Giáo trình Quản lý tổng hợp vùng ven bờ part 6 - Pdf 19


56

vì quá mạo hiểmvà rủi ro. Trong khi đó, quá trình đô thịhóa và công nghiệp hóa vẫn diễn ra ở
vùng ven biển Việt Nam, mà các biện pháp kiểm soát ô nhiễm công nghiệp và ô nhiễm đô thị
nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra.
Các hoạt động khai thác ở vùng biển và vùng bờ cho đến nay thu được rất nhiều lợi ích.
Tuy nhiên, muốn tiếp tục có được thành công như vậy, cần phải tập trung tiến hành một số
hoạt động sau:

Cũng cố khung chính sách, pháp lý và thể chế liên quan đến nguồn lợi biển và ven
bờ;

Đầu tư thích đáng vào công tác bảo tồn và quản lý nguồn lợi tự nhiên và môi trường
vùng biển và ven bờ;

Đầu tư cải thiện cuộc sống cho cư dân và cộng đồng vùng ven biển theo những
phương thức do họ tự xác định và quyết định cho bản thân mình.
Dự thảo Chiến lược Quốc gia về Quản lý Môi trường biển và vùng bờ Việt Nam được
đề xuất nhằm loại bỏ các hạn chế, hướng tới phát triển bền vững ở vùng biển và vùng bờ Việt
Nam.
1.3. Mục tiêu của Chiến lược Quốc gia về Quản lý Môi trường biển và vùng bờ
Mục tiêu bao trùm của Chiến lược Quốc gia về Quản lý Môi trường ở vùng bờ Việt
Nam thông qua giảm nghèo và bảo vệ và quản lý bền vững các nguồn tài nguyên tái tạo ở
vùng biển và vùng bờ.
Mục tiêu cụ thể của chién lược gồm 6 hợp phần chính là:
Hợp phần số 1 – Quy hoạch quản lý tổng hợp vùng biển và vùng bờ cho các tỉnh duyên
hải.
Xây dựng các kế hoạch trên cơ sở từng vùng, kết hợp với việc phân vùng chức năng cho
tất cảcác địa phương ven biển và vùng ven bờ của Việt Nam.
Hợp phần số 2 – Các khu bảo tồn vùng biển và ven bờ.

Gợi ý cho việc thực hiện Chiến lược, các ưu tiên đối với mỗi hợp phần được đề xuất bởi
những ưu tiên chung cấp tỉnh chỉ ra rằng vùng Bắc Trung bộ và Trung Trung bộ của Việt
Nam là cùng được ưu tiên cao nhất cho việc thực hiện chiến lược quốc gia. Miền duyên hải
Việt Nam này có hàng loạt ưu tiên trong nhiều hợp phần, đặc biệt là giảm nghèo, phòng
chống thiên tai và quản lý tổng hợp nghề cá ven bờ. Hơn nữa, các vấn đề ưu tiên về quản lý
môi trường ở các tỉnh này do chính quyền tỉnh xác định cũng trùng hợp với những hợp phần
ưu tiên được đề xuất.
Hai nguyên tắc cơ bản để tổ chức thực hiện chiến lược đã được đưa ra:
Một là, nguyên tắt đối tác và quản lý. Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục chịu trách
nhiệm chung đối với việc quản lý môi trường biển và vùng bờ. Nhưng cần phải có sáng tạo
khi sắp xếp về thể chế giữa các thành phần khác nhau sao cho việc thực hiện kế hoạch này
(hay một kế hoạch tương tự) đem lại lợi ích tối đa cho cư dân ven biển nói riêng và cả nước
nói chung. Đó có thể là những việc như khắc phục những trở ngại về mặt năng lực, phạm vi
hoạt động của các cơ quan chức năng chính phủ mở rộng tới tận cấp địa phương, khả năng có
sẵn nguồn lực tài chính và tận dụng lợi thế so sánh của địa phương. Tất cả đều có thể đạt được
thành công tối đa nếu có sự hợp tác giữa các thành phần chủ chốt, bao gồm:

Chính phủ - có chủ quyền đối với đất, nguồn lợi và xây dựng khung pháp lý, chính
sách và điều tiết cơ bản cho hoạt động của các thành phần;

