KHÁI NIỆM VÙNG VEN BỜ VÀ QUẢN LÝ TỔNG HỢP VÙNG VEN BỜ BIỂN - Pdf 31

GVHD : TS.NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG TIỂU LUẬN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
A : KHÁI NIỆM VÙNG VEN BỜ VÀ QUẢN LÝ TỔNG
HỢP VÙNG VEN BỜ BIỂN
Vùng ven bờ luôn là nơi được con người quan tâm do nguồn
tài nguyên của nó. Đây là nơi có vùng đồng bằng màu mỡ và
tài nguyên biển phong phú, vùng ven bờ cũng là nơi dễ dàng
cho sự tiếp cận của thị trường quốc tế. Nó tạo ra không gian
sống, các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật cho các hoạt
động của con người và có chức năng điều hoà đối với môi
trường tự nhiên cũng như môi trường nhân tạo.
Vùng ven bờ là trọng tâm của nhiều ngành kinh tế quốc gia, là
nơi mà phần lớn các hoạt động về kinh tế, xã hội diễn ra và
cũng là nơi mà tác động của các hoạt động này nhiều nhất.
Đối với những nước có vùng bờ, hơn một nữa dân số sống tại
đây và tầm quan trọng của vùng ven bờ còn gia tăng trong
tương lai do sự gia tăng không ngừng của việc di dân từ các
vùng sâu trong lãnh thổ tới đây. Do vậy, không ngạc nhiên khi
có sự xung đột sâu sắc giữa nhu cầu tiêu dùng hiện nay đối
với tài nguyên và việc đảm bảo cho việc tiêu thụ tài nguyên
đó trong tương lai. Trong một số quốc gia, sự xung đột đó đã
đạt đến mức nguy cấp do phần lớn vùng ven bờ đã bị ô nhiễm
do các nguồn khác nhau. Rất nhiều hoạt động phát triển đô
thị, công nghiệp và nông nghiệp trên vùng ven biển là nằm
trong vùng đất ngập nước ven biển có năng suất cao và các dự
án phát triển đang làm biến đổi hệ sinh thái ven biển trên một
qui mô rất lớn. Nước thải từ hầu hết các đô thị và khu công
nghiệp trên thế giới đổ trực tiếp vào biển hoặc gián tiếp qua
các hệ thống sông mà không được xử lý hoặc xử lý rất ít.
Nghề cá bị sa sút, đất ngập nước bị khô, các rạn san hô bị phá
hủy, các bãi biển bị xuống cấp,... Để các vùng ven bờ được
duy trì và bảo vệ, cần phải có hành động hiệu quả và kịp thời.

phá, và các đặc trưng ven bờ khác. Khái niệm vùng ven bờ
thường được xác định một cách tùy tiện, hơi khác nhau giữa
các quốc gia và thường dựa vào giới hạn pháp lý và ranh giới
hành chánh. Ngoài ra còn có những sai khác về địa văn
(physiography), sinh thái và kinh tế giữa các vùng khác nhau,
NHÓM 7 Page 2
GVHD : TS.NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG TIỂU LUẬN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
do đó không có một định nghĩa được chấp nhận rộng rãi về
vùng ven bờ. Thay vào đó, có nhiều định nghĩa bổ sung phục
vụ cho những mục đích quản lý khác nhau, trong đó vấn đề
ranh giới cần được xem xét. Ví dụ ở một số nước Châu Âu,
vùng ven bờ mở rộng ra tới vùng lãnh hải, một số nước khác
thường lấy đường đẳng sâu làm giới hạn. Còn về ranh giới đất
liền thì cũng rất mơ hồ do tác động của biển vào khí hậu có
thể vào đến vùng nội địa bên trong cũng như vùng đồng bằng
ngập lụt rộng lớn.
Vấn đề ranh giới vùng ven bờ có thể được xác định một cách
thực tế bao gồm các khu vực và các hoạt động liên quan đến
vấn đề quản lý mà chương trường sẽ nhắm vào. Trong nhiều
trường hợp, ranh giới vùng đất và biển được chọn thường có
một khoảng cách nhất định với một mốc tự nhiên chẳng hạn
như là mức nước thấp trung bình (MLWM, Mean Low Water
Mark) hay mức nước cao trung bình (MHWM, Mean High
Water Mark).
Bảng 1. Một số ví dụ về ranh giới vùng ven bờ
Nước, bang Ranh giới đất liền Ranh giới biển
Rhode Island 200 bộ kể từ bờ biển
Vùng lãnh hải (3 dặm)
Hawaii Tất cả đất liền trừ
vùng các khu rừng

