng lãnh thổ xác định thông qua việc điều tra, kiểm kê.
7
- Đa dạng hệ sinh thái: là sự phong phú về các kiểu hệ sinh thái khác nhau
trên cạn cũng như dưới nước tại một vùng nào đó.
1.1.3.4. Cân bằng sinh thái
Cân bằng sinh thái là trạng thái ổn định về sinh thái, trong đó các thành
phần môi trường tự nhiên ở trong trạng thái cân bằng. Nếu cân bằng sinh thái
không được duy trì, thì hệ sinh thái sẽ bị suy thoái.
1.2. KHÁI NIỆM TAI BIẾN THIÊN NHIÊN VÀ TAI BIẾN MÔI TRƯỜNG

1.3. KHÁI NIỆM MÂU THUẪN VÀ XUNG ĐỘT TRONG KHAI THÁC, SỬ
DỤNG TÀI NGUYÊN
Những mẫu thuẫn và xung đột trong quá trình khai thác, sử dụng tài
nguyên là một tất yếu khách quan, tuy nhiên việc nghiên cứu để tìm ra bản chất
của các mẫu thuẫn này sẽ góp phần đắc lực trong việc giải quyết có hiệu quả
những mâu thuẫn đó. Có nhiều loại xung đột khác nhau trong quá trình khai thác
và sử dụng tài nguyên, nhưng chúng ta có thể chia ra hai nhóm xung đột lớn:
xung đột giữa các thành phần của tự nhiên và xung đột mang tính chất xã hội
(giữa con người với con người). Tuy nhiên trong khuôn khổ chuyên đề này tác
giả chỉ tập trung phân tích các xung đột có tính chất xã hội.
Xét cho cùng bản chất của những mâu thuẫn, xung đột mang tính chất xã
hội trong vấn đề tài nguyên – môi trường là sự không công bằng trong quyền
hưởng thụ những giá trị vật chất, tinh thần do tài nguyên mang lại, cùng với đó
là việc gánh chịu những hậu quả về môi trường do hoạt động khai thác tài, chế
biến, sử dụng tài nguyên gây ra.
Đã có rất nhiều nghiên cứu về các cuộc xung đột sắc tộc và ly khai ở các
quốc gia và các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng có một mối liên hệ nhất định
giữa việc khai thác tài nguyên thiên nhiên với nguồn gốc của các cuộc xung đột
này. Có hai hiện tượng chủ yếu được sử dụng để lý giải cho mối liên hệ này, đó
là "lòng tham" ("greed" - hay việc theo đuổi lợi ích vật chất) và "các mối bất
bình" (grievances - hay sự bất bình của người dân bản địa đối với các hậu quả
của việc khai thác tài nguyên thiên nhiên thuộc khu vực họ sinh sống).
Thuyết "lòng tham" do hai nhà nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới là
Paul Collier và Anke Hoeffler khởi xướng, trong đó hai nhà nghiên cứu này cho
rằng việc theo đuổi các lợi ích kinh tế là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới các cuộc
xung đột bên trong các quốc gia.
Thuyết "nỗi bất bình" trong khi đó tập trung vào sự bất bình và thất vọng
của người dân nơi có tài nguyên được khai thác như là một nguyên nhân làm
cho các cuộc xung đột bùng phát và kéo dài. Ví dụ như Ted Gurr cho rằng sự
khác biệt giữa mong muốn được thừa hưởng những thành quả của việc khai thác

Bởi vậy bất cứ một cách quản lý riêng lẻ nào cũng không mang lại sự phát triển
bền vững, chúng cần được quản lý một cách tổng hợp. Trong mô hình quản lý
tổng hợp lưu vực sông, lưu vực sông được lấy làm cơ sở và xem đó là một hệ
thống thống nhất, trong đó có những tác động qua lại giữa các loại tài nguyên
(nước, đất, rừng, các hệ sinh thái ) và con người. Phương pháp này nhằm quản
10
lý lưu vực sông như một thực thể với những mục đích bảo vệ toàn bộ năng suất
của các nguồn tài nguyên trong một thời gian lâu dài, đồng thời bảo vệ và cải
thiện chất lượng môi trường của lưu vực sông.