Các cộng đồng địa phương – sống dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời
là những người phải chịu hậu quả của các quyết định đầu tư và phân bổ nguồn lợi;

Các cơ quan cho vay quốc tế - cung cấp nguồn đầu tư cần thiết ban đầu;

Các nhà tài trợ - cung cấp và hỗ trợ kỹ thuật;

Khu vực tư nhân – là nguồn cung cấp vốn, ảnh hưởng, và trình độ chuyên môn, đặc
biệt có tính thực tiễn ở vùng ven biển nước ta, cụ thể cho hoạt động du lịch, sản xuất
và chế biến thủy sản và có thể cho cả các doanh nghiệp nhỏ hoạt động bền vững;

Vùng quy hoạch cần đủ lớn (trong hầu hết các trường hợp) để các yếu tố bên ngoài
(như ô nhiễm vùng thượng nguồn, trách nhiệm quản lý chung đối với các vùng đánh
cá, khu bảo tồn, ) không thể chi phối các quyết định đã được đưa ra.
2. Dự án quản lý tổng hợp ven bờ Việt Nam – Hà Lan
Dự án Quản lý Tổng hợp Vùng bờ Việt Nam - Hà Lan được thực hiện trong 3 năm (từ
tháng 9/2000 - 8/2003) với mục tiêu thiết lập một chương trình dài hạn về quản lý tổng hợp
vùng ven biển Việt Nam gọi là "Chương trình QLTHVB Việt Nam" và tập trung vào việc tư
vấn cho chính phủ Việt Nam trong việc lập kế hoạch và phát triển vùng ven biển, phát triển
cộng đồng và các nguồn tài nguyên ở đó một cách bền vững. Dự án do Bộ Khoa học Công
nghệ và Môi trường Việt Nam (MOSTE) điều phối thông qua Cục Môi trường (NEA).
Các công tác của Dự án được triển khai ở Hà Nội và 3 tỉnh ven biển là Nam Định, Thừa
Thiên – Huế và Bà Rịa – Vũng Tàu đại diện cho ba miền Bắc, Trung và miền Nam. Ba tỉnh
này với những vấn đề đặc trưng của vùng bờ từng khu vực của Việt Nam được chọn làm thí
điểm để giới thiệu và triển khai QLTHĐB
Mục tiêu
Dự án VNICZM hướng tới các mục tiêu cơ bản sau đây:
- giới thiệu và hỗ trợ áp dụng phương thức tiếp cận tổng hợp vào quản lý, quy hoạch và
phát triển đới bờ Việt Nam, qua đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo an
toàn cho cộng đồng dân cư sinh sống ở đới bờ trước thiên tai và tai biến môi trường;
- triển khai mô hình ứng dụng phương thức tiếp cận tổng hợp vào thực tiễn quản lý
vùng bờ ở ba tỉnh thí điểm;
- nâng cao nhận thức về QLTHĐB cho các cấp có thẩm quyền, các cơ quan, tổ chức ở
trung ương và địa phương, các bên liên quan và cộng đồng dân cư ở đới bờ;
- tăng cường năng lực quản lý và điều phối cho các cấp có thẩm quyền ra quyết định
liên quan đến đới bờ;
- hỗ trợ việc thiết lập chương trình QLTHĐB dµi hạn và hình thành cơ quan đầu mối
cho các hoạt động QLTHĐB ở Việt Nam.
Nhiệm vụ
Phục vụ cho việc đạt được các mục tiêu nêu trên, Dự án đã đề ra 8 nhiệm vụ cụ thể, là
khung sườn cho việc triển khai các hoạt động của Dự án.

