M U
1. Tớnh cp thit ca ti
Nuôi con nuôi là hiện tợng xã hội phát sinh từ lâu ở nhiều nớc trên thế
giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Theo pháp luật của Vit Nam hiện nay
thì:
Nuôi con nuôi đợc coi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con
giữa ngời nhận con nuôi và ngời đợc nhận làm con nuôi, bảo đảm cho
ngời đợc nhận làm con nuôi đợc trông nom, nuôi dỡng, chăm sóc, giáo
dục phù hợp với đạo đức xã hội. Giữa ngời nhận con nuôi và ngời đợc
nhận làm con nuôi có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con
theo quy định của pháp luật [34].
Vn cho v nhn con nuụi Vit Nam cú xu hng ngy cng tng
v nú khụng ch nm trong phm vi lónh th ca Vit Nam, m cũn vt ra
ngoi phm vi lónh th Quc gia. Vit Nam, ch nh nuụi con nuụi bao
gm ch nh nuụi con nuụi gia cụng dõn Vit Nam vi nhau trong nc
(hay cũn gi l nuụi con nuụi trong nc) v ch nh nuụi con nuụi cú yu
t nc ngoi (Quan h nuụi con nuụi cú yu t nc ngoi c hiu l quan
h nuụi con nuụi gia cụng dõn Vit Nam vi ngi nc ngoi, gia ngi
nc ngoi thng trỳ ti Vit Nam vi nhau hoc gia cụng dõn Vit Nam
vi nhau m mt bờn hoc c hai bờn nh c nc ngoi. Ngoi ra, vic
nuụi con nuụi gia ngi nc ngoi vi nhau m bờn c nhn lm con
nuụi l tr em khụng quc tch thng trỳ ti Vit Nam cng c hiu l
quan h nuụi con nuụi cú yu t nc ngoi).
Cụng c quc t v quyn tr em m Vit Nam ó phờ chun ngy 20
thỏng 02 nm 1990 cú ghi :
Cỏc quc gia thnh viờn m cụng nhn hoc cho phộp ch
nhn lm con nuụi phi bo m rng nhng li ớch tt nht ca tr
em l mi quan tõm cao nht v cỏc quc gia phi:
1
…công nhận rằng việc cho trẻ em ra nước ngoài làm con
nuôi có thể được coi như một biện pháp thay thế của việc chăm sóc
trong quan hệ nuôi con nuôi này không được pháp luật bảo vệ như quyền
hưởng di sản thừa kế…; Lợi dụng quy định về nuôi nuôi con nuôi để thực
hiện những hành vi bắt cóc, mua bán trẻ em hoặc nhằm mục đích trục lợi
khác, không phù hợp với mục đích của việc nuôi con nuôi (cho con nuôi để
được xuất cảnh ra nước ngoài, cho làm con nuôi của thương binh, người có
công với cách mạng để được hưởng chế độ ưu tiên, đãi ngộ của nhà nước đối
với những người này, cho con nuôi để sinh con thứ ba mà không bị xử lý vi
phạm nghĩa vụ kế hoạch hoá gia đình...; Việc tìm cho trẻ một gia đình thích
hợp ở trong nước chưa được chú trọng, thậm trí ở một số nơi còn khó khăn.
Có cơ sở nuôi dưỡng còn giữ trẻ lại để giới thiệu cho người nước ngoài làm
con nuôi, mà không giới thiệu cho người Việt Nam trong nước nhận các em
làm con nuôi khi họ có nguyện vọng…
Căn nguyên của những tồn tại trên là việc thực hiện pháp luật về nuôi
con nuôi đã bị tác động bởi nhiều yếu tố như thể chế, năng lực cán bộ Tư pháp hộ
tịch, ý thức pháp luật của người dân, do tác động của phong tục tập quán...
Việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá hoạt động thực hiện pháp luật về
nuôi con nuôi trong nước là vấn đề có ý nghĩa thiết thực, vừa làm rõ những
ưu điểm, hạn chế, vừa đề ra những giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn pháp
luật về nuôi con nuôi trong nước, đảm bảo việc cam kết của Việt Nam khi gia
nhập Công ước quốc tế về quyền trẻ em cũng như việc thực hiện chủ trương
chính sách của Đảng và nhà nước về việc thực hiện nguyên tắc ưu tiên nuôi
con nuôi trong nước, nuôi con nuôi nước ngoài chỉ là biện pháp thay thế cuối
cùng khi không thể tìm được mái ấm gia đình cho trẻ em ở trong nước. Do
3
đó, việc lựa chọn và nghiên cứu đề tài Thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi
trong nước ở Việt Nam hiện nay làm luận văn thạc sĩ sẽ đáp ứng được phần
nào những đòi hỏi cấp bách nói trên cả về phương diện lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền, việc thực hiện pháp
luật là một nội dung quan trọng của lý luận chung về nhà nước và pháp luật,
nuôi trong nước ở Việt Nam hiện nay làm luận văn thạc sĩ là cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:
- Mục đích: Trên cơ sở phân tích lý luận và đánh giá thực trạng việc
thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi trong nước, luận văn đề xuất những giải
pháp nhằm thực hiện tốt hơn pháp luật về nuôi con nuôi trong nước ở Việt
Nam hiện nay.
- Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
+ Nghiên cứu, phân tích làm rõ cơ sở lý luận thực hiện pháp luật về
nuôi con nuôi trong nước.
+ Nghiên cứu thực trạng việc thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi
trong nước trong thời gian qua.
+ Đưa ra những giải pháp để thực hiện có hiệu quả pháp luật về nuôi
con nuôi trong nước.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu cả về lý luận và
thực tiễn việc thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi trong nước ở Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Thực tiễn thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi
trong nước từ năm 2001 đến năm 2008.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác Lê nin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước Việt
5
Nam về nhà nước và pháp luật; thực hiện pháp luật nói chung và thực hiện
pháp luật về nuôi con nuôi trong nước nói riêng.
- Về phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp của
triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử mác xít, trong đó chủ yếu sử
dụng phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp phân tích,
tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ thể. Luận văn cũng sử dụng một số phương
pháp khác của khoa học thống kê, phân tích tài liệu thứ cấp.
6. Đóng góp khoa học mới của luận văn:
mang tính nhân đạo sâu sắc và được pháp luật của hầu hết các nước điều
chỉnh, nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của con người, thể hiện mối quan
hệ gắn bó của con người với nhau trên cơ sở những lợi ích chung.
Với tư cách là một quan hệ xã hội, nuôi con nuôi được E.A.
Weinstein định nghĩa như sau trong từ điển bách khoa toàn thư về
các môn học xã hội:
Theo nghĩa rộng và không mang tính pháp lý thì nuôi con
nuôi được định nghĩa như là một thực tiễn xã hội được thể chế hoá,
theo đó một cá nhân thuộc về một gia đình hoặc một nhóm mang
tính chất gia đình do sinh ra tiếp nhận những liên hệ mới mang tính
chất gia đình và những liên hệ mới này được xã hội coi như ngang
bằng với những mối liên hệ ruột thịt và thay thế một phần hoặc toàn
bộ những mối liên hệ đó. (Theo E.A.Weinstein, “Adoption”, in
International Encyclopedia of the Social Sciences, New York, 1968,
P97) [25, tr.17-18].
Theo định nghĩa trên, việc nuôi con nuôi được hiểu là việc một cá nhân
được tiếp nhận vào một gia đình và tạo ra những liên hệ mới “mang tính chất
7
gia đình”, có thể thay thế một phần hoặc toàn bộ những mối liên hệ ruột thịt.
Những quan hệ mang tính chất gia đình này được xã hội thừa nhận và có giá
trị như quan hệ ruột thịt. Vì lẽ đó, nhận nuôi con nuôi làm hình thành quan hệ
cha mẹ và con giữa hai bên như giữa cha mẹ đẻ và con đẻ.
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm nuôi con nuôi được xem xét ở ba khía
cạnh: là một sự kiện pháp lý, là một quan hệ pháp luật hoặc là một chế định
pháp lý.
*Khái niệm nuôi con nuôi với ý nghĩa là một sự kiện pháp lý
Sự khác nhau giữa quan hệ cha mẹ và con theo huyết thống và quan hệ
cha mẹ nuôi và con nuôi là ở chỗ: quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con đẻ được
hình thành một cách tự nhiên trên cơ sở huyết thống qua sự kiện mang thai và
sinh con, còn quan hệ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi là một quan hệ ý chí,
quan hệ cha mẹ và con giữa ngời nhận con nuôi và ngời đợc nhận làm con nuôi,
bảo đảm cho ngời đợc nhận làm con nuôi đợc trông nom, nuôi dỡng, chăm sóc,
giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội [34].