đường biên cao nhất bị ảnh hưởng bởi thủy triều Do có nhiều
sự khác nhau trong định nghĩa về khái niệm vùng ven bờ, có
một số vấn để thường nảy sinh trong quá trình thực thi quản lý
tổng hợp vùng ven bờ. Thứ nhất, pháp luật quốc gia liên quan
tới giải quyết vấn đề này, nếu nó tồn tại, thường không rõ ràng
trong việc đưa ra những định nghĩa và tiêu chí biên giới vùng
ven bờ một cách chính xác. Thứ hai,thường các ranh giới
được xác định theo qui định của hành chính không đồng nhất
với ranh giới của hệ sinh thái. Thứ ba, việc quản lý các vùng
ven bờ xuyên quốc gia thường rất khó khăn do nó liên quan
tới lợi ích từng quốc gia. Ngoài ra, pháp chế và sự phân định
đới bờ có thể có sự khác nhau rất lớn giữa các quốc gia cận kề
nhau.
Như vậy có thể thấy là định nghĩa về vùng ven bờ thường
phục vụ và hỗ trợ cho các kế hoạch chính trị, chính sách để
cân bằng nhu cầu đối với tài nguyên và giải quyết các xung
đột nhiều mặt trong vấn đề sử dụng tài nguyên.
Do vậy, định nghĩa vùng ven bờ phải phản ảnh các tiếp cận
tổng hợp bao gồm (a) vùng ven bờ được quản lý là một hệ
NHÓM 7 Page 4
GVHD : TS.NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG TIỂU LUẬN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
tổng hợp về tài nguyên và sử dụng tài nguyên và (b) chức
năng quản lý phối hợp giữa các tổ chức khác nhau liên quan
đến qui hoạch và thực thi.
Để định nghĩa về vùng ven bờ tiếp tục được chuẩn bị kỹ
lưỡng và cập nhật trong các dự án của các quốc gia, các yếu tố
sau đây cần phải được tính đến:
· Phạm vi phần đất bên trong vùng ven bờ phải được thoả
thuận cũng như phần nước thuộc lãnh thổ quản lý.
· Định nghĩa vùng ven bờ phải xuất phát từ các đặc điểm tự

quan tâm đối với các nguồn tài nguyên này không được mua
bán và cũng không được đánh giá như hàng hoá hay như dịch
vụ và thường bị loại trừ khi phân tích về giá trị của rừng ngập
mặn khi phát triển thành giá trị sử dụng thay thế khác (ví dụ
như chuyển đổi thành vùng nuôi tôm).Các giá trị thường buôn
bán là cọc chống, than củi, cua, tôm rừng ngập mặn; các giá
trị có thể buôn bán là cá, thân mềm 2 mảnh bắt trong vùng kế
cận; các giá trị ít khi tính đến là dược liệu, chất đốt trong gia
đình, thức ăn trong những lúc nghèo đói, chổ ở cho cá con, bãi
thức ăn đối với các loài cá, tôm vùng cửa sông, quan sát và
nghiên cứu động vật hoang dã; các giá trị thường bị bỏ qua là
dòng dinh dưỡng cho vùng cửa sông, vùng đệm đối với tác hại
của gió bão.
4. Có một mối liên hệ trực tiếp giữa các chức năng môi trường
và việc sản sinh ra các hàng hoá để có thể sử dụng được nhiều
dạng hơn chỉ là một dạng trong các hoạt động của con người
(ví dụ như đá san hô được sử dụng trong việc xây dựng và sản
xuất vôi).
5. Trong vùng ven bờ, nơi mà có sự cạnh tranh giữa các bên
liên quan khác nhau (các bên liên quan được xác định là các
nhóm trong cộng đồng có những mối quan tâm đặc biệt hay là
liên quan đến việc sử dụng các nguồn tài nguyên như là tài
sản chung) đối với việc sử dụng đất và biển thường dẫn đến
những xung khắc mãnh liệt và phá huỷ sự thống nhất của hệ
thống tài nguyên.
6. Các hoạt động ở vùng ven bờ trong nhiều nước đã góp phần
đáng kể vào GDP của kinh tế quốc gia.Ví dụ như ở Sry
Lanka,vùng ven bờ chiếm 24% diện tích đất cả nước,nhưng
NHÓM 7 Page 6
GVHD : TS.NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG TIỂU LUẬN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