khai thác vùng đầm phá ở Thừa Thiên – Huế; hoạt động kinh tế cường độ cao và những vấn
đề phát sinh về môi trường và sinh thái ở Bà Rịa – Vũng Tàu.
Căn cứ vào các mục tiêu và nhiệm vụ của Dự án, có thể thấy nếu việc xây dựng và triển
khai QLTHĐB là một chu trình gồm các bước chính (i) Chuẩn bị, (ii) Lập kế hoạch, (iii) Phê
chuẩn, (iv) Thực hiện, và (v) Đánh giá và Hiệu chỉnh, thì Dự án VNICZM trong giai đoạn 3
năm mới chỉ tập trung vào các bước (i), (ii) và (iii) của chu trình này.
3. Các khu bảo tồn biển Việt Nam
3.1. Tính cấp thiết của việc thiết lập MPA
Khu bảo tồn biển là một phương thức hiệu quả, ít tốn kém để duy trì và quản lý nguồn
lợi thuỷ sản, bảo vệ đa dạng sinh học và và đáp ứng nhu cầu sinh kế của con người.
Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy, mật độ sinh vật trong các khu bảo tồn biển tăng gấp
đôi sau một thời gian thiết lập (thường là 5 năm), cung cấp ấu trùng và bổ sung hải sản non
vào vùng biển xung quanh nhờ các dòng hải lưu. Hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái cỏ biển
và hệ sinh thái rừng ngập mặn cũng sẽ được khôi phục. Do vậy, nguồn lợi thuỷ sản không bị
sụt giảm, dẫn đến tăng năng suất nghề cá. Ngoài ra, khu bảo tồn biển còn có sức hấp dẫn đối
với du khách, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học và
giáo dục cộng đồng
Trên thế giới có hơn 1.300 khu bảo tồn biển, trong đó 640 khu đã được xác định là ưu
tiên quốc gia về mặt bảo tồn đa dạng sinh học. Khu bảo tồn biển đầu tiên trên thế giới được
thành lập ở Florida (Mỹ) vào năm 1935 với 18.850 ha diện tích mặt biển và 35 ha vùng đất
ven bờ. Khu bảo tồn biển lớn nhất thế giới là Great Coral Reef ở Australia với diện tích 34,4
triệu ha. Khu bảo tồn biển nhỏ nhất là khu dự trữ san hô đỏ ở Monaco và khu Doctor's Gully
ở Australia (1ha).
Tính tới năm 2002, Đông Nam Á có 310 khu bảo tồn biển và ven biển, trong đó
Philippines có 280 khu. Khoảng 46% số khu bảo tồn biển không được quản lý hoặc quản lý
lỏng lẻo, 28% được quản lý dưới mức trung bình, còn số khu được quản lý tốt chỉ đếm trên
đầu ngón tay. Không ít khu bảo tồn biển đã bị đóng cửa vì nhiều lý do khác nhau: thiếu kinh
phí để duy trì hoạt động, thiếu sự hợp tác của cộng đồng địa phương hoặc do những thiếu sót
về mặt khoa học trong việc chọn lựa địa điểm, chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, thể chế, pháp
luật,

bằng sinh thái của các quần xã sinh vật biển.
Đánh cá huỷ diệt :
Đánh cá bằng chất nổ đã trở lên phổ biến trong nhiều năm qua. Hiện nay, tính trạng này
đã phần nào được cải thiện nhưng vẫn còn rất nghiêm trọng ở Quảng Ninh, Nghệ An, Quảng
Bình, Quảng Ngãi, Khánh Hoà. Chất độc gây mê cá bắt đầu được nhập khẩu qua các thương
gia kinh doanh thuỷ sản sống ở Hồng Kông, Đài Loan.
Phá hoại các quần xã:
Nghề nuôi tôm phát triển mạnh trong thời gian qua gắn liền với quá trình khai hoang
rừng ngập mặn. Bên cạnh những tác động cơ học do hoạt động chủ động của con người, rạn
san hô còn bị suy thoái do tăng lượng thải từ sông. Hoạt động trên đất liền làm tăng quá trình
lắng đọng trầm tích và gây hại cho các rạn san hô ở các vùng khác. Nguyên nhân chính là việc
phá rừng với diện tích giảm 9% hàng năm. Lắng đọng trầm tích còn do đánh cá bằng giả cào,
nạo vét và xây dựng công trình ven biển. Hơn nữa, quần xã rạn san hô còn chịu ảnh hưởng
tiêu cực của du lịch biển - một ngành mới phát triển. Ở vịnh Hạ Long, Nha Trang nhiều rạn
đang bị phá huỷ do thả neo, bơi lặn và thu thập san hô, thân mềm làm lưu niệm.
Sự suy thoái các quần xã không chỉ làm giảm các nguồn lợi và chất lượng môi trường
mà còn liên quan đến tính bền vững của nguồn lợi vùng khơi. Trữ lượng của nhiều loài ở
vùng xa bờ phụ thuộc chặt chẽ vào nguồn giống được cung cấp từ các bãi sinh sản, ương
giống ven bờ.