Hiện tại cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý tổng hợp tài nguyên
và môi trường theo lưu vực sông. Có ý kiến cho rằng đó là việc điều hòa, chia sẻ
các nhu cầu khai thác và sử dụng tài nguyên nước nói riêng và tài nguyên thiên
nhiên nói chung cho mục các mục đích khác nhau: nông nghiệp, thủy điện, cấp
nước sinh hoạt và công nghiệp, giao thông thủy để đạt hiểu quả kinh tế mà
không làm suy giảm tài nguyên và ô nhiễm môi trường. Có ý kiến lại nhấn mạnh
đến sự phối hợp ở tất cả các ngành, các cấp chính quyền (quốc gia, tỉnh đến
cộng đồng địa phương) trên lưu vực sông trong khai thác, sử dụng để bảo vệ tài
nguyên và môi trường [18]. Tuy vậy, có thể hiểu quản lý tổng hợp lưu vực sông
hay quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường theo lưu vực sông là sự hợp tác
trong quản lý và khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên có trên lưu vực một
cách hợp lý, công bằng để đạt được lợi ích kinh tế và xã hội mà không làm tổn
hại đến sự bền vững của hệ sinh thái.
1.4.1.2. Quản lý tổng hợp đới bờ
Năm 1972 có thể được lấy làm mốc để xác định sự ra đời của các lý thuyết
về quản lý Quản lý tổng hợp đới bờ hay quản lý tổng hợp vùng bờ biển
(Integrated Coastal zone management) - QLTHVBB, với việc ban hành sắc lệnh
quản lý vùng bờ biển của Hoa Kỳ [15].
QLTHVBB là một chương trình tạo dựng nhằm quản lý tài nguyên vùng bờ
biển, có sự tham gia liên kết của tất cả các ngành kinh tế bị tác động, các cơ
quan chính phủ và các tổ chức phi chính phủ (Clark.J.R, 1996). QLTHVBB là

Trước đây, nền kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa được quản lý theo kiểu chỉ
huy tập trung và bao cấp, trên thực tế chưa thành công và đã đổ vỡ. Tuy nhiên,
nền kinh tế quản lý phi tập trung cũng đã bộc lộ rõ những vấn đề phải đối mặt về
suy giảm tài nguyên và suy thoái môi trường, dẫn đến khả năng phát triển không
bền vững, không chỉ về xã hội hội, môi trường và cả về kinh tế. Vì vậy,
QLTHVBB được đặt ra như một tất yếu, nhưng tiếp cận nó là một quãng đường
dài từ nhận thức, lý luận đến thực tiễn, từ ý tưởng đến thành công. Nó chỉ có thể
đạt được mục tiêu với vai trò quản lý nhà nước với cách thức quản lý tập trung.
QLTHVBB được coi là quản lý đa ngành, đa mục tiêu và đa lợi ích, là chìa khóa
của phát triển bền vững vùng bờ biển.
Tuy nhiên, hiện nay quan niệm này chưa phải đã được chấp nhận ở mọi
nơi. Còn có những quan điểm cho rằng quản lý vùng bờ biển không phải cách
quản lý tối ưu và chủ đạo, vì khó có khả năng thành công do chính các nhược
điểm từ cách thức quản lý tập trung, khó có khả năng trở thành một quá trình tồn
12
tại tự mình (trường hợp ở Inđônêxi). Ở đây vai trò quản lý vùng bờ biển phi tập
trung giống như trong quản lý kinh tế được đề cao và đề xuất phát triển các mô
hình chủ đạo kiểu "đồng quản lý" hay "quản lý dựa vào cộng đồng".
