Giáo trình quản lý tổng hợp vùng ven bờ - Pdf 39


1
Chương 1.
KHÁI NIỆM VÙNG VEN BỜ VÀ QUẢN LÝ TỔNG
HỢP VÙNG VEN BỜ
Vùng ven bờ luôn là nơi được con người quan tâm do nguồn tài nguyên của nó. Đây là
nơi có vùng đồng bằng màu mỡ và tài nguyên biển phong phú, vùng ven bờ cũng là nơi dễ
dàng cho sự tiếp cận của thị trường quốc tế. Nó tạo ra không gian sống, các tài nguyên sinh
vật và phi sinh vật cho các hoạt động của con người và có chức năng điều hoà đối với môi
trường tự nhiên cũng như môi trường nhân tạo.
Vùng ven bờ là trọng tâm của nhiều ngành kinh tế quốc gia, là nơi mà phần lớn các hoạt
động về kinh tế, xã hội diễn ra và cũng là nơi mà tác động của các hoạt động này nhiều nhất.
Đối với những nước có vùng bờ, hơn một nữa dân số sống tại đây và tầm quan trọng của vùng
ven bờ còn gia tăng trong tương lai do sự gia tăng không ngừng của việc di dân từ các vùng
sâu trong lãnh thổ tới đây. Do vậy, không ngạc nhiên khi có sự xung đột sâu sắc giữa nhu cầu
tiêu dùng hiện nay đối với tài nguyên và việc đảm bảo cho việc tiêu thụ tài nguyên đó trong
tương lai. Trong một số quốc gia, sự xung đột đó đã đạt đến mức nguy cấp do phần lớn vùng
ven bờ đã bị ô nhiễm do các nguồn khác nhau. Rất nhiều hoạt động phát triển đô thị, công
nghiệp và nông nghiệp trên vùng ven biển là nằm trong vùng đất ngập nước ven biển có năng
suất cao và các dự án phát triển đang làm biến đổi hệ sinh thái ven biển trên một qui mô rất
lớn. Nước thải từ hầu hết các đô thị và khu công nghiệp trên thế giới đổ trực tiếp vào biển
hoặc gián tiếp qua các hệ thống sông mà không được xử lý hoặc xử lý rất ít. Nghề cá bị sa sút,
đất ngập nước bị khô, các rạn san hô bị phá hủy, các bãi biển bị xuống cấp,...
Để các vùng ven bờ được duy trì và bảo vệ, cần phải có hành động hiệu quả và kịp thời.
Để giải quyết cho yêu cầu này, một hệ thống quản lý đã được hình thành: Quản lý tổng hợp
vùng ven bờ: (ICZM, Integrated Coastal Zone Management).
Quản lý tổng hợp vùng ven bờ (QLTHVB) có thể cho phép giải quyết các vấn đề nảy
sinh trong phát triển như:

Tăng dân số ở vùng ven biển, đô thị hoá, cạnh tranh đất đai, nguồn nước và các vấn
đề liên quan đến ô nhiễm.

Vấn đề ranh giới vùng ven bờ có thể được xác định một cách thực tế bao gồm các khu
vực và các hoạt động liên quan đến vấn đề quản lý mà chương trình sẽ nhắm vào. Trong nhiều
trường hợp, ranh giới vùng đất và biển được chọn thường có một khoảng cách nhất định với
một mốc tự nhiên chẳng hạn như là mức nước thấp trung bình (MLWM, Mean Low Water
Mark) hay mức nước cao trung bình (MHWM, Mean High Water Mark).
Bảng 1. Một số ví dụ về ranh giới vùng ven bờ
Nước, bang Ranh giới đất liền Ranh giới biển
Rhode Island 200 bộ kể từ bờ biển Vùng lãnh hải (3 dặm)
Hawaii Tất cả đất liền trừ vùng các khu rừng
bảo vệ
Vùng nước của Bang
Brunei Tất cả vùng đất liền và nước cách
MHWM 1 km
Từ MHWM đến 200 m nước sâu
Singapore Toàn bộ đất liền Vùng lãnh hải và các đảo xa bờ
Sri Lanka 300 m từ MHWM 2 km từ MLWM
Malaysia Ranh giới huyện 20 km từ bờ
Theo IUCN (1986), vùng ven bờ được định nghĩa như sau: "là vùng ở đó đất và biển
tương tác với nhau, trong đó ranh giới về đất liền được xác định bởi giới hạn các ảnh hưởng
của biển đến đất và ranh giới về biển được xác định bởi giới hạn các ảnh hưởng của đất và
nước ngọt đến biển."
Theo World Bank, vùng ven bờ được hiểu là "... dựa vào những mục tiêu thực tiễn, mà
vùng ven bờ là một vùng đặc biệt có những thuộc tính đặc biệt, mà ranh giới được xác định,
thường dựa vào những vấn đề được giải quyết"
Ngoài ra còn có một số thuật ngữ khác được sử dụng trong QLTHVB bao gồm:

Vùng ven biển (Coastal area): về mặt địa lý thì rộng hơn vùng ven bờ, đường biên
của nó mở rộng về phía đất liền hơn. Vùng ven bờ chỉ là một phần của khu vực
ven biển. Điều này rất quan trọng, đứng trên phương diện chức năng, bởi trong
nhiều quy trình về môi trường, nhân khẩu, kinh tế và xã hội trên thực tế bắt nguồn

Để định nghĩa về vùng ven bờ tiếp tục được chuẩn bị kỹ lưỡng và cập nhật trong các dự
án của các quốc gia, các yếu tố sau đây cần phải được tính đến:

Phạm vi phần đất bên trong vùng ven bờ phải được thoả thuận cũng như phần
nước thuộc lãnh thổ quản lý.

Định nghĩa vùng ven bờ phải xuất phát từ các đặc điểm tự nhiên (địa mạo) và chức
năng sinh thái.

Xác định ranh giới hành chính dựa vào pháp luật quốc gia, các vùng đặc trưng và
các qui hoạch chi tiết.

Sử dụng các kỹ thuật bản đồ để phác họa ranh giới đường bờ và đường vùng ven
bờ trên các bản đồ
II. Đặc tính của vùng ven bờ
1. Vùng ven bờ bao gồm sự đa dạng lớn về nơi ở và các hệ sinh thái (như vùng cửa
sông, rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, đầm phá, vũng biển,..)
2. Các hệ sinh thái trên có các đặc điểm vốn có được mô tả như là các chức năng khi
chú ý đến phạm vi hệ thống tài nguyên ven bờ. Đối với các vùng đất ngập nước, các chức
năng đó bao gồm năng suất sơ cấp và năng suất thứ cấp để duy trì khu hệ động, thực vật; dự
trữ trầm tích và các chất carbon hữu cơ để nâng cao săng suất sinh học; liên kết các hệ sinh
thái cần thiết để duy trì chuỗi thức ăn, tuyến di cư và gia tăng sản lượng. Đối với các rạn san
hô các chức năng đó sẽ bao gồm năng suất sinh học cao và tỷ lệ cố định carbon cao dẫn đến
sự phát triển đáng kể các rạn san hô và sự ăn mòn vật lý và sinh học dẫn đến sự tạo thành
trầm tích đá vôi.
3. Lần lượt, các chức năng đó sản sinh ra "hàng hoá" (ví dụ như cá, dầu khí, khoáng
sản,...) và các dịch vụ có ích (ví dụ như chống lại sóng, bão, sự giải trí và vận chuyển,..). Các
hàng hoá và dịch vụ như thế có giá trị kinh tế, một số có thể trao đổi theo cơ chế thị trường,
nhưng số khác không thể đánh giá trực tiếp. Ví dụ tốt nhất là giá trị của san hô về nơi ở, giá trị
giải trí như bơi lội, chèo thuyền, câu cá giải trí hay đơn giản chỉ là ngắm nhìn đại dương. Đối