đất cát, cồn cát ven biển.
Dễ mẫn cảm với các điều kiện biến đổi của môi trường như dễ
bị xói lở do tác động của sóng gió.
NHÓM 7 Page 7
GVHD : TS.NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG TIỂU LUẬN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
Môi trường đất bị ảnh hưởng mạnh của cả độ mặn trong nước
biển và thủy triều.
Môi trường sinh thái ở đây không có tính ổn định,dễ phát triển
nhưng cũng dễ bị phá hủy,thay đổi.
4. Môi trường nước
Nước từ mặn cho đến lợ,độ mặn giảm từ biển vào đất liền,
điều kiện nước cũng thay đổi theo chế độ thủy văn ở các cửa
sông đổ ra biển.Trong nước biển, nước sông và nhất là nước
lợ, hàm lượng chất dinh dưỡng cao, có nhiều chất phù sa lơ
lững và nhiều hạt sét mịn tạo nên trầm tích nhiều sét.
Chế độ thủy triều ảnh hưởng mạnh đến hệ sinh thái thể hiện
qua mức triều cực đại hay cực tiểu của chế độ nhật triều hay
bán nhật triều.
Chế độ nước ngọt rất khan hiếm, chỉ thấy từ các nguồn nước
mưa hoặc giếng sâu từ tầng nước ngầm.
5. Môi trường không khí
Thường chất lượng không khí ở các vùng ven biển rất tốt nếu
không có các hoạt động công nghiệp.Trong những vùng hoạt
động công nghiệp ven biển th. môi trường không khí sẽ bị ảnh
hưởng.Tuy nhiên khả năng đảo nhiệt thường ít xảy ra hơn.
Hàm lượng muối trong không khí cao dễ gây ăn mòn kim loại,
các công trình xây dựng,vật liệu.
6. Đa dạng sinh học
Được chia làm hai phần:phần dưới nước và trên cạn.Phần trên
cạn lại được chia ra sinh vật ở vùng cao và sinh vật ở vùng