1.4.2. Khái niệm về quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường
Qua những phân tích ở trên, có thể thấy cách hiểu khác nhau về quản lý
tổng hợp rất khác nhau, tuỳ theo cách tiếp cận mà quản lý tổng hợp được hiểu
theo những cách khác nhau.
Ở Việt Nam, trên phương diện quản lý nhà nước, theo Nghị định Số:
25/2009/NĐ-CP ngày 06 tháng 3 năm 2009 của Thủ tường Chính Phủ về quản
lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo [6] có đề cập đến 5
nguyên tắc quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường biển, hải đảo, gồm:
• Bảo đảm sự quản lý thống nhất, liên ngành, liên vùng, đồng thời hài hoà
lợi ích chung giữa các bên liên quan trong khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo
vệ môi trường biển, hải đảo; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển vùng biển, hải đảo
với phát triển vùng nội địa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

• Khôi phục nhanh chóng và hiệu quả các hệ sinh thái bị hư hại.
Theo quan điểm của các nhà địa lý Việt Nam, quản lý tổng hợp là một
quan điểm quản lý dựa trên cách tiếp cận thể tổng hợp địa lý. Như chúng ta đã
biết một lãnh thổ ở cấp bất kỳ đều là một thể thống nhất về mặt tự nhiên và kinh
tế - xã hội, các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội của lãnh thổ không tồn tại độc
lập mà luôn có mối quan hệ tác động qua lại, chi phối lẫn nhau. Đồng thời một
lãnh thổ dù ở cấp lớn đến đâu vẫn là một bộ phận của một hệ thống lớn hơn nó,
và các thành phần tự nhiên kinh tế - xã hội cấu thành lãnh thổ đó cũng là một bộ
phận của hệ thống lớn hơn chi phối và tác động đến chúng. Chính vì vậy khi một
yếu tố trong lãnh thổ thay đổi nó có thể dẫn đến sự thay đổi của các yếu tố khác
cũng như toàn bộ hệ thống. Sự thay đổi đó chỉ dừng lại khi hệ thống đạt được
mức cân bằng mới (cân bằng động). Do đó, trong quá trình khai thác và sử dụng
tài nguyên mà bản chất là quá trình tác động đến các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã
hội nhằm lấy đi những thuộc tính có ích và đề lại môi trường những thuộc tính
không có ích (hoặc chưa có ích) con người cần tính toán được xu hướng, cường
độ của sự thay đổi của từng yếu tố cũng như toàn bộ thống.
Nói cách khác quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường một lãnh thổ
nào đó chính là việc xác lập được cơ sở khoa học hay lôgic khoa học trong việc
sử dụng lãnh thổ vì mục tiêu phát triển bền vững.
14
PHẦN 2
QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN VÀ MÔI
TRƯỜNG VÙNG ĐỒNG BẰNG, CAO NGUYÊN,
TRUNG DU VÀ MIỀN NÚI
15
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TỔNG
HỢP TÀI NGUYÊN - MÔI TRƯỜNG VÙNG ĐỒNG
BẰNG
2.1. KHÁI NIỆM VÀ HỆ THỐNG PHÂN LOẠI VÙNG ĐỒNG BẰNG
2.1.1. Khái niệm vùng đồng bằng

Như vậy có thể nói, đồng bằng là dạng địa hình thấp, độ cao tuyệt đối của
đồng bằng phụ thuộc vào loại đồng bằng, nhưng thông thường chia thành 3
16
mức: đồng bằng thấp (<200m), đồng bằng cao (200-600m), đồng bằng cao trên
núi (>600m) [1], mức độ chia cắt sâu thấp (không quá 10m), có ranh giới
chuyển tiếp từ từ sang các dạng địa hình khác, có cùng nguồn gốc phát sinh và
lịch sử phát triển. Miền đồng bằng là những khu vực rộng lớn, bao gồm nhiều
đồng bằng và có thể tồn tại các dạng địa hình khác. Miền đồng bằng lớn thường
có vị trí trung khớp với những cấu trúc miền nền, nơi có chế độ kiến tạo chủ yếu
là vận động dao động biên độ nhỏ.