61

Nhiễm bẩn:
Nhiễm bẩn biển chưa đến mức nghiêm trọng đối với tính đa dạng sinh học ở vùng ven
bờ, ngoại trừ những nơi chịu ảnh hưởng lớn của sản xuất nông nghiệp hay công nghiệp. Tuy
nhiên, sự giàu dinh dưỡng (chủ yếu là hàm lượng NO
3
cao) đã được ghi nhận ở nhiều nơi. Sự
nở hoa của tảo (trong đó có các loài tảo độc) cũng là một hệ quả của sự giàu dinh dưỡng và đã
được quan sát thấy ở nhiều vùng ven biển ở Khánh Hoà, Bình Thuận, cửa sông Đồng Nai.

nguồn gen cho toàn bộ vùng biển.
Lịch sử các Khu bảo tồn biển và ven biển Việt Nam có thể coi bắt đầu từ năm 1986, khi
mà các khu dự trữ thiên nhiên với các hệ sinh thái ưu tiên là rừng ngập mặn như Cà Mau, Bạc
Liêu được hình thành. Vấn đề thiết lập các khu bảo tồn biển đã được đề cập từ những năm
1980 trong khuôn khổ của Chương trình biển Nhà nước với các đề xuất hình thành khu bảo
tồn biển ở Côn Đảo, Cát Bà và Sinh Tồn. Trong thời kỳ 1992-1994, với sự hỗ trợ của Quỹ
Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên (WWF) và Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ Quốc gia;
Viện hải dương học đã tiến hành các nghiên cứu về tính đa dạng sinh học, hiện trạng sử dụng
nguồn lợi và tiềm năng bảo tồn thiên nhiên ở một số vùng và đề xuất các khu vực ưu tiên để
thiết lập các khu bảo tồn biển. Đó là Cát Bà (Hải Phòng). CôTô (Quảng Ninh), Cù Lao Chàm
(Quảng Nam), Hòn Mun (Nha Trang), Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu) và An Thới (Kiên
Giang). Tất cả các khu vực đề xuất đều lấy rạn san hô làm trọng tâm vì tầm quan trọng của
chúng về tài nguyên và môi trường. Sau đó, các Vườn Quốc gia trên biển như Cát Bà, Côn

62

Đảo từng bước quản lý cá vùng nước xung quanh các đảo. Tiếp theo với đầu tư của Viện
Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Hải Dương học tiếp tục xây dựng cơ sở khoa học
cho việc thiết lập mạng lưới các khu bảo tồn biển Việt Nam. Những nghiên cứu này là cơ sở
cho những kế hoạch phát triển hệ thống khu bảo tồn biển sau này. Một số hoạt động thực tiễn
theo tiêu chí bảo tồn biển cũng đang được thực hiện tại các khu bảo tồn hiện có như Côn Đảo,
Phú Quốc, Bên cạnh đó, nhiều khu vực rừng ngập mặn đã được quy hoạch trong hệ thống
bảo tồn rừng thuộc sự quản lý của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Với sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, nhiều lớp đào tạo về khu bảo tồn biển đã được
tiến hành. INTROMARC (Australia) hỗ trợ tổ chức 3 khoá ở Hải Phòng, Nha Trang. Một số
nhà quản lý và khoa học được CIDA (Canada) tài trợ để dự các hội thảo trong và ngoài nước.
Trong khuôn khổ của "Sáng kiến Quốc tế về Rạn san hô", đại diện của Cục môi trường và
Viện hải dương học đã tham gia thảo luận về chiến lược bảo tồn rạn san hô ở Đông Nam Á.
HIện nay, nhà nước Việt Namvà các tổ chức quốc tế như WWF, IUCN đang xúc tiến các dự
án nhằm hình thành hệ thống bảo tồn biển ở Việt Nam.