dụng để sấy khô nguyên liệu,làm muối.
IV. Khái niệm về Quản lý tổng hợp vùng ven bờ
Tại Hội nghị Quốc tế về Vùng bờ, QLTHVB được định nghĩa
như sau: QLTHVB bao gồm việc đánh giá toàn diện, đặt ra
các mục tiêu, quy hoạch và quản lý các hệ thống tài nguyên
ven biển, có xét đến các yếu tố lịch sử, văn hóa và truyền
thống, và các lợi ích trong mâu thuẩn sử dụng;là quá trình
liên tục tiến triển nhằm đạt được sự phát triển bền vững.
Quản lý tổng hợp vùng ven bờ là một cơ cấu để tập hợp
những người sử dụng, các chủ thể và những người ra quyết
định tại vùng ven bờ nhằm đảm bảo quản lý hệ sinh thái có
hiệu quả hơn đồng thời phát triển được kinh tế và phân chia
NHÓM 7 Page 9
GVHD : TS.NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG TIỂU LUẬN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
quyền lợi hợp lý giữa các thế hệ và trong cùng thế hệ, thông
qua việc áp dụng những nguyên tắc có tính bền vững.Pháp
chế và quy hoạch ở Lãnh hải và nội địa thường là công cụ
thuận lợi để thực thi QLTHVB.
Mặc dù có rất nhiều định nghĩa khác nhau về QLTHVB nhưng
sự khác nhau giữa chúng là rất ít.Hầu hết các định nghĩa đều
thừa nhận rằng QLTHVB là một quy trình có tính liên tục,tính
tiên phong trong thực hiện và có khả năng thích nghi cao
nhằm quản lý nguồn tài nguyên cho sự phát triển bền vững
vùng ven bờ.QLTHVB phải đạt được mục tiêu của nó
trong các điều kiện hạn chế về môi trường,kinh tế,xã hội và tự
nhiên cũng như trong hạn chế của các hệ thống và thể chế về
pháp lý,tài chính và hành chính.
QLTHVB không thay thế cho các việc kế hoạch và quản lý
của từng ngành.Đúng hơn là nó tập trung vào sự liên kết giữa
hoạt động của các ngành,cũng cố và điều hành quản lý ngành

học xã hội, khoa học công nghệ và tự nhiên có nhiệm vụ cung
cấp tài liệu cho các nhà quản lý vùng ven biển.Tuy nhiên,
thông tin của họ thường không tối ưu nhất.
· Tổng hợp quốc tế: có thể xảy ra vấn đề khi một vùng diện
tích lại nằm trong biên giới của hai nước.Do tác động của việc
sử dụng tài nguyên giữa hai nước là không biết được,do vậy
sự hợp tác quốc tế là điều kiện tiên quyết.
Mc Glashan đề nghị 4 phương diện quản lý tổng hợp: đó là hệ
thống quản lý theo không gian,theo thời gian,theo chiều dọc
và theo chiều ngang.
· Tổng hợp theo không gian: bao gồm những vấn đề liên quan
đến ranh giới, xa vào đất liền như thế nào và xa ra tới biển bao
nhiêu cần phải được xem xét trong các dự án quản lý.Vấn đề
đất liền và biển cần phải được coi trọng như nhau,các quá
trình tự nhiên không quan hệ đến các ranh giới hành chính.
· Tổng hợp theo thời gian:vấn đề thời gian phải được coi
trọng, để các quyết định trong hiện tại cần phải xem xét đến
tác động của nó trong tương lai để bảo đảm cho sự bền vững.
· Tổng hợp theo chiều dọc:tất cảc các mức độ của các mối liên
hệ, hợp tác,kế hoạch tại các điểm ở địa phương phải gắn với
kế hoạch của vùng ven bờ,với chiến lược của quốc gia và
quốc tế.Cũng trong lĩnh vực này,khi áp dụng các chính sách
NHÓM 7 Page 11
GVHD : TS.NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG TIỂU LUẬN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
trong các tổ chức,thông tin cần phải được thông qua từ thấp
đến cao trong các tổ chức cũng như trong các cấp (ví như văn
phòng qui hoạch,hội đồng địa phương,chính quyền quốc
gia,..).
· Tổng hợp theo chiều ngang: thể hiện nỗ lực nhằm điều phối
các ngành kinh tế tư nhân cũng như nhà nước,nhờ đó giảm