2.1.2. Cơ sở phân loại vùng đồng bằng
Đồng bằng là một khái niệm hoàn toàn mang tính hình thái bề ngoài,
nhưng trên thực tế, nếu xét về mặt phát sinh thì chúng rất đa dạng. Để phục vụ
cho việc nghiên cứu và sử dụng lãnh thổ đồng bằng, cần tiến hành phân loại
chúng một cách chi tiết và từ những góc nhìn khác nhau
Theo giáo sư Đào Đình Bắc [2], có 3 nguyên tắc phân loại đồng bằng:
2.1.2.1. Phân loại theo độ cao
Theo độ cao tuyệt đối, có thể chia ra bốn loại sau:
- Đồng bằng trũng: có độ cao tuyệt đối thấp hơn cả mực nước biển. Ví dụ
đồng bằng Prikaspie có độ cao tuyệt đối âm 26m.
- Đồng bằng thấp (còn gọi là các miền đất thấp): có độ cao tuyệt đối nhỏ
hơn 200m. Ví dụ đồng bằng tây Sibiri, đồng bằng châu thổ sông Hồng, đồng
bằng sông Cửu Long.
- Đồng bằng cao: có độ cao tuyệt đối lớn so với mực nước biển (từ 200-
600m). Đó là những miền đất cao bằng phẳng hoặc cao nguyên. Ví dụ đồng
bằng trung tâm nước Pháp.
- Đồng bằng cao trên núi: có độ cao tuyệt đối trên 600m. Đồng bằng trên
núi khác với cao nguyên ở chỗ nó bị các thung lũng chia cắt ở mức độ yếu hơn
và rìa của chúng thường chuyển tiếp từ từ sang các sườn núi xung quanh.
2.1.2.2. Phân loại theo đặc điểm bề mặt

biển Quảng Ninh, Hà Tĩnh và dọc bờ biển Miền Trung.
- Đồng bằng tích tụ biển: hình thành khi biến lấn vào khu vực lục địa
thấp đã bị bán bình nguyên hoá, hay là do tích tụ dưới đáy các biển nông sau
nền. Bên dưới lớp trầm tích biển thường vẫn còn lại những trầm tích lục địa và
trầm tích nước ngọt. Chúng còn được gọi là những đồng bằng nguyên sinh, theo
nghĩa là những đồng bằng tích tụ đáy biển nông được nâng lên bởi vận động
kiến tạo dao động. Chúng thường có diện tích rất rộng lớn.
- Đồng bằng phù sa ven biển: hình thành ở cửa những con sông có quá
trình châu thổ phát triển mạnh. Bề mặt đồng châu thổ thường tương đối bằng
phẳng, hơi nghiêng về phía biển hoặc hồ lớn và bị chia cắt bởi mạng lưới sông
ngòi dày đặc đổ ra biển. Quy mô phân bố của chúng có thể đạt diện tích đáng kể,
18
đặc biệt là các châu thổ liên quan đến quá trình võng sụt kiến tạo, như các châu
thổ sông Hồng, sông Thái Bình, sông Cửu Long
- Đồng bằng ven biển: có nguồn gốc phức tạp hình thành ở những dải
trũng lục địa ven bờ đã từng bị nâng lên, giáng xuống nhiều lần. Vì vậy, trong
cấu tạo trầm tích của chúng, ta có thể thấy những lớp trầm tích biển và trầm tích
lục địa xen kẽ nhau.
- Đồng bằng tích tụ lục địa: được hình thành do tích tụ trầm tích sông,
hồ, sườn tích, băng tích, trầm tích gió trên những khu vực mặt đất bị hạ lún từ
từ, chậm chạp và ít bị chia cắt. Bề dày tầng tích tụ có thể tới hàng nghìn mét
(đồng bằng Ấn - Hằng có bề dày trầm tích lên tới 2000m).
- Đồng bằng tích tụ sông: hình thành ở những khu vực bãi bồi mở rộng.
