Đổi mới quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay - Pdf 12



Bộ giáo dục v đo tạo học viện chính trị quốc gia
Hồ chí minh
Lê văn trung

đổi mới quản lý nh nớc
bằng pháp luật đối với doanh nghiệp
nh nớc ở việt nam hiện nay
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nớc và pháp luật
Mã số: 62 38 01 01

Tóm tắt Luận án tiến sĩ luật học

và Th viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
các công trình của tác giả đ công bố
liên quan đến đề ti luận án

1. Lê Văn Trung (2000), "T tởng Hồ Chí Minh về vấn đề
pháp luật trong quản lý", Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số
6/2000, tr.14-18.
2. Lê Văn Trung (2002), "Hoàn thiện môi trờng pháp lý
trong quản lý nhà nớc đối với doanh nghiệp nhà nớc
hoạt động công ích", Tạp chí Lý luận chính trị, số 6/2002,
tr.12-16.
3. Lê Văn Trung (2003), "Một số vấn đề pháp lý về thực
hiện quyền sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nớc", Tạp
chí Lý luận chính trị, số 5/2003, tr.23-27.
4. Lê Văn Trung (2003), "Vấn đề quản lý nhà nớc bằng
pháp luật đối với doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam hiện
nay", Tạp chí Giáo dục lý luận, số 8 (77)/2003, tr.48-52.
5. Lê Văn Trung (2004), "Kiểm soát doanh nghiệp nhà nớc
của một số quốc gia trên thế giới", Tạp chí Quản lý nhà
nớc, số 101 (6/2004), tr.40-44.
6. Lê Văn Trung (2004), "Quá trình phát triển quan điểm
của Đảng về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nớc", Tạp
chí Lịch sử Đảng, số 8/2004, tr.20-23. 1 mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
nơi để tài sản của Nhà nớc rơi vào tình trạng vô chủ, thất thoát, lãng phí
v.v
Bốn là, sự thay đổi về hình thức tổ chức của DNNN trong nền kinh tế
đang đặt ra đòi hỏi tất yếu phải đổi mới phơng thức, mức độ quản lý
của Nhà nớc. Khái niệm pháp lý mới về DNNN (theo Luật DNNN năm
2003), cùng với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũng nh
những kết quả và xu hớng tiếp tục sắp xếp, đổi mới đã tạo xu thế phát
triển mới cho các DNNN. Vì vậy, nếu không đổi mới, hoạt động QLNN
sẽ không những không đảm bảo hiệu lực, hiệu quả mà còn cản trở sự
phát triển của hệ thống doanh nghiệp này.
Từ những lý do và yêu cầu trên, việc tìm tòi giải pháp đổi mới
QLNN bằng pháp luật đối với DNNN, trên cơ sở đó không ngừng đổi
mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của DNNN là yêu cầu mang tính
thời sự cấp bách. Đó cũng là lý do để tác giả luận án lựa chọn đề tài:
"Đổi mới QLNN bằng pháp luật đối với DNNN ở Việt Nam hiện nay".
2. Tình hình nghiên cứu
Cải cách hệ thống DNNN và đổi mới QLNN đối với khu vực doanh
nghiệp này luôn là mối quan tâm sâu sắc của hầu hết các quốc gia trên
thế giới. Đây cũng là đối tợng nghiên cứu hết sức phong phú của các
nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực khác nhau nh kinh tế học, luật học,
chính trị học, khoa học quản lý v.v Chính vì vậy, các công trình khoa
học về chủ đề DNNN rất đa dạng, đợc tiếp cận dới nhiều góc độ
khác nhau.
Qua phân tích tình hình nghiên cứu về DNNN theo từng nhóm công
trình, từ kinh nghiệm quốc tế đến phạm vi trong nớc (bao gồm sách
tham khảo, chuyên khảo; đề tài khoa học; các bài viết đăng trên các
báo, tạp chí; các luận án tiến sĩ), luận án chỉ ra rằng, điểm chung của
các loại công trình nghiên cứu trên là chủ yếu đi sâu bàn về vị trí, vai

luật đối với DNNN.
- Phân tích, đánh giá thực trạng QLNN bằng pháp luật đối với
DNNN trên ba nội dung: xây dựng pháp luật; tổ chức thực hiện pháp
luật; kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật.
- Phân tích những yêu cầu khách quan của việc đổi mới QLNN
bằng pháp luật đối với DNNN ở Việt Nam hiện nay; đề xuất và luận
chứng một số quan điểm và giải pháp đổi mới QLNN bằng pháp luật
đối với DNNN. 4 5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Luận án đợc thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta về
QLNN nói chung, về QLNN bằng pháp luật đối với DNNN nói riêng.
Về phơng pháp nghiên cứu, luận án sử dụng tổng hợp các phơng pháp,
nh: lịch sử - cụ thể; phân tích - tổng hợp, thống kê, so sánh v.v
6. Những đóng góp mới của luận án
- Luận án nêu và phân tích vai trò, các đặc điểm của QLNN bằng
pháp luật đối với DNNN và những yếu tố ảnh hởng đến hoạt động
QLNN bằng pháp luật đối với DNNN ở Việt Nam hiện nay.
- Luận án phân tích các yêu cầu khách quan và những quan điểm đổi
mới QLNN bằng pháp luật đối với DNNN.
- Luận án đề xuất và luận chứng các giải pháp đổi mới QLNN bằng
pháp luật đối với DNNN, trong đó có các đề xuất về nguyên tắc, hình
thức, nội dung của văn bản pháp luật về thực hiện quyền và nghĩa vụ của
chủ sở hữu nhà nớc đối với DNNN.
7. ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