được thành công.Chúng bao gồm:
· Đạt được sự thống nhất và hợp tác giữa các ban ngành chính
phủ tại mọi cấp độ khác nhau.
· Đảm bảo sự ủng hộ của các thể chế chính trị cho việc thực
thi dự án.
· Đảm bảo sự tham gia và tham vấn đầy đủ của cộng đồng và
các chủ thể địa phương.
· Đạt được sự nhất trí trong việc quản lý và sử dụng bền vững
tài nguyên ven bờ.
· Đinh hướng các phương pháp quản lý có tính linh hoạt và
thích ứng khi các điều kiện thay đổi.
· Làm cho quy trình QLTHVB phù hợp với thể chế,tổ chức và
môi trường xã hội của quốc gia và khu vực.
V. Chức năng của QLTHVB
QLTHVB hoàn thiện các dạng quy hoạch phát triển truyền
thống theo 4 khía cạnh sau:
· Tăng cường nhận thức đầy đủ về các hệ tài nguyên thiên
nhiên quý giá của vùng bờ và tính bền vững của chúng đối với
các hoạt động đa dạng của con người.
· Tối ưu hóa việc sử dụng đa mục tiêu các hệ tài nguyên vùng
bờ thông qua việc tổng hợp các thông tin sinh thái,xã hội và
kinh tế;
· Triển khai các cách tiếp cận đa ngành,hợp tác và phối hợp
liên ngành nhằm giải quyết những vấn đề phát triển phức tạp,
đồng thời xây dựng các chiến lược tổng hợp nhằm mở rộng và
đa dạng hóa các hoạt động kinh tế.
· Giúp chính quyền nâng cao năng suất và hiệu quả của việc
đầu tư tài chính và nhân lực, nhằm đạt các mục tiêu kinh tế,
xã hội và môi trường, thực hiện được các cam kết quốc tế liên
quan đến môi trường biển và ven bờ.

Các mục tiêu cụ thể bao gồm: hỗ trợ ngành thủy sản,thu hút
khách du lịch,nâng cao sức khỏe cộng đồng,tăng cường nhận
thức cộng đồng,duy trì sản lượng sản phẩm có được từ các
vùng ngập mặn,...Tất cả các điều này đòi hỏi các hành động
của cộng đồng phải được điều phối tốt.Đó chính là cái mà
quản lý tổng hợp vùng ven bờ cần làm.Các mục tiêu cụ thể
đó là:
NHÓM 7 Page 14
GVHD : TS.NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG TIỂU LUẬN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
· Hướng dẫn mức độ sử dụng và can thiệp đối với nguồn tài
nguyên ven biển để chúng không bị sử dụng hoặc can thiệp
quá sức mang cho phép bằng cách phân định ra các nguồn tài
nguyên nào có thể khai thác mà không gây ra suy thoái hoặc
cạn kiệt, hay nguồn tài nguyên nào cần phải cải tạo hoặc khôi
phục lại để cho những mục đích sử dụng truyền thống và các
mục đích khác sau này.
· Duy trì môi trường vùng bờ với chất lượng cao nhất,xác định
và bảo vệ các loài có giá trị,xác định và bảo tồn các sinh cảnh
vùng bờ quan trọng.
· Giải quyết các mâu thuẩn giữa các hoạt động tác động đến
tài nguyên vùng bờ và việc sử dụng không gian.
· Tôn trọng các quy trình tự nhiên,khuyến khích các qui trình
có lợi và ngăn chặn những sự can thiệp có hại.
· Xác định và kiểm soát các hoạt động gây tác hại lên môi
trường vùng bờ.
· Kiểm soát các ô nhiễm từ nguồn,từ dòng chảy tràn và từ việc
tràn hóa chất do sự cố.
· Phục hồi các hệ sinh thái bị phá hủy.
· Khuyến khích các hoạt động có tính kết hợp hơn là những
hoạt động có tính cạnh tranh;

