Bảo vệ quyền con người trong pháp luật trách nhiệm bồi thường nhà nước ở Việt Nam - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ THỊ BÌNH TUYẾT
HO¹T §éNG GI¸M S¸T
CñA HéI §åNG NH¢N D¢N CÊP HUYÖN -
QUA THùC TIÔN TØNH THANH HãA

Chuyên ngành: Lí luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS. TS. NGUYỄN ĐĂNG DUNG
HÀ NỘI – 2014LỜI CAM ĐOAN

giám sát 28
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 30
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI
ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN Ở TỈNH THANH HÓA
TỪ ĐẦU NHIỆM KỲ 2011- 2016 ĐẾN NAY 31
2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội và cơ cấu
tổ chức của hội đồng nhân dân cấp huyện ở tỉnh Thanh Hoá 31
2.1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội tỉnh
Thanh Hoá 31
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của hội đồng nhân dân cấp huyện ở Thanh Hoá 34 2.2. Hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân cấp huyện ở tỉnh
Thanh Hóa từ đầu nhiệm kỳ 2011- 2016 đến nay 36
2.2.1. Hoạt động xem xét báo cáo của cơ quan Nhà nƣớc 36
2.2.2. Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn 40
2.2.3. Hoạt động giám sát thông qua hình thức bỏ phiếu tín nhiệm đối
với ngƣời giữ chức vụ do hội đồng nhân dân bầu 43
2.2.4. Xem xét báo cáo của Đoàn giám sát 44
2.2.5. Xem xét văn bản quy phạm pháp luật 56
2.5.6. Giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân 57
2.2.7. Hoạt động giám sát của các đại biểu hội đồng nhân dân cấp
huyện ở tỉnh Thanh Hoá 58
2.3. Đánh giá chung về hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân
cấp huyện ở tỉnh Thanh Hóa từ đầu nhiệm kỳ 2011- 2016 đến
nay; nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế 60
2.3.1. Ƣu điểm 60
2.3.2. Hạn chế 63
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 73
Chương 3: GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

HĐND: Hội đồng nhân dân
MTTQ: Mặt trận Tổ quốc
QPPL: Quy phạm pháp luật
TAND: Tòa án nhân dân
UBND: Ủy ban nhân dân
VKSND: Viện kiểm sát nhân dân

1
MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nƣớc pháp quyền Việt
Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nƣớc ta hiện
nay, vấn đề tiếp tục kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động
của bộ máy Nhà nƣớc nói chung và hệ thống chính quyền địa phƣơng nói
riêng trong đó có Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp là yêu cầu khách quan
và tất yếu. Là cơ quan quyền lực nhà nƣớc ở địa phƣơng, đại diện cho ý chí,
nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng hoạt động của HĐND
các cấp có thực quyền là một yêu cầu cấp bách hiện nay. Với hai chức năng
cơ bản: chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của địa phƣơng và
chức năng giám sát việc thực hiện các chủ trƣơng, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nƣớc và Nghị quyết của HĐND thì chức năng giám sát có vị trí,

Cấp huyện là cấp trung gian giữa chính quyền tỉnh với chính quyền cấp
xã. Trong tổ chức bộ máy chính quyền địa phƣơng ở nƣớc ta, giai đoạn từ
năm 1945 đến 1962, cấp kỳ và cấp huyện không có HĐND. Từ năm 1962 đến
nay, HĐND đƣợc tổ chức ở tất cả các cấp chính quyền địa phƣơng với xu
hƣớng đề cao vị trí chính trị, pháp lý của HĐND. Tuy nhiên, tổ chức cũng
nhƣ hoạt động của HĐND các cấp vẫn còn là một trong những khâu còn hạn
chế trong bộ máy nhà nƣớc. Do vậy có ý kiến không cần thiết phải có HĐND
vì hoạt động của nó hình thức, làm cho bộ máy nhà nƣớc thêm cồng kềnh, tốn
kém và thời gian qua chúng ta đã thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận,
phƣờng tại 67 huyện, 32 quận, 483 phƣờng của 10 tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ƣơng. Sau một thời gian thực hiện thí điểm tại các địa phƣơng trên, hoạt
động của bộ máy chính quyền và các hoạt động kinh tế - xã hội ở địa phƣơng
nơi làm thí điểm đạt đƣợc một số kết quả nhất định nhƣng cũng nảy sinh
những hạn chế, đặc biệt là trong công tác giám sát. 3
Điều 111 Hiến pháp 2013 quy định:
1. Chính quyền địa phƣơng đƣợc tổ chức ở các đơn vị hành
chính của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Cấp chính quyền địa phƣơng gồm có Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân đƣợc tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô
thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định [33].
Vấn đề đặt ra hiện nay cho chúng ta là phải tăng cƣờng củng cố, kiện
toàn HĐND, nhất là HĐND cấp huyện để HĐND hoạt động thực chất hơn và
ngày càng có hiệu lực, hiệu quả tƣơng xứng với vị trí, vai trò của HĐND nhƣ
Hiến pháp đã khẳng định.
Trong thực tiễn hoạt động nói chung, hoạt động giám sát nói riêng của
HĐND cấp huyện thời gian qua vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, mang tính
hình thức, cách thức tổ chức giám sát chƣa khoa học, năng lực giám sát vẫn