III. Các yếu tố sinh thái môi trường vùng ven bờ
1. Vị trí địa lý
Nằm tiếp giáp với đường bờ biển, có thể có các dạng địa hình:
Đồng bằng thấp trũng thuộc khu vực các sông lớn, chịu ảnh hưởng của thủy triều
Núi cao ăn ra tận biển, địa hình không bằng phẳng, cao hoặc là những gò đá sát biển và
ít chịu ảnh hưởng của thủy triều
Vùng đầm lầy hoặc đầm phá.
2. Khí hậu
Tần suất xuất hiện gió và bão cao, nhất là vùng ven biển nhiệt đới.
Có chế độ gió mùa và ảnh hưởng rõ của chế độ này.
Biên độ nhiệt độ dao động ngày và đêm không lớn như ở lục địa.
Lượng mưa và độ ẩm không khí thường cao hơn các vùng khác. Đây cũng là vùng dễ có
các sự cố môi trường như bão lốc, sóng thần.
3. Môi trường đất
Có thể có các dạng đất như đất mặn, đất phèn, phèn mặn hoặc đất cát, cồn cát ven biển.
Dễ mẫn cảm với các điều kiện biến đổi của môi trường như dễ bị xói lở do tác động của
sóng gió.
Môi trường đất bị ảnh hưởng mạnh của cả độ mặn trong nước biển và thủy triều.
Môi trường sinh thái ở đây không có tính ổn định, dễ phát triển nhưng cũng dễ bị phá
hủy, thay đổi.
4. Môi trường nước
Nước từ mặn cho đến lợ, độ mặn giảm từ biển vào đất liền, điều kiện nước cũng thay
đổi theo chế độ thủy văn ở các cửa sông đổ ra biển. Trong nước biển, nước sông và nhất là

5
nước lợ, hàm lượng chất dinh dưỡng cao, có nhiều chất phù sa lơ lững và nhiều hạt sét mịn
tạo nên trầm tích nhiều sét.
Chế độ thủy triều ảnh hưởng mạnh đến hệ sinh thái thể hiện qua mức triều cực đại hay
cực tiểu của chế độ nhật triều hay bán nhật triều.
Chế độ nước ngọt rất khan hiếm, chỉ thấy từ các nguồn nước mưa hoặc giếng sâu từ

trưởng và phát triển, con người sử dụng để sấy khô nguyên liệu, làm muối
IV. Khái niệm về Quản lý tổng hợp vùng ven bờ
Tại Hội nghị Quốc tế về Vùng bờ, QLTHVB được định nghĩa như sau: QLTHVB bao
gồm việc đánh giá toàn diện, đặt ra các mục tiêu, quy hoạch và quản lý các hệ thống tài
nguyên ven biển, có xét đến các yếu tố lịch sử, văn hóa và truyền thống, và các lợi ích trong
mâu thuẩn sử dụng; là quá trình liên tục tiến triển nhằm đạt được sự phát triển bền vững.
Quản lý tổng hợp vùng ven bờ là một cơ cấu để tập hợp những người sử dụng, các chủ
thể và những người ra quyết định tại vùng ven bờ nhằm đảm bảo quản lý hệ sinh thái có hiệu
quả hơn đồng thời phát triển được kinh tế và phân chia quyền lợi hợp lý giữa các thế hệ và
trong cùng thế hệ, thông qua việc áp dụng những nguyên tắc có tính bền vững. Pháp chế và
quy hoạch ở lãnh hải và nội địa thường là công cụ thuận lợi để thực thi QLTHVB.

6
Mặc dù có rất nhiều định nghĩa khác nhau về QLTHVB nhưng sự khác nhau giữa chúng
là rất ít. Hầu hết các định nghĩa đều thừa nhận rằng QLTHVB là một quy trình có tính liên
tục, tính tiên phong trong thực hiện và có khả năng thích nghi cao nhằm quản lý nguồn tài
nguyên cho sự phát triển bền vững vùng ven bờ. QLTHVB phải đạt được mục tiêu của nó
trong các điều kiện hạn chế về môi trường, kinh tế, xã hội và tự nhiên cũng như trong hạn chế
của các hệ thống và thể chế về pháp lý, tài chính và hành chính.
QLTHVB không thay thế cho các việc kế hoạch và quản lý của từng ngành. Đúng hơn
là nó tập trung vào sự liên kết giữa hoạt động của các ngành, cũng cố và điều hòa quản lý
ngành để đạt được mục tiêu một cách bền vững và đầy đủ.
QLTHVB là một quy trình tuần hoàn thường bao gồm 3 giai đoạn cơ bản: 1. khởi
xướng, 2. lập kế hoạch và 3. thực thi, giám sát và đánh giá. Tuy nhiên nó cũng phải hoạt động
như một quy trình lặp lại trong đó việc lập kế hoạch và thực thi cần phải được tiến hành xem
xét đánh giá và điều chỉnh thường xuyên.
Các biện pháp tổng hợp đối với quản lý vùng ven bờ được biết đến dưới nhiều tên gọi
và chữ viết tắt khác nhau, trong đó gồm có Quản lý tổng hợp vùng ven bờ (ICZM, Integrated
Coastal Zone Management), Quản lý tổng hợp vùng ven biển (ICAM, Integrated Coastal Area
Management), Quản lý tổng hợp ven biển (ICM, Integrated Coastal Management) và Quản lý

gian, theo thời gian, theo chiều dọc và theo chiều ngang.

Tổng hợp theo không gian: bao gồm những vấn đề liên quan đến ranh giới, xa vào
đất liền như thế nào và xa ra tới biển bao nhiêu cần phải được xem xét trong các
dự án quản lý. Vấn đề đất liền và biển cần phải được coi trọng như nhau, các quá
trình tự nhiên không quan hệ đến các ranh giới hành chính.

7

Tổng hợp theo thời gian: vấn đề thời gian phải được coi trọng, để các quyết định
trong hiện tại cần phải xem xét đến tác động của nó trong tương lai để bảo đảm
cho sự bền vững.

Tổng hợp theo chiều dọc: tất cảc các mức độ của các mối liên hệ, hợp tác, kế
hoạch tại các điểm ở địa phương phải gắn với kế hoạch của vùng ven bờ, với chiến
lược của quốc gia và quốc tế. Cũng trong lĩnh vực này, khi áp dụng các chính sách
trong các tổ chức, thông tin cần phải được thông qua từ thấp đến cao trong các tổ
chức cũng như trong các cấp (ví như văn phòng qui hoạch, hội đồng địa phương,
chính quyền quốc gia,..).