Bề dày tầng aluvi thường mỏng hơn rất nhiều so với bề dày tích tụ của các loại
kể trên. Chúng thường phát triển trong đáy các thung lũng có biểu hiện võng hạ
tương đối hoặc tuyệt đối hoặc ở những nơi cắt nhau của các đứt gãy kiến tạo.
- Đồng bằng băng thuỷ: được tạo thành bởi hoạt động tích tụ của nước
băng tan. Vật liệu tích tụ ở đây có thành phần chủ yếu là cuội, sỏi và cát phân
lớp xiên. Càng ra xa ranh giới băng hà, vật liệu cát và sét càng nhiều hơn, trở
thành đồng bằng cát băng thuỷ. Bề mặt đồng bằng băng thuỷ có độ nghiên nhẹ

Khánh Hoà Tính chất chân núi thể hiện ở sự có mặt khá phổ biến của các
thềm lũ tích, thềm biển mài mòn và đồi sót. Tính chất ven biển thể hiện ở tỷ lệ
lớn của đất mặn, đất cát tại các dải cồn phá. Tính chất cửa sông không mạnh do
sông ngắn, lưu lượng ít, kém phù sa. Các vũng cũ các hẹp thì cồn cát càng
nhiều, nếu vũng cũ mở rộng hơn, diện tích phá có thể lớn, kéo theo sự gia tăng
diện tích đồng bằng phá - tam giác châu.
2.1.3.2. Đồng bằng thềm chân núi
Là đồng bằng cao, không bị ngập nước lũ, thường nằm ở rìa giáp đồi núi
của dải đồng bằng chạy suốt từ Bắc chí Nam. Không như các đồng bằng khác
hình thành trong điều kiện yên tĩnh hay sụt lún yếu, đồng bằng thềm chân núi đã
bị lôi kéo ít nhiều vào vận động nâng lên của vùng đồi núi. Tuỳ theo độ cao,
mức độ xâm thực và tính chất phù sa, có thể phân biệt ra hai kiểu:
- Kiểu đồng bằng thềm xâm thực - tích tụ: có độ cao khoảng 25-50m và
cấu tạo chủ yếu từ phù sa cổ, lũ tích nhiều cuội sỏi, thường bị latêrit hoá, trong
lòng đồng bằng có thể có đồi núi sót. Kiểu đồng bằng này có thể bắt gặp ở vùng
Bất Bạt đến Xuân Mai (Hà Tây), vùng Triệu Sơn (Thanh Hoá) và ở Đông Nam
Bộ.
20
- Kiểu đồng bằng thêm tích tụ - xâm thực: xa đồi núi hơn, thấp hơn,
khoảng 10-20m, với phù sa mới là chính, như các đồng bằng thềm ở Bắc Giang,
Vĩnh Phúc.
2.1.3.3. Kiểu đồng bằng tích tụ do sông
Nằm giữa đồng bằng thềm chân núi và đồng bằng ven biển. Tại đây đã
chấm dứt tác động của biển, đồng bằng phát triển hoàn toàn phụ thuộc vào chế
độ bồi đắp của sông và có độ cao trung bình từ 3-5m. Ta gặp các dạng địa hình
quen thuộc như gờ cao ven sông, ngang với mực nước lũ, bãi bồi rộng trên đó
các lòng sông cũ tạo thành những hồ ao hoặc còn nước hoặc đã cạn. Trong lòng
đồng bằng có thể tồn tại một vài đồi sót là những đảo cũ trong vịnh.
2.1.3.4. Đồng bằng ven biển hiện tại
Có độ cao từ 0-2m, hằng ngày vẫn chịu ảnh hưởng của biển, vì thế ngoài

nhất, rìa phía đông giáp biển có độ cao 0-2m; phần trung tâm có độ cao 2-4m,
rìa tây bắc chịu ảnh hưởng của vận động nâng lên ta thấy có 2 bậc thềm phù sa
cổ (10-12m và 30-35m), rìa tây nam các thềm phù sa cổ có độ cao khoảng 25m.