Vit Nam, ch nh nuụi con nuụi bao gm vic nuụi con nuụi gia
cụng dõn Vit Nam vi nhau trong nc (hay cũn gi l nuụi con nuụi trong
nc) v vic nuụi con nuụi cú yu t nc ngoi (Quan h nuụi con nuụi cú
yu t nc ngoi c hiu l quan h nuụi con nuụi gia cụng dõn Vit
Nam vi ngi nc ngoi, gia ngi nc ngoi thng trỳ ti Vit Nam
vi nhau hoc gia cụng dõn Vit Nam vi nhau m mt bờn hoc c hai bờn
nh c nc ngoi. Ngoi ra, vic nuụi con nuụi gia ngi nc ngoi vi
nhau m bờn c nhn lm con nuụi l tr em khụng quc tch thng trỳ ti
Vit Nam cng c hiu l quan h nuụi con nuụi cú yu t nc ngoi).
Nh vy, cú th nh ngha Nuụi con nuụi trong nc l vic xỏc lp
quan h cha m v con gia ngi nhn con nuụi v ngi c nhn lm con
9
nuụi m c hai bờn u mang quc tch Vit Nam cựng c trỳ trong nc,
bảo đảm cho ngời đợc nhận làm con nuôi đợc trông nom, nuôi dỡng, chăm
sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội .
1.1.1.2. Ni dung c bn ca phỏp lut v nuụi con nuụi trong nc
Cho đến nay, Nhà nớc ta đã có khá đầy đủ cơ sở pháp lý cho việc điều
chỉnh quan hệ vũ nuôi con nuôi trong nớc. Việc nuôi con nuôi đợc thực hiện
theo các quy định vũ quyền nuôi con nuôi và đợc nhận làm con nuôi, quyền
thoó kừ của con nuôi, mục đích nuôi con nuôi, điều kiện, trình tự, thủ tục vũ
nuôi con nuôi, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi và con nuôi, hệ quả của việc
nuôi con nuôi, chờm dứt việc nuôi con nuôi, xử lý vi phạm trong lĩnh vực nuôi
con nuôi
Quyền nuôi con nuôi, quyền thoó kừ của con nuôi trong nớc đợc quy
định trong Bộ Luật dân sự năm 2005(BLDS năm 2005).
Mục đích, điều kiện nuôi con nuôi, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi
và con nuôi, cũng nh các hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi, chờm dứt việc
Th nht, mc ớch ca vic nhn con nuụi
Mc ớch ca vic nuụi con nuụi đợc quy định trong Luật HN&GĐ
năm 2000 l m bo cho ngi c nhn lm con nuụi c trụng nom,
nuụi dng, chm súc, giỏo dc phự hp vi o c xó hi. Lut HN&G
nm 2000 cng quy nh Nh nc v xó hi khuyn khớch vic nhn tr m
cụi, tr b b ri, tr tn tt lm con nuụi. bo v quyn li ca ngi
c nhn lm con nuụi, Lut ny quy nh rừ Nghiờm cm li dng vic
nuụi con nuụi búc lt sc lao ng, xõm phm tỡnh dc, mua bỏn tr em
hoc vỡ mc ớch trc li khỏc.
Th hai, iu kin nuụi con nuụi
iu kin i vi ngi nhn con nuụi v iu kin i vi ngi c
nhn lm con nuụi c quy nh c th trong Lut HN&G nm 2000 nh sau:
11
*Các điều kiện đối với người nhận con nuôi
Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật;
Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;
Có tư cách đạo đức tốt;
Có điều kiện thực tế bảo đảm việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục con nuôi;
Năm là, không phải là người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ
đối với con chưa thành niên hoặc bị kết án mà chưa được xoá án tích về một
trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của
người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ chồng, con cháu,
người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa
thành niên phạm pháp; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em; các tội xâm
phạm tình dục đối với trẻ em; có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những
việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Một quy định nữa liên quan đến người nhận nuôi con nuôi là một người
có thể nhận một hoặc nhiều người làm con nuôi. Người nhận con nuôi có thể
là người độc thân hoặc có vợ, có chồng (trường hợp vợ chồng cùng nhận nuôi
sẽ không được pháp luật bảo vệ.