Tổng hợp theo chiều ngang: thể hiện nỗ lực nhằm điều phối các ngành kinh tế tư
nhân cũng như nhà nước, nhờ đó giảm được sự chắp vá và chồng chéo trong quản
lý. Các chủ đề khác nhau trong phạm vi vùng bờ cần được đưa ra khi thành lập các
quyết định (ví dụ như bảo vệ vùng ven bờ, phát triển kinh tế, bảo tồn thiên
nhiên,...); các ban ngành, các tổ chức khác nhau phải cùng làm việc với nhau hơn
là làm việc riêng lẻ nhau.
Một vấn đề nữa trong quản lý tổng hợp vùng ven bờ là tính toàn bộ. Đây là một phần
của mô hình bền vững bao gồm cả người dân, đặc biệt là người dân địa phương. Điều này đã
được nhận thấy trong hầu hết các bước khởi đầu thành công về quản lý tổng hợp vùng ven bờ
ở nhiều quốc gia, trong đó có sự tham gia nhiệt tình của cộng đồng địa phương.

QLTHVB hoàn thiện các dạng quy hoạch phát triển truyền thống theo 4 khía cạnh sau:

Tăng cường nhận thức đầy đủ về các hệ tài nguyên thiên nhiên quý giá của vùng
bờ và tính bền vững của chúng đối với các hoạt động đa dạng của con người;

8

Tối ưu hóa việc sử dụng đa mục tiêu các hệ tài nguyên vùng bờ thông qua việc
tổng hợp các thông tin sinh thái, xã hội và kinh tế;

Triển khai các cách tiếp cận đa ngành, hợp tác và phối hợp liên ngành nhằm giải
quyết những vấn đề phát triển phức tạp, đồng thời xây dựng các chiến lược tổng
hợp nhằm mở rộng và đa dạng hóa các hoạt động kinh tế;

Giúp chính quyền nâng cao năng suất và hiệu quả của việc đầu tư tài chính và
nhân lực, nhằm đạt các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường, thực hiện được các
cam kết quốc tế liên quan đến môi trường biển và ven bờ.
Khác với các cách thức quy hoạch phát triển khác, QLTHVB giúp tối ưu hóa các lợi
ích kinh tế và hội do việc sử dụng tài nguyên đem lại. Nơi mà sự phát triển bền vững phụ
thuộc vào nguồn tài nguyên ven bờ có khả năng phục hồi. QLTHVB sẽ giúp quản lý việc sử
dụng đa đa mục tiêu, duy trì được tính tổng hợp về chức năng của các hệ ven bờ và sự ổn định
của các nguồn tài nguyên. Tất các các dạng phát triển đều tác động đến chất lượng và năng
suất của các hệ sinh thái ven bờ. Do đó, sự phát triển kinh tế, xã hội bền vững của vùng bờ
không thể tách rời quy hoạch và quản lý môi trường. Điều này rất quan trọng đối với các
ngành kinh tế đang phát triển mà phụ thuộc nhiều vào chất lương môi trường và tài nguyên
thiên nhiên trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm, cũng như đối với các ngành kinh tế đã
phát triển với mô hình phát triển vùng ven bờ tiên tiến.
QLTHVB cũng là một công cụ để giải quyết các vấn đề quốc tế xuyên biên giới như ô
nhiễm biển, khai thác quá mức các nguồn tài nguyên chung và bảo vệ đa dạng sinh học.
VI. Các mục tiêu của quản lý tổng hợp vùng ven bờ

cố;

Phục hồi các hệ sinh thái bị phá hủy;

9

Khuyến khích các hoạt động có tính kết hợp hơn là những hoạt động có tính cạnh
tranh;

Đảm bảo rằng các mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường đạt được với mức chi phí
có thể chấp nhận được với xã hội;

Bảo đảm các quyền và sử dụng truyền thống và các cách tiếp cận hợp lý đối với tài
nguyên;

Nâng cao nhận thức, phát triển cộng đồng.
Một điều quan trọng sống còn đối với sự thành công của quy trình QLTHVB là việc
bảo đảm sự tham gia và cam kết đầy đủ của các cộng đồng địa phương từ những giai đoạn
đầu tiên. Điều này đặc biệt quan trọng trong trường hợp nhiều hoặc toàn bộ vùng ven bờ
thuộc quyền quản lý của địa phương, bởi nhiều khi địa phương có sự chiếm hữu truyền thống
và có các quyền khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
VII. Các nhân tố thiết yếu của việc tổng hợp vùng ven bờ.
Nhân tố cơ bản của quá trình quản lý tổng hợp vùng ven bờ là sự thống nhất và hợp
tác. Bất kỳ một chính sách và hành động quản lý tổng hợp nào được thiết kế để giải quyết các
xung đột trong phát triển vùng bờ phải căn cứ vào những hiểu biết có cơ sở của các quá trình
tự nhiên và những cách thức mà các quá trình này có thể bị nhiễu động. Đó là các hiểu biết về
các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội; các nhu cầu hiện tại và tương lai; cũng như bao gồm chi
phí xã hội.
Việc quản lý hệ thống tài nguyên ven bờ được liên kết bởi 3 mặt của một hình khối hổ
trợ nhau. Đó là các tiến trình, các vấn đề và các hành động, mỗi một mặt như thế là một trục


Sắp xếp các tổ chức và thể chế để làm rõ các quyền hạn và nghĩa vụ, tăng cường
sức mạnh cho việc tuân theo pháp luật và nhiệm vụ quan trắc và đánh giá.

Khuyến khích và điều chỉnh để thay đổi các hành vi của con người bao gồm việc
hình thành quỹ trợ cấp, giấy phép đánh bắt, cấm khai thác mỏ và đánh bắt cá, điều
chỉnh tàu thuyền và các hoạt động đánh bắt.

Đầu tư công cộng trực tiếp, bao gồm các đầu tư của chính phủ trong việc nâng cao
nhận thức của cộng đồng, các nghiên cứu thích đáng về quản lý, tạo ra cơ sở hạ
tầng căn bản (ví dụ như hệ thống thải chất thải) và các hổ trợ kỹ thuật nếu cần
thiết. Hình 1. Hệ thống quản lý vùng bờ
Mặc dù vậy, có nhiều có rất nhiều trở ngại thường xuyên gặp phải trong quá trình thực
thi hiệu quả QLTHVB. Sự trì trệ về hành chính, sự bảo thủ trước các thay đổi, xung đột với
các lợi ích kinh tế cá nhân, thiếu sự quyết tâm về mặt chính trị khi bắt đầu qui trình, thiếu các

Vấn đề
-Ô nhiễm
-Mất nơi ở
-Khai thác quá mức
Khuyến khích thi hành
pháp luật, thay đổi thái độ
Sắp xếp các thể chế, tổ chức