thiếu một chương trình dành cho các khu bảo tồn biển và ven biển. Phần biển được quy hoạch
bảo tồn của những khu bảo tồn trên các đảo hiện nay như Vườn Quốc gia Cát Bà và Côn Đảo
mới chỉ được công nhận gần đây là một phần của những khu bảo tồn này, và ngay cả như vậy
vẫn phải mở rộng hơn nữa để chứa đựng được những sinh cảnh biển quan trọng. Hiện nay, chỉ

63

một phần mang tính hình thức các nguồn tài nguyên biển và ven biển Việt Nam được nằm
trong hệ thống khu bảo tồn hiện tại.
3.3. Một số trở ngại khi triển khai khu bảo tồn biển
Việt Nam là một nước đang phát triển có tốc độ tăng trưởng nhanh (GDP tăng 8 -
9%/năm), phát triển kinh tế đang là ưu tiên của Chính phủ và cộng đồng. Đồng thời với mức
sống được nâng cao, sức ép đối với tài nguyên và môi trường cũng gia tăng. Là một quốc gia
biển với 70% dân cư sống ở vùng ven biển và các châu thổ, hoạt động kinh tế chủ yếu tập
trung ở vùng ven biển và trên biển. Các khu vực đề xuất bảo tồn biển đang đứng trước các
mối đe doạ với mức độ khác nhau. Tác động lớn nhất gây ra bởi khai thác nguồn lợi và du
lịch biển thiếu kiểm soát. Sự nghèo đói đang là một vấn đề không dễ khắc phục. Tuy nhiên,
điều đáng buồn là nhiều hành động vô ý thức cũng góp phần làm suy giảm tính đa dạng sinh
học.
Hiểu biết về bảo tồn thiên nhiên biển của cộng đồng và các nhà quản lý còn rất hạn chế.
Dưới tầm nhìn của một số người, mục tiêu lợi nhuận vẫn được coi trọng hơn so với mục tiêu
bảo tồn ngay cả trong kế hoạch thiếp lập khu bảo tồn biển. Các dự án phát triển ít khi quan
tâm đến bảo tồn thiên nhiên và làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Ví dụ rõ ràng là hiện đang song
song tồn tại 2 dự án cảng thương mại lớn ở Vịnh Hạ Long và Côn Đảo. Đây là những nơi đã
được xác định ưu tiên cho bảo tồn thiên nhiên biển. Việc dung hoà hai mục tiêu trên là việc
không đơn giản và đòi hỏi sự hợp tác chặt chẻ giữa các nhà lập chính sách, quản lý và khoa
học.
Khó khăn về tài chính đã hạn chế đầu tư của Nhà nước cho việc nghiên cứu thiết lập và
quản lý các khu bảo tồn biển. Hơn nữa, các mục tiêu dài hạn về bảo tồn thiên nhiên (ví dụ như
giáo dục ý thức) ít khi nhận được sự hỗ trợ lớn của các nhà hoạch định chính sách.

những hoạt động trong khuôn khổ bảo tồn biển. Trong đó, việc làm giàu nguồn lợi tự nhiên
nếu quản lý tốt sẽ làm tăng nguồn thu nhập cho cộng đồng thông qua khai thác hợp lý. Những
hổ trợ trực tiếp chỉ có thể đối với số ít ngư dân nghèo chịu ảnh hưởng do quy hoạch vùng
không đánh bắt trong khu bảo tồn.
Mặc dù việc thiết lập các khu bảo tồn biển đã được đề xuất vài năm trước đây, khả năng
hiện thực hoá bị hạn chế do thiếu một cơ quan điều hành thống nhất cấp trung ương và chính
sách quốc gia về bảo tồn thiên nhiên biển. Sự quan tâm riêng lẻ của các bộ, ngành, địa
phương khó có thể dẫn đến thành công nếu không muốn nói là còn có tác dụng ngược lại.
Một thách thức lớn là phải duy trì, quản lý và cải tạo những sinh cảnh quan trọng về đa
dạng sinh học có vai trò chủ đạo đối với kinh tế địa phương và quốc gia, đặc biệt là những
khu bảo tồn quan trọng cả về bảo tồn đa dạng sinh học cũng như đối với các cộng đồng ven
biển mà phúc lợi và nguồn kiếm sống của họ phụ thuộc vào một môi trường biển và ven biển.
Đầu tư vào hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam có thể và nên được coi là những
bước quan trọng để bảo đảm sự ổn định kinh tế tại miền duyên hải và là chất xúc tác cho
những hoạt động cải thiện hơn nữa chất lượng môi trường, đồng thời tạo ra một cộng đồng
bảo tồn và một công chúng được thông tin tốt hơn và ủng hộ hoạt động bảo tồn thiên nhiên.
Như vậy, để hình thành hệ thống các khu bảo tồn biển