động giám sát của HĐND tỉnh Lạng Sơn hiện nay” (năm 2011);
Đề tài nghiên cứu khoa học của Thƣờng trực HĐND tỉnh Thanh Hóa
“Thực trạng và những giải pháp nâng cao chất lượng giám sát của Thường
trực HĐND các cấp ở Thanh Hóa” (năm 2007)
Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Hải Long “Hoàn thiện
pháp luật về hoạt động giám sát của HĐND” (năm 2012)
Các đề tài dƣới nhiều góc độ khác nhau đã đề cập đến các vấn đề về lý
luận và thực tiễn trong hoạt động giám sát của HĐND, nhƣ: chủ thể giám sát,
đối tƣợng giám sát, hình thức giám sát, nhƣng chủ yếu liên quan đến hoạt
động giám sát của HĐND cấp tỉnh hoặc Thƣờng trực HĐND các cấp.
Cho đến nay vẫn chƣa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và đầy đủ
về hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa với
tính chất là một đề tài độc lập, đi sâu nghiên cứu thực tiễn, để đánh giá mặt
đƣợc, mặt chƣa đƣợc, qua đó đƣa ra đƣợc những giải pháp có giá trị thực tiễn
nhằm đổi mới hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện ở tỉnh Thanh Hóa. 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tƣợng nghiên cứu của Luận văn là những vấn đề lý luận về hoạt
động giám sát của HĐND cấp huyện theo Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013,
Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, Quy chế hoạt động của HĐND và
đƣợc giới hạn trong thực tiễn hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện ở tỉnh
Thanh Hóa từ đầu nhiệm kỳ 2011- 2016 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin,
tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về HĐND, chức
năng giám sát của HĐND.
Luận văn sử dụng phƣơng pháp luận của triết học Mác- Lênin kết hợp với
các phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, khảo sát thực tế

giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phƣơng và
việc thực hiện nghị quyết của HĐND [33].
HĐND là cơ quan nhà nƣớc mà tổ chức và hoạt động vừa mang tính
chất cơ quan quyền lực nhà nƣớc, vừa mang tính đại diện cho cộng đồng dân
cƣ nơi HĐND đƣợc bầu ra. HĐND đảm nhiệm vai trò là cơ quan đại diện cho
nhân dân ở địa phƣơng, tham gia vào hoạt động quản lý Nhà nƣớc, quyết định
các vấn đề quan trọng ở địa phƣơng. HĐND cũng thay mặt nhân dân kiểm
soát hoạt động của các cơ quan Nhà nƣớc nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của nhân dân.
Với vị trí, tính chất là cơ quan quyền lực nhà nƣớc ở địa phƣơng, cơ
quan đại diện cho nhân dân địa phƣơng, HĐND cấp huyện có các chức năng:
chức năng quyết định và chức năng giám sát.
Điều 1 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định:
HĐND thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thƣờng
trực HĐND, Ủy ban nhân dân (UBND), Tòa án nhân dân (TAND), 7
Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) cùng cấp; giám sát việc tuân thủ
pháp luật của cơ quan nhà nƣớc, tổ chức y tế, tổ chức xã hội, đơn vị
vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phƣơng [31].
Để nhận thức đúng hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện, trƣớc hết
cần làm rõ khái niệm "giám sát". Trong các công trình nghiên cứu một số tài
liệu, thuật ngữ "giám sát" đƣợc hiểu theo nhiều cách, từ nhiều góc độ khác nhau:
- Có quan niệm cho rằng "giám sát" là: “Sự theo dõi, xem xét, làm đúng
hoặc sai những điều đã quy định” [18, tr.305].
- Quan niệm khác coi "giám sát là việc theo dõi và kiểm tra xem có thực
hiện đúng những điều quy định không" [19, tr.374].
- Có ý kiến lại cho rằng:
Giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ

lực. Chủ thể có những quyền và nghĩa vụ gì khi thực hiện hoạt động giám
sát và ngƣợc lại.
- Giám sát luôn thể hiện tính chủ động trong hoạt động có mục đích
đƣợc xác định trƣớc của chủ thể thực hiện hoạt động giám sát và hoạt động
giám sát đƣợc thực hiện thƣờng xuyên theo một chƣơng trình kế hoạch
nhất định.
Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1983 đã chính thức sử dụng khái
niệm "giám sát" để qui định chức năng giám sát của HĐND; Luật Tổ chức
HĐND và UBND năm 1994, chức năng giám sát của HĐND đƣợc qui định
đầy đủ, cụ thể hơn; Đặc biệt Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, chức
năng giám sát của HĐND đƣợc cụ thể hóa chi tiết tại Chƣơng III, nhƣng thuật
ngữ "giám sát" không đƣợc pháp luật giải thích chính thức. Luật hoạt động
giám sát của Quốc hội năm 2003, lần đầu tiên chính thức giải thích "giám
sát " là gì. Khoản 1 Điều 2 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội quy định: 9
Giám sát là việc Quốc hội, Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội, Hội
đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại
biểu Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ
chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật,
nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thƣờng
vụ Quốc hội [30, Điều 2, Khoản 1].
Nội dung giải thích "giám sát" nhƣ trên xác định những vấn đề quan
trọng nhất của giám sát là: Chủ thể thực hiện giám sát (Quốc hội, các cơ quan,
tổ chức của Quốc hội và các đại biểu Quốc hội); đối tƣợng chịu sự giám sát
của Quốc hội (các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát của Quốc hội);
cách thức tiến hành giám sát ("theo dõi, xem xét và đánh giá") và nội dung
giám sát của Quốc hội (việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc
hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội).

nhân dân địa phƣơng, nhằm tăng cƣờng kỷ luật, kỷ cƣơng phép nƣớc, khắc
phục tính cục bộ địa phƣơng, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái đạo đức,
tham nhũng, quan liêu, sách nhiễu nhân dân trong bộ máy nhà nƣớc. Đây
chính là điều kiện bảo đảm vững chắc cho quyền lực của nhân dân đƣợc thực
hiện trong thực tế, là nhằm thực hiện “chế ước quyền lực Nhà nước”.
Hoạt động giám sát của HĐND bảo đảm cho Hiến pháp, pháp luật đƣợc
tuân thủ thống nhất, nghiêm chỉnh trên phạm vi địa phƣơng và bảo đảm việc
thực hiện các nghị quyết của HĐND.
Điều 3 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 qui định, việc bảo
đảm cho Hiến pháp, pháp luật đƣợc tuân thủ thống nhất, nghiêm chỉnh trên
phạm vi địa phƣơng là nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phƣơng,
trong đó chức năng giám sát của HĐND giữ một vai trò không thể thiếu.
Theo quy định của Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 thì đối
tƣợng, phạm vi, nội dung giám sát của HĐND rất rộng. HĐND có quyền
giám sát hoạt động của tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân; giám sát mọi lĩnh
vực của đời sống kinh tế, xã hội; giám sát tất cả các khâu từ xây dựng pháp 11
luật, tổ chức thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật ở địa phƣơng. Đây
chính là cơ sở pháp lý thuận lợi nhất để HĐND phát huy vai trò của mình.
Qua hoạt động giám sát HĐND phát hiện kịp thời những việc làm sai
trái của các cơ quan nhà nƣớc, của cán bộ, công chức nhà nƣớc… làm thiệt
hại đến lợi ích nhà nƣớc, tập thể và công dân để yêu cầu chấm dứt hoặc đề
nghị xử lý theo pháp luật. Bảo đảm tính nghiêm minh và tính thống nhất của
pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần hạn chế và loại trừ những hành vi vi
phạm Hiến pháp, pháp luật ở địa phƣơng.
Qua hoạt động giám sát giúp HĐND nhanh chóng phát hiện những văn
bản pháp luật của các cơ quan nhà nƣớc ở địa phƣơng trái với Hiến pháp,
pháp luật và nghị quyết của HĐND hoặc giữa những văn bản pháp luật đó có