11
một số trách nhiệm và quyền hạn khác đối với các lĩnh vực về biển ở đó (hàng hải, an
ninh quốc gia, cá di cư, quan hệ quốc tế,...).
Cần thấy rõ rằng QLTHVB là một chương trình tổng thể, bao trùm, nó không
thay thế thể chế hiện tại, trong phần lớn trường hợp, mà cũng cố chúng.
Sự tổng hợp các lợi ích đa ngành vào trong một chương trình là rất khó khăn.
Việc có được một cơ chế điều phối các hoạt động đa ngành, hướng tới mục tiêu của
QLTHVB, chứ không phải một cơ quan đơn lẻ thực hiện, là một trong những công việc
tối cần thiết của chương trình QLTHVB.
Đối với một chương trình có phạm vi lớn và toàn diện, có thể xem xét và hình
thành một cơ quan mới, chẳng hạn như một cơ quan lãnh đạo chung, được chính phủ trợ
giúp các nguồn lực, tài chính cần thiết để hoạt động. Trong trường hợp khác, một cơ
quan đang hoạt động cũng có thể trở thành cơ quan trọng trách thực hiện chương trình;
nó được tăng cường để quản lý, bảo tồn, với các mục tiêu rõ ràng và phù hợp với luật
pháp và được trao trách nhiệm, nguồn lực, tiện ích hành chính và kỹ thuật cần thiết.
Không có câu trả lời duy nhất cho câu hỏi quyền hạn QLTHVB sẽ đặt vào chổ
nào trong cơ cấu thể chế nhà nước hiện hành. Nó sẽ rất khác biệt đối với mỗi quốc gia,
phụ thuộc vào những câu trả lời cho các câu hỏi như: liệu một cơ quan điều phối có đủ
không? Nếu đủ thì nó phải đặt ở bộ nào? Hoặc là có cần một cơ quan có quyền lực tiến
hành QLTHVB một cách độc lập không? Kỹ năng cần thiết của nhân viên là gì? Cơ
quan này lồng ghép vai trò của một số cơ quan, ngành liên quan nhiều đến vùng ven bờ
như thế nảo? Đó là các vấn đề quan trọng cần phải xem xét. Về mặt thể chế, hầu hết các


12
Câu hỏi ôn tập chương 1
1. Vì sao cần có một chương trình quản lý tổng hợp vùng ven bờ?
2. Khái niệm vùng ven bờ.
3. Đặc tính của vùng ven bờ.
4. Các yếu tố sinh thái của vùng ven bờ.
5. Khái niệm về quản lý tổng hợp vùng ven bờ.
6. Chức năng của quản lý tổng hợp vùng ven bờ.
7. Các mục tiêu của quản lý tổng hợp vùng ven bờ.
8. Các nhân tố thiết yếu của việc tổng hợp vùng ven bờ.

13
Chương 2.
CÁC HỆ SINH THÁI VÙNG VEN BỜ
I. Hệ sinh thái cửa sông
1. Các kiểu cửa sông
Cửa sông (estuary) là thuỷ vực ven bờ tương đối kín, nơi mà nước ngọt và nước biển
gặp nhau và trộn lẫn vào nhau. Các đặc trưng về địa mạo, lịch sử địa chất và điều kiện khí hậu
tạo nên sự khác biệt về tính chất vật lý và hoá học của các kiểu cửa sông. Kiểu tiêu biểu nhất
là cửa sông châu thổ ven bờ (coastal plain estuary). Các cửa sông thuộc kiểu này được hình
thành vào cuối kỷ băng hà muộn, khi nước biển dâng lên ngập các châu thổ sông ven bờ biển.
Kiểu cửa sông thứ hai là vịnh nửa kín (semi-enclose bay) hoặc đầm phá (lagoon). Ở đây các
doi cát song song với đường bờ hình thành và ngăn cản một phần sự trao đổi nước từ biển. Độ
muối trong các đầm khác nhau nhiều, phụ thuộc vào điều kiện khí hậu. Kiểu cửa sông cuối
cùng là vịnh hẹp. Các thung lũng này bị trũng bởi hoạt động băng hà và sau đó bị ngập bởi
nước biển. Chúng đặc trưng bởi cửa nông làm hạn chế trao đổi nước trong vịnh với biển.
Các kiểu cửa sông còn được phân chia bằng cơ sở khác dựa trên xu thế biến thiên của
độ muối.
Nước ngọt có tỷ trọng nhỏ hơn nước biển, khi gặp nhau nước ngọt sẽ nổi trên nước

bay hơi để bù cho thể tích nước tương tự chảy ra từ nguồn. Thời gian cần thiết để đo khối
nước ngọt đã cho được tải ra khỏi cửa sông được gọi là thời gian chảy. Khoảng thời gian này

14
có thể định lượng được tính ổn định của hệ cửa sông. Thời gian chảy kéo dài rất quan trọng
cho sự duy trì quần xã sinh vật nổi.
Do có số lượng lớn vật lơ lững trong nước vùng cửa sông, ít nhất là vào một thời kỳ nào
đó trong năm, độ đục của thuỷ vực thường rất cao. Độ đục có giá trị cao nhất khi lượng nước
ngọt chảy ra nhiều nhất và giảm dần khi ra phía cửa, nơi lượng nước biển ưu thế. Ảnh hưởng
sinh thái chính của độ đục là làm giảm đáng kể độ chiếu sáng, vì thế giảm quang hợp của thực
vật phù du và thực vật đáy làm giảm năng suất sinh học. Trong điều kiện độ đục quá cao, sinh
khối thực vật phù du gần như không có và khối lượng vật chất hữu cơ được tạo thành chủ yếu
bởi thực vật bãi lầy nổi.
Sự hoà tan oxy trong nước giảm theo quá trình tăng nhiệt độ và độ muối. Vì vậy lượng
oxy thay đổi khi các thông số này biến thiên. Ở các cửa sông có độ sâu lớn, thường xuất hiện
lớp đẳng nhiệt vào mùa hè và tồn tại sự phân tầng độ muối. Trong điều kiện đó, trao đổi khí
giữa lớp mặt giàu oxy và tầng đáy sâu diễn ra rất kém. Hiện tượng này cùng với hoạt động
sinh học tích cực, sự trao đổi nước chậm gây ra sự thiếu oxy ở tầng đáy.
3. Quần xã sinh vật
Động vật biển là nhóm lớn nhất ở vùng cửa sông khi xét về phương diện số lượng loài
và được xếp vào hai phân nhóm. Các động vật hẹp muối (stenohaline) không thể chịu được sự
biến thiên độ muối và chỉ sống được ở vùng cửa sông với độ muối lớn hơn 25
0
/
00
. Đây thực sự
là những động vật sống ở biển. Phân nhóm rộng muối (euryhaline) có thể thích nghi được với
độ muối 15 - 18
0
/

phổ biến nhất cho rằng điều kiện môi trường biến động chỉ cho phép những loài với sự
chuyên hoá chức năng sinh lý đặc biệt để thích nghi. Cách giải thích thứ hai đề cập đến thời
gian địa chất của quá trình hình thành các cửa sông. Sự tồn tại của chúng không đủ dài để khu
hệ cửa sông phát triển đầy đủ. Lý do cuối cùng có thể là do hình thái vùng cửa sông kém đa
dạng nên có ít nơi sống và có ít loài động vật.
Thành phần loài thực vật lớn ở cửa sông kém phong phú. Hầu hết các vùng ngập nước
thường xuyên đều có đáy mùn không phù hợp để rong bám. Hơn nữa, nước đục hạn chế độ
chiếu sáng, vì vậy vùng nước sâu hầu như không có thực vật. Vùng triều và vùng nước nông
cho phép phân bố một số loài rong lục, cỏ biển và đặc biệt là thực vật ngập mặn ở vùng nhiệt
đới.
Tảo Silic khá phổ phong phú trên các bãi triều gần bùn vùng cửa sông. Chúng có thể
di động lên bề mặt hoặc vào trong bùn phụ thuộc vào độ chiếu sáng. Bùn cửa sông cũng là nơi