Trong đồng bằng còn xuất hiện những đồi núi của nền cổ bên dưới, thấy ở hầu
khắp các tỉnh (ngoại trừ Thái Bình và Hưng Yên).
- Vùng đồng bằng hạ lưu sông Mã, sông Cả (đồng bằng Thanh - Nghệ -
Tĩnh): có cấu tạo tương tự như đồng bằng sông Hồng, tuy nhiên diện tích nhỏ
hơn, kém bằng phẳng hơn, nhiều đồi núi rải rác, cồn cát ven biển phát triển.
Mức độ chênh cao giữa các bậc thềm, bãi bồi có thể lên tới 10m (Thạch Hà).
- Dải đồng bằng ven biển từ đèo Ngang đến Hải Vân: do dải trường sơn
Bắc ăn sát ra biển và nước núi chạy song song với bờ biển, nên các dải dồng
bằng ven biển không phát triển bề ngang, đồng thời bị phân chia thành từng vệt
theo chiều dọc. Trong khu vực có nhiều cồn cát di động (cao 30 -80m).
- Dải đồng bằng duyên hải từ Hải Vân đến Bình Thuận: dải đồng bằng
có thể chia thành 4 đoạn. Đoạn từ Hải Vân đến Cù Mông gồm 3 đồng bằng
Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định - bị các đèo thấp ngăn cách. Đồng bằng
tương đối rộng và len lỏi lên vùng đồi, ngược theo các thung lũng sông; Từ đèo
Cù Mông đến đèo Cả là cánh đồng Phú Yên. Tuy nhiên chỉ có đồng bằng cửa
sông Ba là tương đối rộng, còn lại những cánh đồng chân núi - ven biển rất nhỏ;
Đoạn từ Mũi Nạy đến Mũi Dinh- đồng bằng nhỏ hẹp, bị chia cắt vụn vặt; Đồng
bằng duyên hải Bình Thuận mở rộng và chuyển tiếp từ từ sang Đông Nam Bộ.
Tuy nhiên ở đây diện tích thêm phù sa cổ, diện tích cồn cát, đụn cát cổ - mới
chiếm đa số tuyệt đối. Đồng bằng phù sa mới (Tuy Phong, Phan Ri, Phan Thiết)
có diện tích nhỏ.
22
- Đồng bằng Nam Bộ: là đồng bằng rộng lớn nhất nước ta, được chia
thành 2 khu vực khác nhau rõ rệt là Đông Nam Bộ và Châu thổ sông Cửu Long.
+ Đông Nam Bộ: bao gồm đồng bằng thềm phù sa cổ cao 25-50m và bán
bình nguyên đất đỏ bazan cao 50-200m, thuộc địa phận các tỉnh Đồng Nai, Bình
Phước, Bình Dương, Tây Ninh. Hai bậc địa hình này chạy song song theo hướng

Thực tế ĐBSH, được phát triển trên một vùng sụt lún kiểu rift mạnh [9]
có dạng một tam giác cân kéo dài về phía Tây bắc. Trong lịch sử phát triển của
mình các vận động tân kiến tạo đã xảy ra với mức độ rất khác nhau ở vùng rìa
và trung tâm vùng trũng. Điều này dẫn đến chiều dày trầm tích đệ tứ không đều
ở các nơi, đặc biệt đối với trầm tích Holocen ở trên cùng, dày từ 80 đến 100 mét
ở trung tâm vùng đồng bằng sông Hồng, và càng xa trung tâm thì càng mỏng
dần.
Đối với ĐBSCL, được hình thành trên phần sụt sâu của trũng núi Tông Lê
Xáp – Nam Bộ. Chiều sâu của móng đá gốc ở đới trục từ 200m – 2200m, lên
đến 4000m ở thềm lục địa. Trong quá trình tiến triển ở đồng bằng vai trò quyết
định thuộc về các đứt gãy trẻ hoặc kế thừa. Quan trọng nhất là đứt gãy Tà Lài –
Rạch Giá và sông Hậu.