kế hoạch,thực thi,quan trắc và đánh giá.
· Kế hoạch bao gồm sự khởi đầu,nghiên cứu,phân tích,hình
thành các chương trình,thông qua và các thủ tục.
· Sự thực thi đòi hỏi kinh phí và nhân lực và bước đầu phụ
thuộc vào thiết kế dự án và năng lực của các cơ quan thực thi.
· Quan trắc là phần quan trọng của quá trình quản lý và kết
hợp chặt chẽ vào giai đoạn sớm của chương trình.Mục tiêu
của quan trắc là xem xét dự án tiến triển như thế nào,thăm dò
các cơ hội có thể mở rộng,đánh giá tác động và bài học rút ra.
Đánh giá là cấp thiết do nó có khă năng sửa đổi các hoạt động
nếu như kế hoạch quản lý không tạo được những kết quả như
mong đợi. Kết quả của đánh giá làm thay đổi những kế hoạch
và chiến lược quản lý để có thể sửa chữa những sai sót ngay
từ giai đoạn đầu của quá trình quản lý.Theo cách này,quản lý
tổng hợp vùng ven bờ được lập lại với các bài học rút ra từ
những sai sót ngay từ những giai đoạn đầu của chương trình
quản lý các vấn đề bao gồm việc xử dụng tài nguyên (đánh
NHÓM 7 Page 16
GVHD : TS.NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG TIỂU LUẬN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
bắt quá mức, tiềm năng du lịch, phá hủy nơi ở,...),chất lượng
môi trường (ô nhiễm, xói lở vùng bờ) và các liên quan đến các
tổ chức (ví dụ những xung đột trong pháp chế,xung đột giữa
các ngành,việc thi hành luật kém hiệu quả,...)
Các hành động quản lý tạo nên mặt quan trọng nhất của
chương trình quản lý vùng ven bờ do liên quan đến việc áp
dụng các biện pháp trực tiếp hướng tới các thành quả mong
muốn đạt được.Ví dụ như duy trì chức năng thống nhất của hệ
sinh thái, nâng cao chất lượng nước và thay đổi hành vi của
con người.Các hành động bao gồm:
· Sắp xếp các tổ chức và thể chế để làm rõ các quyền hạn và

Tiến trình
- Kế hoạch
- Thực thi
- Quan trắc và đánh giá
Hành động Vấn đề
-Ô nhiễm
-Mất nơi ở
-Khai thác quá mức
Khuyến khích thi hành
pháp luật, thay đổi thái độ
Sắp xếp các thể chế, tổ chức
một số trách nhiệm và quyền hạn khác đối với các lĩnh vực về
biển ở đó (hàng hải, an ninh quốc gia, cá di cư, quan hệ quốc
tế,...).
Cần thấy rõ rằng QLTHVB là một chương trình tổng thể, bao
trùm,nó không thay thế thể chế hiện tại,trong phần lớn trường
hợp, mà cũng cố chúng . Sự tổng hợp các lợi ích đa ngành vào
trong một chương trình là rất khó khăn.
Việc có được một cơ chế điều phối các hoạt động đa ngành,
hướng tới mục tiêu của QLTHVB,chứ không phải một cơ
quan đơn lẻ thực hiện,là một trong những công việc tối cần
thiết của chương trình QLTHVB.
Đối với một chương trình có phạm vi lớn và toàn diện, có thể
xem xét và hình thành một cơ quan mới, chẳng hạn như một
cơ quan lãnh đạo chung, được chính phủ trợ giúp các nguồn
lực, tài chính cần thiết để hoạt động. Trong trường hợp khác,
một cơ quan đang hoạt động cũng có thể trở thành cơ quan
NHÓM 7 Page 18
GVHD : TS.NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG TIỂU LUẬN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
trọng trách thực hiện chương trình, nó được tăng cường để