ở Việt Nam còn rất nhiều việc
phải làm và sẽ gặp không ít trở ngại. Theo các chuyên gia bảo tồn biển quốc tế, thực trạng ở
nước ta hiện nay tương tự với Australia cách đây 20 năm hay với Indonesia 5-10 năm trước.
Với nỗ lực của ngành thủy sản và phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức
quốc tế, các cộng đồng ven biển, hy vọng rằng việc thiết lập hệ thống bảo tồn biển và ven bờ
sẽ được triển khai có hiệu quả, góp phần vào việc bảo vệ và duy trì bền vững nguồn lợi thủy
sản của nước ta.

VII. Quản lý tổng hợp vùng ven bờ Tỉnh Thừa Thiên-Huế
1. Vấn đề vùng ven bờ Tỉnh Thừa Thiên-Huế
Vùng bờ Thừa Thiên Huế với 126 km bờ biển, bao gồm dãi đồng bằng và đất cát ven
biển, vùng đầm phá và vùng ven bờ tới độ sâu 40 mét nước thuộc 6 huyện Phong Điền,

toàn bộ vùng đầm phá và khu vực lân cận thuộc vùng bờ của TT Huế chưa được coi là khu
vực được bảo vệ theo các quy định chính thức của nhà nước. Điều đáng chú ý là, các hoạt
động phát triển kinh tế – xã hội nêu trên, ngoài mâu thuẫn lẫn nhau trong việc sử dụng không
gian và tài nguyên, còn diễn ra tại một khu vực cực kỳ nhạy cảm và dễ bị tác động bởi thiên
tai. Bản thân các hoạt động này còn làm trầm trọng thêm nguy cơ đời sống con người và giá
trị thiên nhiên ở khu vực này bị thiên tai tác động. Các hoạt động của dự án Giảm thiểu Thiên
tai với trọng tâm là đảm bảo an toàn cho nhân dân đã đề ra những yêu cầu nhất định về phát
triển và sử dụng vùng bờ của tỉnh.
Tóm lại, vấn đề phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn thiên nhiên và an toàn cho nhân dân
cần phải được xem xét và cân nhắc theo cách tổng hợp. Thực tiễn đòi hỏi phải có các hướng
dẫn sử dụng tài nguyên vùng ven bờ và một kế hoạch tổng hợp về việc sử dụng vùng bờ có sự
điều phối hợp lý cho Tỉnh TT Huế.
2. Cơ hội và triển vọng của vùng bờ TT Huế
Nằm trong vùng trọng điểm kinh tế của miền Trung, đã được chính phủ ưu tiên đầu tư
xây dựng, phát triển cơ cấu hạ tầng; đặc biệt là mạng lưới giao thông vận tải cả đường sắt,
đường bộ, đường hàng không, đường biển là đòn bẫy quan trọng tạo cơ hội cho vùng ven bờ
phát triển nhanh với tốc độ cao trong những năm tới. Ngoài ra còn có những vũng, vịnh có
điều kiện để xây dựng những cảng biển như Thuận An, Chân Mây. Đặc biệt cảng Chân Mây
có đủ điều kiện để xây dựng thành cảng sâu lớn của khu vực miền Trung.
Hiện nay, tỉnh và Trung ương đã và đang triển khai thực hiện các chương trình dự án
lớn như: Dự án đường hầm xuyên đèo Hải Vân, Chương trình phát triển các khu du lịch Lăng
Cô-Bạch Mã-Cảnh Dương - Hải Vân; Khu du lịch Tân Mỹ-Thuận An, Chương trình xây dựng
đô thị mới và Khu khuyến khích phát triển kinh tế - thương mại Chân Mây, Dự án Xây dựng
cảng nước sâu Chân Mây; Chương trình phát triển thủy sản và các dự án lớn khác đã, đang và
sẽ xây dựng như Cầu Trường Hà, Cầu Thuận An, sẽ tạo ra những cơ hội và triển vọng mới
thúc đẩy kinh tế xã hội vùng ven bờ phát triển
3. Các đe dọa và thách thức vùng ven bờ
Đồng thời với cơ hội và phát triển vọng vùng ven bờ cũng là nơi tiềm ẩn các nguy cơ
gây ô nhiễm môi trường do nước thải, chất thải công nghiệp, chất thải từ các khu du lịch dịch
vụ và đô thị, nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, nơi chịu ảnh hưởng trực tiếp của thiên tai