Đứt gãy sông Hậu phương Tây Bắc chia lãnh thổ ra hai khối, có tính chất
chuyển động kiến tạo khác nhau. Khối đông bắc lún chìm nghiêng về phía tây
nam, tạo nên địa hào Cửu Long. Còn khối tây nam, với cự ly sụt yếu hơn,
nghiêng về phía đông nam.
Ta còn thấy vai trò của cấu trúc địa chất thông qua việc so sánh sự khác
biệt giữa ĐBSH và ĐBSCL. Cả hai đồng bằng đều được hình thành trên võng
giữa núi, bắt đầu sụt lún vào Oligocen hoặc cuối Eocen. Tuy nhiên, ở ĐBSH
trầm tích Kainozoi dày gấp 3-3,5 lần ở ĐBSCL, nhưng trầm tích Đệ Tứ thì trái
lại, mỏng hơn (250m so với 300-400m). Điều đó nói lên rằng trong Paleogen và
Neogen ĐBSCL bị sụt lún yếu hơn ĐBSH, nhưng trong Đệ Tứ thì mạnh hơn. Sự
khác nhau đó được cắt nghĩa bởi vị trí kiến tạo không giống nhau của hai vùng.
ĐBSH liên quan chủ yếu với quá trình rift và chịu ảnh hưởng của hoạt động tạo
núi mạnh. Còn võng Cửu Long lại có liên quan mật thiết với quá trình sụt lún
ngoài thềm lục địa và các phun trào bazan, phát triển rộng rãi ở ven rìa đồng
bằng với hoạt động tích cực trong Đệ Tứ.
2.2.1.2. Quá trình tích tụ, trầm tích vật liệu
Quá trình tích tụ ở các đồng bằng của Việt Nam là kết quả tổng hợp của
các tác nhân: quá trình phong hóa, tác động của các yếu tố khí hậu, mạng lưới

Tuy nhiên phần diện tích lưu vực và dòng chảy thuộc lãnh thổ Việt Nam lại chỉ
chiếm lần lượt là 8,64% (68.725 km
2
) và 5,1% (230km)[9]. Tổng lượng phù sa
của hệ thống sông Cửu Long lên tới 70 triệu tấn/năm đây là nguồn vật liệu chính
tạo nên ĐBSCL. Bên cạnh đó, do địa hình ĐBSCL có độ cao tuyệt đối thấp nên
chịu các động rất lớn của thủy triều (hiện tượng triều cường) đặc biệt vào mùa
khô.
Đối với các đồng bằng duyên hải miền trung, gồm: đồng bằng Thanh –
Nghệ, Nam – Ngãi; Bình - Phú là kết quả bồi đắp của các hệ thống sông Mã –
Cả, Vu Gia – Thu Bồn, Ba – Đà Rằng. Tuy nhiên do các hệ thống sông ở đây
ngắn, và chảy trong vùng có nền thạch học cứng, lượng mưa thấp do vậy vật liệu
trầm tích thô, cùng với việc các dãy núi tiến sát ra biển dẫn đến đồng bằng nhỏ,
hẹp, nhiều cồn cát.
2.2.1.3. Quá trình xâm thực – bóc mòn
Ở Việt Nam, nhân tố xâm thực bóc mòn không phải tác nhân trực tiếp tạo
nên các đồng bằng lớn ở nước ta, mà chỉ giữ vai trò cung cấp nguồn vật liệu và
tạo nên các đường nét mới trên bề mặt đồng bằng.
Tuy nhiên cũng có một số đồng bằng hoặc bộ phận của đồng bằng, nhân
tố xâm thực bóc mòn là tác nhân chính ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của
25

Trích đoạn Cơ sở phân loại miền nú Hệ thống phân loại miền núi ở Việt Nam Hệ thống đai cao ở miền núi Việt Nam Vùng trung du Đặc điểm vùng trung du (bán sơn địa) Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status