Thứ sáu, về chấm dứt việc nuôi con nuôi
Luật HN&GĐ năm 2000 quy định cụ thể các trường hợp chấm dứt việc
nuôi con nuôi. Theo đó, quan hệ nuôi con nuôi được chấm dứt khi có những
căn cứ sau:
Cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên, tự nguyện chấm dứt quan hệ
nuôi con nuôi;
Con nuôi bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức
khoẻ, nhân phẩm, danh dự của cha, mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha, mẹ nuôi
hoặc có hành vi phá tán tài sản của cha, mẹ nuôi;
13
Cha mẹ nuôi đã lợi dụng việc nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động,
xâm phạm tình dục, mua bán trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác. Cha mẹ
nuôi là người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa
thành niên hoặc bị kết án mà chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý
xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược
đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ chồng, con cháu, người có công nuôi
dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm
pháp; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em; các tội xâm phạm tình dục đối
với trẻ em; có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật,
trái đạo đức xã hội.
Cũng theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2000, thì cơ quan duy nhất
có quyền ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi là Toà án nhân dân (kể cả
trong trường hợp cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên tự nguyện chấm dứt
quan hệ nuôi con nuôi). Khi việc nuôi con nuôi đã được chấm dứt bằng một
quyết định của Toà án, thì các quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ nuôi và con
nuôi cũng chấm dứt và nếu con nuôi là người chưa thành niên, hoặc đã thành
niên, nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao
động và không có tài sản để tự nuôi mình, thì Toà án ra quyết định giao người
đó cho cha mẹ đẻ hoặc cá nhân, tổ chức chăm nom, nuôi dưỡng; trường hợp
hệ nuôi con nuôi khác). Tuy nhiên, về điều kiện nuôi con nuôi vẫn phải thực
hiện theo quy định chung của pháp luật.
Thứ tư, để công nhận quan hệ nuôi con nuôi thực tế của đồng bào các
dân tộc thiểu số, Nghị định số 32/2002/NĐ-CP quy định đối với các trường
hợp nhận nuôi con nuôi trước ngày 01 tháng 01 năm 2001 như sau: Những
trường hợp nhận nuôi con nuôi được xác lập trước ngày 01 tháng 01 năm
2001, ngày Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực pháp luật, mà chưa đăng ký
15
tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng có đủ điều kiện theo quy định của
Luật HN&GĐ năm 2000 và trên thực tế, quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con
nuôi đã được xác lập, các bên đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của
mình, thì được pháp luật công nhận và được Nhà nước khuyến khích và tạo
điều kiện thuận lợi cho việc đăng ký nuôi con nuôi. Nếu có tranh chấp liên
quan đến việc xác định quan hệ giữa cha, mẹ và con giữa người nhận nuôi
con nuôi và người được nhận làm con nuôi thì do Toà án giải quyết.
- Những quy định về nuôi con nuôi trong nước trong Nghị định số
158/2005/NĐ-CP
Nghị định số 158/2005/NĐ-CP được xây dựng theo hướng đơn giản
hoá thủ tục hành chính, tạo thuận lợi tối đa cho người dân khi có yêu cầu đăng
ký hộ tịch; vấn đề đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước được quy định cụ
thể như sau:
Thứ nhất, về thẩm quyền đăng ký việc nuôi con nuôi
Nhằm giám sát việc trông nom, nuôi dưỡng của cha, mẹ nuôi đối với
con nuôi, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định thẩm quyền đăng ký việc
nuôi con nuôi là Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người nhận con nuôi.
Trong trường hợp trẻ bị bỏ rơi được nhận làm con nuôi, thì Uỷ ban nhân dân cấp
xã, nơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ bị bỏ rơi đăng ký việc nuôi con nuôi;
nếu trẻ em đó đã được đưa vào cơ sở nuôi dưỡng, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã,
nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng đăng ký việc nuôi con nuôi.
Thứ hai, về hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi
Mục đích nhận con nuôi.
Thứ tư, về ghi tên của cha, mẹ nuôi trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký
khai sinh của con nuôi
17
Theo quy định tại Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, thì cha mẹ nuôi được
ghi tên mình với tư cách như cha mẹ đẻ trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký
khai sinh của con nuôi trong những trường hợp sau đây:
Con nuôi là trẻ bị bỏ rơi mà phần khai về cha, mẹ trong Giấy khai
sinh và Sổ đăng ký khai sinh còn để trống;
Giữa cha, mẹ đẻ và cha, mẹ nuôi có sự thoả thuận về việc thay đổi
phần khai về cha, mẹ từ cha, mẹ đẻ sang cha, mẹ nuôi trong Giấy khai sinh và
Sổ đăng ký khai sinh của con nuôi (trường hợp này Uỷ ban nhân dân cấp xã,
nơi đã đăng ký khai sinh cho con nuôi đăng ký khai sinh lại cho con nuôi và
phải được sự đồng ý của con nuôi, nếu con nuôi từ đủ 9 tuổi trở lên).