cung cấp các thông tin, tư vấn kỹ thuật. Sau này, khi triển khai
NHÓM 7 Page 19
GVHD : TS.NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG TIỂU LUẬN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
chương trình,Ủy ban này sẽ xem xét các đề cương cụ thể về
phát triển và quản lý tài nguyên.
Cơ quan QLTHVB cũng cần phải xây dựng nhiệm vụ,đội ngũ,
có nguồn tài chính và ít nhất phải hoàn thành 3 nhiệm vụ sau:
· Điều phối liên ngành về phát triển vùng bờ và các vấn đề
bảo tồn nguồn lợi.
· Đánh giá môi trường và cấp phép cho các hoạt động chính
trong phát triển vùng ven bờ.
· Đạt được sự tuân thủ của các ngành với các điều lệ và quyết
định của QLTHVB.
Có thể có thêm một số nhiệm vụ khác như là xây dựng các
dịch vụ về QLTHVB. Sẽ rất hữu ích nếu trao cho một Bộ cụ
thể triển khai giai đoạn lập kế hoạch và chiến lược và Bộ khác
hiện kế hoạch, bao gồm cả xây dựng và quản lý chương trình.
B : CÁC HỆ SINH THÁI VÙNG VEN BỜ
I. Hệ sinh thái cửa sông
1. Các kiểu cửa sông
Cửa sông (estuary) là thuỷ vực ven bờ tương đối kín, nơi mà
nước ngọt và nước biển gặp nhau và trộn lẫn vào nhau.Các
đặc trưng về địa mạo, lịch sử địa chất và điều kiện khí hậu tạo
nên sự khác biệt về tính chất vật lý và hoá học của các kiểu
cửa sông.
Kiểu tiêu biểu nhất là cửa sông châu thổ ven bờ (coastal plain
estuary).Các cửa sông thuộc kiểu này được hình thành vào
cuối kỷ băng hà muộn,khi nước biển dâng lên ngập các châu
thổ sông ven bờ biển.Kiểu cửa sông thứ hai là vịnh nửa kín
(semi-enclose bay) hoặc đầm phá (lagoon).Ở đây các doi cát

khác nhau giữa các cửa sông.Thành phần cơ học của trầm tích
cũng bị chi phối bởi dạng chảy, nơi dòng chảy mạnh, chất đáy
thô hơn; còn nơi nước tĩnh, chất đáy rất mịn. Các tai biến như
lũ lội, bão lớn có thể làm thay đổi lớn đặc điểm trầm tích và
gây chết hàng loạt sinh vật.Nhiệt độ ở vùng cửa sông thay đổi
lớn hơn so với các thuỷ vực ven bờ lân cận.
Biến thiên của giá trị này mang tính mùa vụ và theo điều kiện
khí quyển. Nhiệt độ còn khác nhau giữa các tầng nước. Bề
mặt có dao động cao hơn do trao đổi với khí quyển.Cửa sông
NHÓM 7 Page 21
GVHD : TS.NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG TIỂU LUẬN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
được đất liền che chắn 3 phía, nên ảnh hưởng tạo sóng của gió
được giảm thiểu và vì vậy chỉ có sóng nhỏ. Hoạt động yếu của
sóng tạo điều kiện cho nền đáy mịn hơn, cho phép thực vật có
rễ phát triển và nền đáy ổn định. Dòng chảy ở cửa sông do
triều và nước sông chi phối. Tốc độ dòng chảy mạnh nhất đạt
được ở giữa luồng. Ở một số vùng nơi cửa sông bị đóng vào
mùa khô, sự vận chuyển nước giảm nghiêm trọng có thể dẫn
đến ứ đọng nước, hàm lượng O2 giảm, tảo nở hoa và cá chết.
Hầu hết các cửa sông đều có lượng nước ngọt chảy ra liên tục
từ nguồn. Một lượng nước ngọt vận chuyển ra cửa sông trộn
lẫn vào nước biển theo mức độ khác nhau, thể tích của lượng
nước này được tải ra khỏi cửa sông hoặc bay hơi để bù cho
thể tích nước tương tự chảy ra từ nguồn.Thời gian cần thiết để
đo khối nước ngọt đã cho được tải ra khỏi cửa sông được gọi
là thời gian chảy. Khoảng thời gian này có thể định lượng
được tính ổn định của hệ cửa sông. Thời gian chảy kéo dài rất
quan trọng cho sự duy trì quần xã sinh vật nổi.Do có số lượng
lớn vật lơ lững trong nước vùng cửa sông, ít nhất là vào một
thời kỳ nào đó trong năm, độ đục của thuỷ vực thường rất cao.