Để bảo đảm thúc đẩy kinh tế-xã hội của tỉnh TT Huế trong thời gian đến phát triển bền
vững với nhịp độ cao hơn đòi hỏi phải có cơ chế điều hành và quản lý tốt nhằm sử dụng hợp
lý, có hiệu quả các nguồn tài nguyên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường, hạn chế và
giảm nhẹ tác động của thiên tai góp phần cải thiện và nâng cao điều kiện sống cho cộng đồng.
Trong những năm qua, nhiều công trình điều tra và nghiên cứu đã được tiến hành bằng
nguồn kinh phí địa phương và nhà nước, thường được hỗ trợ từ các nguồn vốn quốc tế. Các
dự án này đã cung cấp nhiều báo cáo và số liệu hiện đuợc lưu trữ các cơ quan nhà nước và các
viện nghiên cứu. Dự án thí điểm VNICZM Thừa Thiên - Huế sẽ xây dựng trên cơ sở những
thông tin sẵn có đó. Với phương thức tiếp cận tổng hợp và sử dụng các công cụ bổ trợ cho
việc lập kế hoạch, vùng ven bờ Thừa Thiên - Huế chắc hẳn sẽ tiến thêm một bước trong việc
đưa phát triển bền vững thành hiện thực.
4. Dự án thí điểm VNICZM tại Thừa Thiên Huế
Ngay từ ban đầu, Dự án thí điểm ở TT Huế đã được chọn là trọng điểm trong số 3
nghiên cứu thí điểm thuộc Dự án VNICZM. Dự án thí điểm TT Huế được khởi động và bắt
đầu triển khai sớm nhất. Các hoạt động của Dự án thí điểm được kết nối với các hoạt động
chung của Dự án VNICZM thông qua vai trò “hỗ trợ và điều phối” của Văn phòng Dự án
VNICZM ở Hà Nội. Tại Huế, việc triển khai Dự án thí điểm đã mang lại rất nhiều kinh
nghiệm quý báu về các khía cạnh thực tế, các hoạt động, các vấn đề liên quan đến QLTHVB,
về việc xây dựng chiến lược và kế hoạch Hành động QLTHVB. Những kinh nghiệm này
được hai Dự án thí điểm ở Nam Định và Bà Rịa – Vũng Tàu tham khảo và học tập, đồng thời
góp phần tác động vào việc hình thành các hoạt động hỗ trợ QLTHVB từ cấp trung ương như
xây dựng cơ sở dữ liệu tổng hợp, thành lập đơn vị đầu mối về QLTHVB cấp quốc gia tại Hà
Nội.
Trong Giai đoạn Khởi động diễn ra từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2001, với sự hỗ trợ
của các chuyên gia Hà Lan và tham vấn các cấp lãnh đạo cùng đông đảo các bên liên quan,
các mục tiêu và nhiệm vụ của Dự án thí điểm đã được xác định. Đồng thời, Báo cáo Khởi
động Dự án cũng được lập vào tháng 6/2001 và sau đó được chính thức phê chuẩn trong phiên
họp đặc biệt giữa Dự án thí điểm với UBND tỉnh và lãnh đạo các sở, ban, ngành liên quan vào
ngày 13/9/2001.
Vào tháng 2/2002, NEDECO đã cử một chuyên gia đến công tác thường trú tại Dự án


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status