Thông tư số 01/2008/TT-BTP hướng dẫn rõ thêm về việc không giải
quyết yêu cầu thay đổi phần khai về cha, mẹ đẻ sang khai về cha, mẹ nuôi
trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh của con nuôi theo quy định tại
Khoản 2 Điều 28 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP trong những trường hợp sau:
Thay đổi phần khai về một bên cha đẻ hoặc mẹ đẻ sang khai về cha
nuôi hoặc mẹ nuôi mà giữ nguyên phần khai về mẹ đẻ hoặc cha đẻ còn lại;
Thay đổi phần khai về cha, mẹ đẻ sang khai về cha, mẹ nuôi trong
trường hợp một bên hoặc cả hai bên cha, mẹ đẻ đã chết.
Thứ năm, về lệ phí đăng ký việc nuôi con nuôi
Ngoài việc miễn lệ phí đăng ký việc nuôi con nuôi đối với đồng bào
dân tộc theo Nghị định số 32/2002/NĐ-CP, mức lệ phí đối với việc đăng ký
nuôi con nuôi được quy định tại Thông tư số 97/2006/TT-BTC ngày
16/10/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền
quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là
không quá 20.000đồng. Mức lệ phí đăng ký việc nuôi con nuôi do Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh quyết định, nhưng không được quá mức quy định nêu trên.
Thc hin phỏp lut cú th l mt x s cú tớnh ch ng, c tin
hnh bng mt thao tỏc nht nh nhng cng cú th l mt x s cú tớnh th
ng, tc l khụng tin hnh vt x s b phỏp lut cm[46, tr.758].
Xét ở phơng diện lý luận, thực hiện pháp luật ở nớc ta vộn còn các quan
điểm nh sau:
Theo quan điểm của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội: Thực hiện pháp
luật là hiện tợng, quá trình có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở
thành hoạt động thực từ của các chủ thú pháp luật [14, tr. 349].
Theo quan điểm của Trờng Đại học Luật Hà Nội Thực hiện pháp luật là
hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hoá các quy định của pháp luật, làm cho
chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực từ hợp pháp của các chủ
thú pháp luật[15, tr. 463].
Xuất phát từ vai trò của pháp luật đối với đời sống kinh từ và xã hội, nên
thực hiện pháp luật đóng một vai trò quan trọng, bởi pháp luật dù có tốt, có u
việt đến đâu đi chăng nữa mà không đợc thực thi trên thực từ, không đi vào đời
sống nhân dân thì pháp luật đó cũng chỉ là một mớ giấy lộn, là pháp luật
treo mà thôi (Lê Nin); Vai trò của pháp luật chỉ phát huy đợc trên thực từ khi
pháp luật đợc mọi chủ thú tuân thủ, chấp hành, và sử dụng có hiệu quả, cũng
nh các chủ thú đợc nhà nớc trao quyền, các cơ quan Nhà nớc có thốm quyền áp
dụng đúng đắn pháp luật. Nói cách khác, pháp luật đó phải đợc thực hiện
nghiêm chỉnh trong thực từ cuộc sống.
Tóm lại, dù thực hiện pháp luật đợc thực hiện dới các hình thức khác
nhau nhng cuối cùng nó đều là những hoạt động có mục đích, có định hớng để
đa các quy phạm pháp luật vào cuộc sống. Với cách tiếp cận này, thực hiện
pháp luật đợc hiểu nh sau: Thc hin phỏp lut l quỏ trỡnh hot ng cú mc
ớch lm cho nhng quy nh ca phỏp lut tr thnh hin thc trong cuc
sng, to ra c s phỏp lý cho hot ng thc t ca cỏc ch th phỏp lut"
[23, tr.270].