phƣơng trở nên vững mạnh.
Qua giám sát phát hiện kịp thời những điểm chƣa phù hợp với thực tiễn
đời sống xã hội của các quy định pháp luật và kiến nghị những biện pháp
khắc phục một cách có hiệu quả
Mặc dù khi xây dựng văn bản pháp luật các nhà hoạch định chính sách
và các chuyên gia làm công tác xây dựng pháp luật đã tuân theo quy trình
nghiêm ngặt và khoa học, nhƣng khi áp dụng vào thực tiễn những dự định đó
mới đƣợc kiểm nghiệm và bộc lộ những điểm chƣa phù hợp hoặc chƣa đáp
ứng đúng nhu cầu của đời sống xã hội. Những quy định đó cần sớm đƣợc phát
hiện và sửa đổi, bổ sung kịp thời.
Những kết quả của hoạt động giám sát, đặc biệt là kết quả trong giám
sát việc thi hành văn bản pháp luật là nguồn thông tin quan trọng, cung cấp cơ
sở thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách và các chuyên gia làm công
tác xây dựng pháp luật trong quá trình soạn thảo ở tất cả các khâu: từ xác định
nhu cầu lập pháp tức là xác định sự cần thiết phải ban hành một văn bản pháp
luật, đến việc xác định mục đích cần đạt đƣợc của dự án và tính khả thi của
dự án luật đó. 13
Hiến pháp và Luật quy định không chỉ HĐND mới có chức năng giám
sát mà các cơ quan khác cũng có chức năng này nhƣ: Quốc hội, Mặt trận Tổ
quốc (MTTQ) Việt Nam, Ban Thanh tra nhân dân Trong đó, giám sát của cơ
quan dân cử nói chung, hoạt động giám sát của HĐND nói riêng mang tính
đặc thù so với các hoạt động giám sát của các cơ quan khác.
- Hoạt động giám sát của Ban Thanh tra nhân dân
Luật Thanh tra năm 2010 quy định về tổ chức và hoạt động của Ban
Thanh tra nhân dân. Hoạt động giám sát của Ban Thanh tra nhân dân khác với
họat động giám sát của HĐND, Thƣờng trực HĐND, các Ban HĐND, đại
biểu HĐND. Ban Thanh tra nhân dân đƣợc thành lập ở xã, phƣờng, thị trấn,

và lợi ích chính đáng của nhân dân” (Điều 12, Luật MTTQ Việt Nam).
Đặc điểm nổi bật của hoạt động giám sát của MTTQ Việt Nam là:
không áp dụng các hình thức, phƣơng pháp mang tính quyền lực nhà nƣớc mà
mang tính nhân dân dƣới các hình thức theo dõi, phát hiện, nhận xét, phản
biện và kiến nghị, động viên nhân dân thực hiện quyền giám sát, tham gia
giám sát cùng với cơ quan quyền lực nhà nƣớc.
Giám sát của HĐND là hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, mang
tính quyền lực nhà nƣớc. Xét về bản chất việc thực hiện quyền giám sát thì
HĐND là cơ quan thay mặt nhân dân sử dụng quyền lực nhà nƣớc do chính
nhân dân giao cho. Còn giám sát của Đảng, của MTTQ không mang tính
quyền lực nhà nƣớc mà đó là giám sát của tổ chức chính trị và tổ chức
chính trị xã hội.
- Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND:
Giám sát của Quốc hội và HĐND là hoạt động giám sát của cơ quan
dân cử, mang tính quyền lực nhà nƣớc, đây là một khâu, một yếu tố cấu thành
quyền lực nhà nƣớc, không tách rời quyền lực nhà nƣớc. Xét về bản chất, việc
thực hiện quyền giám sát của Quốc hội và HĐND là các cơ quan này thay mặt 15
nhân dân sử dụng quyền lực nhà nƣớc do chính nhân dân giao cho. Bởi nhân
dân sử dụng quyền lực nhà nƣớc thông qua Quốc hội và HĐND là những cơ
quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và
chịu trách nhiệm trƣớc nhân dân.
Chức năng giám sát của Quốc hội là thực hiện quyền giám sát tối cao
đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nƣớc (Điều 1, Luật hoạt động giám sát của
Quốc hội).
Chức năng giám sát của HĐND không mang tính tối cao, nó bó hẹp
trong phạm vi địa phƣơng cấp của HĐND và cơ quan, tổ chức, cá nhân trên
địa bàn đó.

Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban thƣờng vụ
Quốc hội, văn bản QPPL của cơ quan Nhà nƣớc cấp trên và Nghị quyết của
HĐND cùng cấp.
- Thành lập đoàn giám sát khi xét thấy cần thiết.
- Bỏ phiếu tín nhiệm đối với ngƣời giữ chức vụ do HĐND bầu.
Theo Điều 51 Quy chế hoạt động của HĐND, HĐND quyết định
chƣơng trình giám sát theo trình tự sau: Chậm nhất là 20 ngày trƣớc ngày khai
mạc kỳ họp cuối năm của HĐND, Thƣờng trực HĐND tập hợp đề nghị của
các Ban của HĐND, đại biểu HĐND, Ban Thƣờng trực Ủy ban MTTQ Việt
Nam cùng cấp và kiến nghị của cử tri địa phƣơng về nội dung giám sát của
HĐND. Thƣờng trực HĐND lập dự kiến nội dung, chƣơng trình giám sát của
HĐND năm sau trình HĐND xem xét, quyết định tại kỳ họp cuối năm.
HĐND thảo luận, biểu quyết thông qua chƣơng trình giám sát của HĐND.
1.2.1.2. Thường trực HĐND
Theo Điều 66 Luật tổ chức HĐND và UBND 2003, Thƣờng trực
HĐND có quyền giám sát hoạt động của UBND và các cơ quan chuyên môn
thuộc UBND, hoạt động của TAND, VKSND cùng cấp, giám sát các cơ quan
Nhà nƣớc, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công 17
dân trong việc thi hành Hiến pháp, Luật, các văn bản của cơ quan Nhà nƣớc
cấp trên và các Nghị quyết của HĐND cùng cấp.
Căn cứ vào chƣơng trình giám sát của HĐND, theo đề nghị của các
Ban của HĐND, Đại biểu HĐND, Uỷ ban MTTQ Việt Nam cùng cấp và ý
kiến, kiến nghị của cử tri địa phƣơng. Thƣờng trực HĐND quyết định chƣơng
trình giám sát hàng quý, hàng năm của mình phù hợp với nhiệm vụ, quyền
hạn và điều kiện kinh tế, xã hội ở địa phƣơng. Trên cơ sở chƣơng trình giám
sát đã đƣợc thông qua, Thƣờng trực HĐND phân công các thành viên của
mình thực hiện các nội dung trong chƣơng trình giám sát, có thể giao cho các

ngƣời bị chất vấn thời hạn và hình thức trả lời chất vấn.
Để tăng cƣờng mối quan hệ giữa Thƣờng trực HĐND và UBND cùng
cấp trong việc thực hiện quyền giám sát, Thƣờng trực HĐND có thẩm quyền
trình HĐND bỏ phiếu tín nhiệm đối với các thành viên UBND theo đề nghị của
Uỷ ban MTTQ và khi có ít nhất một phần ba tổng số đại biểu HĐND yêu cầu.
Mối quan hệ giữa Thƣờng trực HĐND, các Ban HĐND và đại biểu
HĐND trong việc thực hiện quyền giám sát đƣợc thể hiện ở nhiệm vụ của
Thƣờng trực HĐND trong việc điều hoà, phối hợp hoạt động giám sát của các
cơ quan đó; tổng hợp kết quả giám sát trình HĐND xem xét, xử lý theo thẩm
quyền. Thƣờng trực HĐND có trách nhiệm báo cáo HĐND về hoạt động
giám sát của mình giữa hai kỳ họp.
1.2.1.3. Các Ban của HĐND
Theo quy định Luật tổ chức HĐND và UBND thì HĐND cấp huyện
thành lập Ban Kinh tế- Xã hội và Ban Pháp chế để giúp HĐND trong việc
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND. Trong lĩnh vực giám sát, theo quy
định Điều 74 Luật tổ chức HĐND và UBND thì các Ban của HĐND có
nhiệm vụ giúp HĐND giám sát đối với các đối tƣợng sau:
- Giám sát hoạt động của UBND, cơ quan chuyên môn thuộc UBND,
TAND và VKSND cùng cấp. 19
- Giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nƣớc, tổ chức kinh tế, tổ chức xã
hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân trong việc thi hành Hiến pháp,
Luật, văn bản của cơ quan Nhà nƣớc cấp trên và Nghị quyết của HĐND.
Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các Ban HĐND cấp huyện đƣợc quy
định tại Điều 34, Điều 35 Quy chế hoạt động của HĐND.
Hoạt động giám sát của các Ban HĐND đƣợc thể hiện thông qua các
hoạt động:
- Thẩm tra các báo cáo, đề án do HĐND hoặc Thƣờng trực HĐND


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status