15
sống thích hợp của tảo lam sợi. Vi khuẩn là thành phần phong phú cả trong nước và trong
bùn, nơi giàu có vật chất hữu cơ.
Sinh vật phù du ở vùng cửa sông khá nghèo về thành phần loài. Tảo Silic thường chiếm
ưu thế trong mùa nóng và thậm chí quanh năm ở một số khu vực. Động vật phù du cũng
nghèo về thành phần cũng như biến động lớn theo mùa. Các loài cửa sông thực sự chỉ tồn tại
ở các cửa sông lớn và ổn định. Ở các cửa sông nông, thành phần động vật phù du biển điển
hình chiếm ưu thế.
4. Các quá trình sinh thái
Năng suất sinh học sơ cấp ở vùng cửa sông chủ yếu do tảo Silic sống đáy. Tuy nhiên,
cửa sông lại có một lượng lớn chất hữu cơ và năng suất thứ cấp cao. Nguồn năng suất sơ cấp
chủ yếu được cung cấp bởi thảm thực vật vùng triều bao quanh cửa sông. Ngoài ra, cửa sông
còn nhận vật chất hữu cơ từ sông và từ biển với lượng đáng kể. Vùng cửa sông có rất ít động
vật ăn thực vật và vì vậy, vật chất có nguồn gốc thực vật phải được phân huỷ thành mùn bả để
đi vào chuỗi thức ăn. Quá trình này có sự tham gia của vi khuẩn.
Mùn bã hữu cơ lắng đọng hình thành nền đáy giàu vi khuẩn và tảo. Đây là những nguồn
thức ăn quan trọng cho các động vật ăn mùn bã và chất lơ lững. Về phương diện nguồn thức

bãi càng dài cơ hội kiếm ăn và tích luỹ năng lượng càng ngắn. Động thực vật khác nhau về
khả năng chống chịu với thời gian phơi bãi và sự chuyên hóa này là một trong những lý do tạo

16
nên sự phân vùng phân bố. Ảnh hưởng thứ hai lên đời sống sinh vật là thời gian phơi bãi vào
ban ngày. Triều thấp vùng nhiệt đới diễn ra lúc trời tối thuận lợi hơn đối với sinh vật do nhiệt
độ thấp hơn và ít mất nước hơn. Thuỷ triều là chu kỳ có thể dự báo trước và hình thành nhịp
điệu của nhiều loài sinh vật. Nhịp điệu này liên quan đến các quá trình sinh sản, dinh dưỡng,...
Nhờ đặc trưng vật lý, môi trường nước, nhất là các thuỷ vực lớn như đại dương có biến
thiên nhiệt độ không lớn. Giới hạn nhiệt độ ở biển hiếm quá ngưỡng gây chết đối với sinh vật.
Tuy nhiên, vùng triều thường phải chịu chế độ nhiệt của không khí. Trong thời gian khác
nhau, nhiệt độ có thể vượt quá ngưỡng gây chết hoặc có ảnh hưởng gián tiếp làm cho sinh vật
suy yếu và không thể duy trì hoạt động bình thường.
Sóng biển ảnh hưởng đến các cá thể và quần thể sinh vật ở vùng triều nhiều hơn các
thuỷ vực khác. Tác động đầu tiên với sinh vật là đập vỡ hoặc xé nát vật thể. Sự chịu sóng là
giới hạn phân bố của các sinh vật không thích nghi sóng và là nhu cầu đối với các sinh vật ưa
sóng. Sóng còn có tác động mở rộng vùng triều nhờ đẩy nước lên cao so với độ cao của triều.
Nhờ vậy, nhiều sinh vật có thể sống cao hơn ở vùng có sóng so với vùng che chắn trong cùng
một mức triều.
Độ muối ở vùng cũng thay đổi lớn. Khi triều thấp, mưa lớn hoặc dòng nước từ đất liền
làm giảm độ muối, có thể làm chết sinh vật do khả năng chống chịu hạn chế của chúng.
2. Thích nghi của sinh vật vùng triều
Các sinh vật vùng triều chủ yếu có nguồn gốc biển. Sự thích nghi cơ bản là tránh sức ép
của điều kiện khí quyển.
Sự mất nước là quá trình diễn ra ngay sau khi sinh vật biển ra khỏi môi trường nước.
Sinh vật vùng triều sống sót được khi phơi bãi khi sự mất nước ở mức tối thiểu hoặc cấu tạo
cơ thể thích nghi với sự mất nước trong một thời gian nhất định. Cơ chế đơn giản nhất là trốn
chạy trong các hang hốc, rãnh hoặc tìm nơi trú ẩn ở vùng ẩm ướt phủ rong tảo. Rong biển
chịu đựng sự mất nước nhờ cấu tạo mô. Sau khi bị khô do triều rút, chúng nhanh chóng lấy
nước và phục hồi hoạt động bình thường lúc triều lên. Nhiều động vật vùng triều có cơ chế

tinh. Ví dụ ở vẹm Mytilus edilis thành thục sinh dục trong thời kỳ triều cường và đẻ trứng vào
thời kỳ triều kiệt sau đó.
3. Đặc trưng của các loại bãi triều
Bãi triều đá: So với các loại bãi triều, bờ triều đá, đặc biệt ở vùng ôn đới có nhiều sinh
vật có kích thước lớn cư trú và đạt tính đa dạng về thành phần loài động thực vật cao nhất.
Đặc trưng nổi bật ở tất cả bãi triều đá là sự phân vùng của sinh vật tức hình thành các dãi theo
chiều ngang rõ rệt.
Bãi triều cát: yếu tố môi trường quan trọng nhất chi phối đời sống sinh vật ở các bãi
triều cát là không được che chắn sóng biển và mối liên quan của nó đến độ hạt và độ dốc của
bãi. Sóng gây ra sự di chuyển của bãi, làm nền đáy không ổn định. Sinh vật có hai con đường
để thích nghi, chúng có thể vùi vào cát ở độ sâu lớn hơn nơi mà trầm tích không còn bị sóng
xô đẩy. Khả năng này được quan sát thấy ở các loài sò. Cách thích nghi thứ hai là tốc độ vùi
nhanh của một số động vật thuộc nhóm giun, giáp xác.
Bãi triều bùn: sự phân biệt giữa bãi triều cát và bãi triều bùn là không rõ ràng. Vùng
triều càng được che chắn càng có trầm tích mịn hơn và tích luỹ nhiều chất hữu cơ hơn. Đáy
bùn cũng là đặc trưng của hệ sinh thái cửa sông và quần xã sinh vật của hai hệ có những nét
tương đồng. Bãi triều bùn chỉ xuất hiện ở vùng được che chắn, không bị sóng vỗ như trong
các vịnh kín, đầm và đặc biệt là cửa sông. Bãi triều bùn tích luỹ nhiều chất hữu cơ, tạo nên
tiềm năng thức ăn lớn cho sinh vật. Sinh vật sống ở bãi triều bùn chủ yếu thuộc nhóm sống
trong đáy với các ống, hang thông lên bề mặt. Kiểu dinh dưỡng ưu thế trong môi trường này
là ăn chất lắng đọng và chất lơ lững.
4. Vai trò của hệ sinh thái vùng triều
Hệ sinh thái vùng triều có vai trò rất quan trọng trong hệ sinh thái nước mặn, bao gồm
các chức năng sau:

Là nơi cư trú, sinh sống của các loài sinh vật biển, như các loài hai mảnh vỏ, các
loài rong tảo,...