0
.Các loài nước lợ hay còn gọi là các loài
cửa sông điển hình,có chu kỳ sống hoàn toàn ở vùng cửa
sông, sống chủ yếu ở vùng có độ muối trong khoảng từ 5-18%
nhưng không xuất hiện trong nước ngọt hay nước biển thực
sự. Một số giống loài nước lợ có thể hạn chế phân bố về phía
biển không phải vì yếu tố sinh lý mà do các mối quan hệ sinh
học như cạnh tranh hoặc vật dữ.Nhóm động vật nước ngọt
không thể chịu được độ muối trên 5%

và chỉ sống ở phần trên
cửa sông. Ngoài ra, vùng cửa sông còn có nhóm sinh vật quá
độ gồm những loài như cá di cư. Chúng có thể đi qua cửa
sông trên đường đến bãi đẻ ngoài biển hoặc trong sông. Ví dụ
thông thường là cá hồi hoặc cá chình. Một số sinh vật chỉ trải
qua một phần cuộc đời trong cửa sông, thường gặp là giai
đoạn ấu trùng. Số lượng loài động vật cửa sông thường nghèo
hơn các quần cư biển hoặc các vùng nước ngọt lân cận. Đây là
vùng khắc nghiệt mà nhiều sinh vật biển hoặc nước ngọt
không thể chịu đựng được. Các sinh vật cửa sông thực sự chủ
yếu có nguồn gốc biển.Sinh vật biển chịu sự giảm độ muối tốt
hơn sinh vật nước ngọt chịu đựng độ muối tăng,vì vậy sinh
vật cửa sông có ưu thế bởi động vật biển.Tính đa dạng kém
của thành phần loài ở cửa sông được giải thích bởi vài lý do.
kiến phổ biến nhất cho rằng điều kiện môi trường biến động
chỉ cho phép những loài với sự chuyên hoá chức năng sinh lý
NHÓM 7 Page 23
GVHD : TS.NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG TIỂU LUẬN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
đặc biệt để thích nghi. Cách giải thích thứ hai đề cập đến thời
gian địa chất của quá trình hình thành các cửa sông. Sự tồn tại

thành nền đáy giàu vi khuẩn và tảo.Đây là những nguồn thức
NHÓM 7 Page 24
GVHD : TS.NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG TIỂU LUẬN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
ăn quan trọng cho các động vật ăn mùn bã và chất lơ lững.
Nhìn chung,nhờ giàu dinh dưỡng và tương đối ít các vật dữ,
cửa sông trở thành nơi nuôi dưỡng ấu trùng của nhiều loài
động vật mà khi trưởng thành chúng sống ở vùng khác. Đây
cũng là bãi kiếm ăn của nhiều loài động vật di cư.Bên cạnh
đó,nhờ sự bảo vệ tự nhiên của đầm phá và vùng cửa sông mà
nó có giá trị lớn cho sự phát triển cảng và cảng biển, tiếp đến
là các khu công nghiệp và dân cư lân cận.Cửa sông cũng được
xem như là môi trường tiếp nhận các loại rác thải công nghiệp
và sinh hoạt dân cư.Hoạt động đánh bắt thủy sản thường dựa
trên hệ sinh thái cửa sông đầm phá.Cuối cùng thì cửa
sông,đầm phá còn được sử dụng cho mục đích nghỉ ngơi,du
lịch giải trí.
II. Hệ sinh thái vùng triều
Vùng triều là vùng không ngập nước một khoảng thời gian
trong ngày với các yếu tố tự nhiên thay đổi do nước và không
khí chi phối.Quần xã sinh vật thích nghi môi trường này và sự
liên kết giữa sinh vật và môi trường tạo nên hệ sinh thái vùng
triều.
1. Môi trường vùng triều
Thuỷ triều là yếu tố quan trọng nhất tác động lên mọi sinh vật
vùng triều. Thiếu sự hoạt động của thuỷ triều với sự lên xuống
theo chu kỳ của mực nước biển hệ sinh thái này sẽ không tồn
tại và các yếu tố khác hết bị chi phối.Có ba chế độ thuỷ triều
khác nhau gồm nhật triều,bán nhật triều và hỗn hợp triều.Độ
cao thuỷ triều khác nhau từ ngày này sang ngày khác do so
sánh giữa vị trí mặt trời và mặt trăng.Thuỷ triều cùng với thời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status