20
Thực hiện pháp luật nói chung và thực hiện pháp luật vũ nuôi con nuôi
Nhà nước (pháp nhân đặc biệt) ban hành các văn bản pháp luật có quy
phạm điều chỉnh các quan hệ về nuôi con nuôi trong nước như: Quyền được
nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi; quyền thừa kế giữa cha mẹ
nuôi và con nuôi, mục đích của việc nuôi con nuôi, điều kiện của người nhận
nuôi con nuôi và của người được nhận làm con nuôi, thẩm quyền, trình tự, thủ
tục đăng ký việc nuôi con nuôi, hệ quả của việc nuôi con nuôi. Đồng thời quy
định những chế tài xử lý đối với những trường hợp vi phạm pháp luật về nuôi
con nuôi, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành
chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể như sau:
+ BLDS năm 2005: Quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận
làm con nuôi; Quyền thừa kế giữa cha mẹ nuôi và con nuôi...
+ Luật HN&GĐ năm 2000: Mục đích của việc nhận nuôi con nuôi,
điều kiện của người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi,
quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, chấm dứt việc nuôi con
nuôi, hậu quả pháp lý của việc chấm dứt nuôi con nuôi...
+ Luật Hành chính: Việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực nuôi
con nuôi trong nước được quy định tại Nghị định số 76/2006/NĐ-CP nay
được thay thế bởi Nghị định số 60/2009/NĐ-CP. Trong đó quy định những
hành vi vi phạm quy định về nuôi con nuôi của cá nhân như: hành vi cho hoặc
nhận con nuôi mà không làm thủ tục đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền; hành vi thực hiện việc cho, nhận con nuôi khi cơ quan nhà nước có
thẩm quyền đã có văn bản không chấp nhận việc cho hoặc nhận con nuôi;
hành vi khai báo gian dối để đăng ký việc cho, nhận con nuôi; tự ý tẩy xoá
hoặc sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ để làm thủ tục đăng ký cho, nhận
con nuôi; sử dụng giấy tờ giả mạo để làm thủ tục đăng ký cho, nhận con nuôi;
dụ dỗ, mua chuộc, ép buộc, đe doạ để có được sự đồng ý của người có quyền
22
đồng ý cho trẻ em làm con nuôi; lợi dụng việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi nhằm
mục đích vụ lợi; làm dịch vụ môi giới cho hoặc nhận con nuôi trái pháp luật.
+ Luật Hình sự: Bộ luật Hình sự có quy định tội danh và hình phạt
từ đủ chín tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó.
Xác định dân tộc của con nuôi: Theo quy định tại Điều 28 BLDS năm
2005, Điều 22 Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ năm 2000, dân tộc của con nuôi được xác
định theo dân tộc của cha mẹ đẻ. Trong trường hợp không xác định được cha,
mẹ đẻ của người con nuôi, thì dân tộc của con nuôi được xác định theo dân
tộc của cha, mẹ nuôi; nếu cha mẹ nuôi thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc
của con nuôi được xác định theo dân tộc của cha nuôi hoặc của mẹ nuôi theo
tập quán hoặc theo thoả thuận của cha, mẹ nuôi.
Cha mẹ nuôi và con nuôi, giữa những người đã từng có quan hệ cha mẹ
nuôi với con nuôi không được kết hôn với nhau (khoản 4 Điều 10 Luật
HN&GĐ năm 2000). Quy định này phù hợp với chuẩn mực đạo đức của xã
hội và truyền thống của gia đình Việt Nam.
*Quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa cha mẹ nuôi và con nuôi
Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ về tài
sản của cha mẹ và con. Theo quy định tại Điều 678 BLDS năm 2005 thì “Con
nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau...”
+ Người nhận nuôi con nuôi và người cho con nuôi: Hai chủ thể này
phải có sự thoả thuận về việc cho và nhận nuôi con nuôi, thay đổi phần khai
về cha mẹ đẻ sang cha mẹ nuôi trong Giấy khai sinh của con nuôi.
+ Cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi với người được nhận
làm con nuôi:
24
BLDS năm 2005 quy định: Trong gia đình cha mẹ đẻ, con nuôi “...còn
được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 676 và Điều 677 của Bộ Luật
này”. Theo quy định tại Điều 676 BLDS năm 2005 về những người thừa kế
theo luật thì, người đã cho làm con nuôi vẫn được thừa kế theo luật của những
người họ hàng huyết thống. Ngược lại, những người họ hàng huyết thống của
người đã làm con nuôi cũng được thừa kế tài sản của người con nuôi đó. Theo
Điều 677 BLDS năm 2005, con nuôi vẫn có quyền thừa kế thế vị đối với phần