Là nơi cung cấp nguồn lợi kinh tế và cũng là nơi diễn ra sự trao đổi vật chất, năng
lượng, tạo nên nguồn sinh khối lớn trong hệ sinh thái;

cạn dần dần thích nghi với điều kiện ngập mặn qua các đợt biển tiến và biển lùi. Tổng diện
tích rừng ngập mặn trên thế giới lên đến trên 16 triệu ha trong đó có hơn 6 triệu ha thuộc
Châu Á nhiệt đới và khoảng 3,5 triệu ha thuộc châu Phi.
Đất ngập nước rất quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của hệ sinh thái. Thành phần
cơ học trầm tích cũng ảnh hưởng trực tiếp lên thành phần loài và tăng trưởng của cây ngập
mặn. Các hợp phần sét, bùn, cát cùng với kích thước hạt điều khiển tính thấm nước của đất,
chi phối độ muối và lượng nước trong đất. Để thích nghi, các thực vật ngập mặn có cấu tạo rễ
rất đa dạng và đặc biệt nhằm giúp chúng bám chặt vào nền đáy. Cấu trúc của rễ còn có tác
dụng tăng cường trao đổi khí và thúc đẩy quá trình lắng đọng phù sa.
Nguồn nước cung cấp cho động, thực vật rừng ngập mặn phụ thuộc vào tần số và khối
lượng của các đợt triều cũng như nước ngọt chảy tới và lượng bốc hơi của khí quyển. Cây
ngập mặn có khả năng thích nghi với môi trường nước mặn nhờ có cấu tạo nhằm giảm sự
thoát hơi nước như lá dày có lông che phủ hoặc lỗ thoát khí nằm ở mặt dưới lá, nhiều mô tích
luỹ nước trong cây và nhờ áp suất thẩm thấu của tế bào, cây luôn cao hơn dung dịch nước
trong đất (thường cách biệt từ 7-9 atmosphe). Ngoài ra, cây ngập mặn còn có cơ chế loại bỏ
lượng muối quá nhiều trong lá sau khi thoát hơi nước. Một số loài có tuyến bài tiết muối trực
tiếp qua bề mặt lá. Các loài khác có thể phát triển mô tích nước ở hạ bì để pha loãng nồng độ
muối. Tuy nhiên, trong điều kiện thiếu nước ngọt bổ sung thì nồng độ muối trong đất có thể
vượt quá sức chịu đựng sinh lí của các loài thực vật. Khi đó, thảm thực vật sẽ trở nên kém
phát triển. Sự phát triển tốt nhất của hệ sinh thái rừng ngập mặn đạt được ở những nơi mà
vùng triều cao được cung cấp nước ngọt thường xuyên nhờ lượng mưa cao hơn lượng bốc
hơi, nhiều nước ngọt thấm từ vùng nội địa hoặc có nguồn nước đầu nguồn phong phú. Rừng
ngập mặn phát triển tốt nhất ở những vùng có nồng độ muối thích hợp nhất nằm trong khoảng
15-25
0
/
00
, tuy nhiên, khoảng thích nghi cũng khác nhau lớn giữa các loài.
Cung cấp đủ dinh dưỡng cho cây rất quan trọng trong việc duy trì hệ sinh thái rừng
ngập mặn. Nguồn khoáng vô cơ từ bên ngoài được đưa vào hệ bằng quá trình trao đổi nước từ

học vùng ven bờ và biển khơi.

Rừng ngập mặn là ngôi nhà của vô số sinh vật trên cạn và dười nước. Cá sấu và rắn
biển vào rừng ngập mặn để kiếm ăn. Hầu hết các loài cá đều trải qua một phần trong
vòng đời của mình ở rừng ngập mặn. Các loài giáp xác (hà, tôm, cua) thực sự phong
phú. Nhiều loài thân mềm thường được gặp ở gốc của cây ngập mặn. Nhiều loài
chim đến rừng ngập mặn theo mùa để kiềm ăn hoặc trú ẩn và có thể hình thành
những đàn lớn. Hàng loạt tôm cá trải qua giai đoạn ấu trùng trong rừng ngập mặn và
ra khơi khi trưởng thành. Một số động vật như cua lại sống chủ yếu ở rừng ngập
mặn và chỉ đi ra biển khi sinh sản.
3. Tầm quan trọng
Công dụng của các loài thực vật rất đa dạng. Tỷ lệ các loài được sử dụng so với tổng số
loài rất lớn. Đã từ lâu các loài thực vật này đã cung cấp những nhu cầu cấp thiết hàng ngày
như gỗ xây dựng, lá lợp nhà, thực phẩm, chất đốt, thức ăn gia súc,... Ở Việt Nam, trong số 51
loài thực vật đã được thống kê chỉ một số loài ít giá trị, còn thì có thể xếp vào các nhóm chủ
yếu sau:

30 loài cây cho gỗ, than, củi

14 loài cây cho tamin

24 loài cây làm phân xanh

21 loài cây dùng làm thuốc

9 loài cây chủ thả cánh kiến đỏ

21 loài cây cho mật nuôi ong

1 loài cho nhựa để sản xuất nước giải khát, đường, cồn

sẽ ảnh hưởng đến lượng mưa của tiểu khu vực.
Sự phát triển của rừng ngập mặn và mở rộng diện tích đất bồi là hai quá trình luôn luôn
đi kèm nhau, trừ một số trường hợp đặc biệt. Nhìn chung, những bãi bồi có điều kiện thổ
nhưỡng, khí hậu phù hợp, có nguồn giống và được bảo vệ đều có cây rừng ngập mặn. Các dải
rừng ngập mặn đều có thể thấy trên đất bùn mềm, đất sét pha cát, cát và ngay cả trên các vỉa
san hô. Ở những vùng đất mới bồi có độ mặn cao thường phân bố các thực vật tiên phong
thuộc chi mắm, bần ổi.
4. Hiện trạng rừng ngập mặn
Trên thế giới có khoảng 16.670.000 ha rừng ngập mặn với hơn 100 loài cây, trong đó ở
Châu Á nhiệt đới và Châu Úc là 8.487.000 ha và Châu Phi nhiệt đới là 3.402.000 ha. Hai
nước có diện tích rừng ngập mặn lớn nhất là Indonesia và Brazil. ở các nước Đông Nam Á
như Malaysia, Philippines, Thái Lan, Việt Nam,... rừng ngập mặn cũng phát triển vì nơi đây
có nhiều điều kiện thuận lợi như nhiệt độ cao, ít biến động, lượng mưa dồi dào, bãi lầy rộng,
giàu chất bùn và phù sa.
Hiện nay, do dân số gia tăng quá nhanh, nhất là ở các nước kém phát triển, rừng ngập
mặn bị khai thác quá mức để dùng trong sinh hoạt hay trong các mục đích kinh tế khác, do
vậy mà diện tích rừng ngập mặn trên thế giới bị thu hẹp dần. Rừng ngập mặn tự nhiên chỉ còn
lại ở một số quốc gia. Một số nước cũng đã thành lập các vườn Quốc gia, Khu bảo tồn tài
nguyên thiên nhiên, Khu bảo vệ các loài động thực vật, nơi nghiên cứu, học tập, du lịch trong
rừng ngập mặn.
Việt Nam với bờ biển dài 3200 km với nhiều cửa sông giàu phù sa, nên rừng ngập mặn
sinh trưởng tốt, đặc biệt là ở bán đảo Cà Mau.
Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển vùng ven bờ, diện tích rừng ngập mặn trong
cả nước đã bị giảm sút nghiêm trọng, trong đó hoạt động chuyển đổi rừng ngập mặn sang sản
xuất nông nghiệp và nuôi tôm ở hầu hết các tỉnh ven biển đã làm rừng ngập mặn ở nước ta bị
ảnh hưởng nhiều nhất.
Nếu như năm 1943, rừng ngập mặn của Việt Nam còn che phủ đến 400.000 ha, năm
1982 còn khoảng 252.000 ha thì năm 2002 chỉ còn lại trên 155.000 ha. Bên cạnh nguyên nhân
lớn do bị Mỹ rải chất độc hoá học, việc khai hoang để sản xuất nông nghiệp và phá rừng
chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản đã đóng góp không nhỏ vào xu hướng suy thoái này.

bị thay thế bằng đầm tôm bán thâm canh, chỉ còn lại 2 ha. Cồn Chim nằm giữa đầm Thị Nại
(Qui Nhơn, Bình Định) trước đây có gần 200 ha rừng ngập mặn là nơi cư ngụ của nhiều loài
hải sản và của nhiều loài chim thì nay đã bị triệt phá để nuôi tôm.
Theo Hội Bảo vệ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam (2004), vào thời gian trước Cách
mạng tháng Tám năm 1945, cả nước có 408.500 ha rừng ngập mặn, trong đó có 329.000 ha ở
Nam Bộ. Bến Tre có 48.000 ha với độ che phủ là 29,29% nay chỉ còn 2,60%; Sóc Trăng có
41.000 ha, độ che phủ 12,72% nay chỉ còn 2,81%; Cà Mau có 140.000 ha độ che phủ 27%
nay chỉ còn 11,21%.
Theo kế hoạch hành động cho hợp phần Rừng ngập mặn trong dự án Biển Đông, mục
tiêu đặt ra đến 2010 là đạt diện tích rừng ngập mặn bằng 85% diện tích của năm 1982, đồng
thời thay đổi cơ bản nhận thức của các nhà quản lý và dân cư về giá trị của hệ sinh thái rừng
ngập mặn và sử dụng bền vững loại tài nguyên này. Để đạt mục tiêu đó, các chuyên gia đã đề
xuất thành lập mới các khu bảo tồn và vườn quốc gia, như ở cửa sông Tiên Yên (Quảng
Ninh), cửa sông Văn Úc (Hải Phòng), Thái Thuỵ (Thái Bình), Nghĩa Hưng (Nam Định).
IV. Hệ sinh thái thảm cỏ biển
1. Phân bố và cấu trúc
Hệ sinh thái cỏ biển tuy có số lượng loài không nhiều nhưng chúng đóng vai trò quan
trọng trong biển và và đại dương. Với các chức năng quan trọng như điều chỉnh môi trường
thủy vực, bảo tồn nguồn gen, cung cấp nơi ở cho các loài, cung cấp nguyên nhiên vật liệu,
năng lượng và thông tin nghiên cứu khoa học, du lịch.

22
Cỏ biển (seagrass) là một nhóm thực vật có hoa sống ở dưới nước ở vùng nhiệt đới và
ôn đới. Chúng phát triển mạnh ở vùng nước nông có khả năng thích nghi với môi trường nước
mặn, chịu được sóng gió và có khả năng thụ phấn nhờ nước. Các thảm cỏ biển bao phủ một số
vùng rộng lớn ở dải ven bờ với nhiều chức năng lý-sinh học và tạo nên một hệ sinh thái đặc
thù.
Hầu hết các thảm cỏ biển xuất hiện ở các vùng nước trũng đến độ sâu 30 m. Cỏ biển là
một đặc trưng của các hệ sinh thái vùng nhiệt đới, có năng suất ngang với các rạn san hô.
Các thảm cỏ biển tập trung ở Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương, vịnh Caribbe và vùng bờ

giai đoạn non, nhiều rong bám trên cỏ biển và chỉ bám đáy khi trưởng thành.
Một số sinh vật quý hiếm như bò sát và thú biển được ghi nhận là có mối quan hệ với
thảm cỏ biển. Trong các loài bò sát, rùa Xanh Chelonia mydas, rùa Lepidochelys olivacea,
Vích Caretta caretta, rùa Lưng dẹt Chelonia depressa và loài rắn Acrochirdus granulatus
thường xuất hiện trong các thảm cỏ dày ở Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Philippines. Đồi
mồi cũng ăn cỏ biển, dù đây không phải là thức ăn chính. Phân bố của bò biển Dugong
dugong trùng hợp với vùng có cỏ biển. Cỏ biển là thức ăn chính của loài thú quý hiếm và
nhiều huyền thoại này.
2. Chu trình dinh dưỡng

23
Vai trò sinh thái của thảm cỏ biển được quyết định bởi tốc độ thành tạo hữu cơ nhanh
chóng của cỏ biển. Tính theo đơn vị diện tích, giá trị này cao hơn năng suất của Thực vật Phù
du.
Các thảm cỏ biển có mật độ động vật và vi khuẩn cao hơn và độ đa dạng loài lớn hơn so
với các thuỷ vực không có thực vật lân cận. Điều này có được là nhờ năng suất sinh học cao
của chúng. Vào thời kỳ cao điểm của gió mùa hoặc khi cỏ biển phơi ra vào mùa hè, lá của
chúng được bứt khơi cây. Một số bị dòng chảy đem đi xa, số còn lại chìm xuống đáy và bị
phân hủy. Sinh vật ăn mùn bã, xé lá thành những mảnh nhỏ và sau đó được tiêu thụ bởi vi
khuẩn và nấm. Nhiều động vật không xương sống cũng ăn cỏ biển thối rữa. Đến lượt chúng
trở thành thức ăn cho bậc dinh dưỡng cao hơn như cá và cua. Do vậy, thảm cỏ biển kiểm soát
tính phức tạp của quần cư, tính đa dạng loài và độ phong phú của động vật không xương sống
liên quan và hình thành cấu trúc quần xã.
Điều cần chú ý là các sinh vật ăn tạp (omivorous) khá phong phú trong quần xã sinh vật
của thảm cỏ biển. Nhóm này gồm nhiều nhóm giáp xác mười chân, ốc và một số da gai. Một
loài có thể ăn cỏ biển hoặc rong thối rữa, mùn bã nhỏ trên lá và nền đáy và cả những động vật
còn sống hay đã chết. Thậm chí một số cua bơi lớn còn ăn cả thân mềm, giáp xác, giun nhiều
tơ và một phần đáng kể mô thực vật thối rữa và tảo sợi.
Quá trình thối rữa là một đặc trưng của thảm cỏ biển. Nhờ đó mà các bộ phận của cỏ
biển khi chết đi đã giải phóng các chất hữu cơ. Các hợp phần carbon cấu trúc còn lại bị vi sinh

Hiện nay, các thảm cỏ biển đang cung cấp cho loài người những sản phẩm trực tiếp như
vật liệu di truyền, thực phẩm; vật liệu thô cho công nghiệp và năng lượng. Ở các nước
Philippines, Indonesia, các loài rong sống trong thảm cỏ biển như Caulerpa, Gracilaria,
Coclidiela đang được khai thác làm thực phẩm, chế biến các chất dùng trong công nghiệp và
phân bón cho nông nghiệp. Nhiều loài sinh vật đáy sống thường xuyên chỉ trải qua giai đoạn
ấu trùng trong thảm cỏ biển được coi như là có giá trị thương mại cao. Thành phần của chúng
khá đa dạng gồm: tôm, hải sâm, cầu gai, cua, vẹm và ốc. Tầm quan trọng của thảm cỏ biển
đối với nghề cá thường được đánh giá trong mối quan hệ chặc chẽ với rạn san hô. Mặt khác,
một số loài cá được khai thác ngay trên thảm cỏ biển mà sản lượng cao thuộc về các họ bống
và dìa,... Ngoài ra, thảm cỏ biển còn được coi là môi trường thuận lợi cho nuôi trồng trên
biển. Du lịch biển cũng lấy thảm cỏ biển làm nơi giải trí, câu cá.
Ở nước ta, cỏ biển thường phát triển ở vùng triều ven biển, ven đảo, các vùng cửa sông,
rừng ngập mặn, đầm phá. Số liệu thống kê mặc dù chưa đầy đủ, diện tích phân bố thảm cỏ
biển cho đến hiện nay đã biết khoảng 10.000 ha. Các loài cỏ biển phát triển hầu như quanh
năm, nhưng tốt nhất là vào mùa xuân và đầu hè, phát triển kém vào mùa mưa bão. Chúng
phân bố từ vùng triều đến độ sâu 3-15 m, thậm chí 28 m (Đảo Bạch Long Vĩ). Chúng thích
nghi với độ muối từ 5 – đến 34
0
/
00
, chất đáy là bùn bột nhỏ, bùn cát, cát san hô, cát thô và sỏi.
Ở một số vùng ven biển và đảo (Long Châu, Bạch Long, quần đảo Trường Sa, Côn Đảo,
Phú Quốc, Phú Quý) đã xác định được 14 loài cỏ biển đó là Cỏ nàn (Halophila beccarii), Cỏ
Xoan đơn (H. decipiens), Cỏ xoan (H. ovalis), Cỏ Xoan nhỏ (H. minor), Cỏ vích (Thalassia
hemprichii), Cỏ lá dừa (Enhalus acoroides), Hẹ tròn (Halodule pinifolia), Hẹ Ba răng (H.
uninervis), Năn biển (Syringodium isoetifolium), Kiệu tròn (Cymodocea rotundata), Kiệu
răng cưa (C. serrulata), Cỏ đốt tre (Thalassodendron ciliatum), Cỏ lươn nhật (Zostera
japonica) và Cỏ kim (Ruppia martirima).
Bảng 2.1. Biến đổi diện tích một số bãi cỏ biển trong thời kỳ 1996-2003
Stt Địa điểm Diện tích 1995

các bãi cỏ biển của Việt Nam bị giảm 40 - 60%. Trước năm 1995, cỏ biển Việt Nam chiếm
diện tích là 10.770 ha. Năm 2003, diện tích này chỉ còn hơn 4.000 ha, nghĩa là mất đi 60%.
Diện tích phân bố của các thảm cỏ biển Khánh Hòa giảm trên 30% so với 6 năm trước đây,
nghĩa là từ 1.235 ha năm 1997, xuống còn 795 ha năm 2002, bình quân cứ một năm mất
khoảng 80 ha. Đặc biệt, nhiều nơi đã bị mất hẳn như ở Đồng Rui, Tuần Châu (Quảng Ninh),
Gia Luận, Sỏi Cỏ (Hải Phòng) hoặc gần mất hẳn như ở Đầm Hà, Hà Cối (Quảng Ninh). Sự
suy giảm và mất các thảm cỏ biển ở nước ta đang có nguy cơ gia tăng, ảnh hưởng nghiêm
trọng tới môi trường sinh thái biển: suy giảm chất lượng môi trường nước và trầm tích, mất
cân bằng dinh dưỡng, sinh thái và đa dạng sinh học, giảm trữ lượng cá và nguồn trứng cá, cá
con trong hệ sinh thái này, giảm nguồn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và nông
nghiệp, mất diện tích sa bồi các vùng cửa sông gây ảnh hưởng tới quá trình bồi tụ và mở rộng
quỹ đất.
V. Hệ sinh thái rạn san hô
1. Cấu trúc
San hô là những sinh vật tương đối đơn giản, chúng tồn tại ở khắp các vùng biển nông
cũng như sâu. Chúng là những cá thể hình trụ rất nhỏ có hàng xúc tu ở trên đầu để bắt mồi
trong môi trường nước và được xếp vào lớp San Hô (Anthozoa), ngành Động vật ruột khoang
(Coelenterata) trong hệ thống phân loại động vật. Một số lớn san hô phát triển dạng tập đoàn
và hình thành nên bộ xương chung. San hô có 3 nhóm chính là san hô cứng, san hô mềm và
san hô sừng.
San hô cứng có bộ xương bằng đá vôi và thường tăng trưởng rất chậm, có loại chỉ vào
khoảng 1 cm/năm. Điều đó có nghĩa là một khối san hô với đường kính khoảng 1 m có thể đã
trải qua cuộc đời hàng thế kỷ. Khi san hô chết, bộ xương có màu trắng. San hô cứng được
xem là thành phần chính cấu tạo nên rạn san hô. Chúng chỉ phân bố hạn chế ở những vùng
biển nông, ấm áp và cấu trúc đá vôi do chúng liên kết lại tạo thành rạn san hô. Tuy nhiên,
chúng rất mảnh mai và có thể bị tàn phá do gió bão và neo tàu.
Thế giới hiện có hàng ngàn rạn san hô, giới hạn phân bố của chúng chỉ ở vùng nhiệt đới
và cận nhiệt đới, trải dài từ khoảng 30
o
vĩ tuyến bắc đến 30


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status