hiện pháp luật; kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật. Trong đó,
pháp luật về DNNN bao gồm hai bộ phận: pháp luật về tổ chức, hoạt
động của DNNN và pháp luật về các biện pháp sắp xếp, tổ chức lại
DNNN. Các nội dung QLNN bằng pháp luật đối với DNNN không
tách biệt mà quan hệ chặt chẽ với nhau, quy định lẫn nhau, bổ sung
cho nhau trong thực tiễn QLNN đối với DNNN.
1.1.3. Vai trò của QLNN bằng pháp luật đối với DNNN
Luận án đã nêu và phân tích các vai trò của QLNN bằng pháp luật
đối với DNNN ở Việt Nam hiện nay trên những điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, QLNN bằng pháp luật là phơng thức hữu hiệu nhằm
tách bạch hoạt động QLNN và hoạt động quản lý sản xuất - kinh
doanh trong các DNNN. 6 Thứ hai, QLNN bằng pháp luật là biện pháp quan trọng nhằm xác
lập địa vị pháp lý của DNNN trong nền kinh tế, đồng thời quy định các
quyền, nghĩa vụ pháp lý của chủ sở hữu Nhà nớc đối với DNNN.
Thứ ba, QLNN bằng pháp luật đối với DNNN góp phần nâng cao
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đa hệ thống DNNN chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp và
lợi ích của quốc gia trong hoạt động kinh tế đối ngoại.
Thứ t, QLNN bằng pháp luật là phơng thức cơ bản để thể chế hóa
các quan điểm của Đảng về đổi mới, nâng cao hiệu quả của DNNN
trong nền kinh tế.
1.2. Đặc điểm của QLNN bằng pháp luật đối với DNNN
Luận án phân tích các đặc điểm của QLNN bằng pháp luật đối với
DNNN theo các yếu tố: đối tợng quản lý, chủ thể quản lý, và công cụ

Nền kinh tế đất nớc đã thực hiện quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế
hoạch hóa hành chính tập trung sang cơ chế thị trờng định hớng
XHCN, tuy nhiên, khu vực DNNN là nơi còn mang nặng dấu ấn của
cơ chế cũ. Điều đó gây nên những khó khăn, trở ngại cho hoạt động
quản lý của Nhà nớc đối với sự phát triển của các doanh nghiệp này.
1.3.2. Tính chất thuộc sở hữu nhà nớc của DNNN
Tính chất thuộc sở hữu nhà nớc ở các mức độ khác nhau của các
DNNN đặt ra những thách thức đối với Nhà nớc trong việc vừa đảm
bảo môi trờng pháp lý cho DNNN hoạt động, vừa đảm bảo thực hiện
vai trò, trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ của sở hữu nhà nớc.
1.3.3. Tính đa dạng về hình thức tổ chức của DNNN
Theo pháp luật hiện hành, các DNNN đợc tổ chức dới nhiều hình
thức khác nhau, đòi hỏi sự quản lý của Nhà nớc phải thích ứng với
từng hình thức, đồng thời đảm bảo tính bình đẳng về mặt pháp lý giữa
chúng.
1.3.4. Hội nhập kinh tế quốc tế
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu của
nền kinh tế vừa tạo cơ hội, đồng thời đặt ra đòi hỏi khách quan cũng 8 nh những thách thức trong việc thực hiện các cam kết quốc tế về xây
dựng và thực hiện thể chế liên quan đến khu vực DNNN.
Kết luận chơng 1:
- QLNN bằng pháp luật đối với DNNN là quá trình Nhà nớc sử
dụng pháp luật với t cách là một công cụ quản lý để đa hệ thống
DNNN hoạt động theo mục đích mà Nhà nớc đặt ra. Hoạt động
QLNN bằng pháp luật đối với DNNN đợc thực hiện trên ba nội dung:

Căn cứ vào việc phân chia hoạt động QLNN bằng pháp luật đối với
DNNN ở chơng 1, luận án phân tích thực trạng của hoạt động này
trên ba nội dung: xây dựng pháp luật; tổ chức thực hiện pháp luật;
kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật.
2.1. thực trạng xây dựng pháp luật về dnnn
2.1.1. Quá trình phát triển của pháp luật về DNNN
Luận án đã nêu khái quát quá trình hình thành và phát triển của
pháp luật về DNNN trên cả hai bộ phận pháp luật: pháp luật về tổ
chức, hoạt động của DNNN và pháp luật về các biện pháp sắp xếp, tổ
chức lại DNNN.
2.1.2. Những thành tựu và hạn chế, bất cập trong xây dựng
pháp luật về DNNN
2.1.2.1. Xây dựng pháp luật về tổ chức và hoạt động của DNNN
- Về những thành tựu, luận án đánh giá: Thứ nhất, các văn bản
pháp luật đã tạo đợc khung pháp lý mới cho tổ chức và hoạt động của
các DNNN trong nền kinh tế, đồng thời đây cũng là căn cứ pháp lý
quan trọng cho việc đổi mới QLNN đối với các DNNN; Thứ hai, khái
niệm pháp lý mới về DNNN đã tạo điều kiện cho việc sắp xếp, đổi mới
khu vực doanh nghiệp này một cách thuận lợi hơn, đặc biệt là cho quá
trình CPH DNNN; Thứ ba, các quy định pháp luật đã từng bớc đảm
bảo tính bình đẳng về mặt pháp lý giữa DNNN với các doanh nghiệp
thuộc mọi thành phần kinh tế.
- Về hạn chế, bất cập, luận án đánh giá:
+ Một trong những hạn chế cơ bản của hệ thống các văn bản pháp
luật về tổ chức, hoạt động của DNNN từ nhiều năm nay là ban hành 10

11 mang tính thông lệ quốc tế; 3, Hành lang pháp lý cha đầy đủ để TCT
nhà nớc thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và năng động trong sản
xuất kinh doanh.
+ Pháp luật về CPH DNNN còn bộc lộ những hạn chế, nh: 1, Có
quá nhiều nghị định về CPH DNNN nhng tháo gỡ đợc khó khăn cũ
thì lại nảy sinh khó khăn mới; 2, Cha có quy chế pháp lý về việc thiết
lập một tổ chức có vai trò, chức năng, nhiệm vụ chính trong việc thực
hiện chơng trình CPH DNNN của Chính phủ; 3, Cha có văn bản
pháp luật có giá trị pháp lý cao và ổn định về CPH DNNN v.v
2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về dnnn
2.2.1. Thực hiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của DNNN
Về những kết quả đạt đợc, luận án đánh giá: Một là, quá trình thực
hiện pháp luật đã từng bớc xác lập địa vị pháp lý của DNNN là tổ
chức kinh tế độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động sản
xuất, kinh doanh; Hai là, DNNN đã bớc đầu thực hiện quyền chủ
động trong tổ chức bộ máy quản lý cũng nh trong sản xuất - kinh
doanh; Ba là, từng bớc giảm bớt chế độ hành chính chủ quản, phân
định chức năng QLNN và chức năng sản xuất - kinh doanh của doanh
nghiệp; Bốn là, thông qua việc thí điểm thành lập Công ty Đầu t và
kinh doanh vốn Nhà nớc đã chuyển một số DNNN tách khỏi việc
quản lý của bộ chủ quản.
Về hạn chế, yếu kém, luận án chỉ ra những điểm sau: 1, Cha đáp
ứng một cách triệt để chủ trơng chuyển hẳn DNNN sang hạch toán
kinh doanh theo yêu cầu của cơ chế thị trờng; 2, Cha tách bạch đợc
vai trò QLNN và vai trò đại diện chủ sở hữu nên vừa buông lỏng quản
lý, vừa can thiệp quá sâu vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;

phơng thức này còn quá ít, không tạo đợc tác động đáng kể trong
việc nâng cao hiệu quả của khu vực DNNN.
Những nguyên nhân của hạn chế là: do quan niệm không đúng về
vai trò và phạm vi hoạt động của hệ thống DNNN; do tâm lý không
muốn mất quyền và lợi ích của các chủ thể có liên quan đến sự tồn tại
của các DNNN; do việc triển khai các nghị quyết của Đảng và việc
ban hành văn bản pháp quy của Chính phủ chậm, còn nhiều bất cập, 13 vớng mắc; cơ chế, chính sách cha đồng bộ, cha cụ thể; nhiều Bộ,
ngành, địa phơng cha thực sự quan tâm chỉ đạo thực hiện.
2.2.2.2. Tổ chức thực hiện pháp luật về TCT và tập đoàn kinh
doanh
Những kết quả đạt đợc là: TCT nhà nớc đã chi phối đợc các
ngành, các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế; đã bảo toàn, tích tụ và
gia tăng đợc nguồn vốn, huy động đợc nhiều nguồn lực đầu t đổi
mới công nghệ; góp phần tích cực vào việc thực hiện chính sách xã hội
và an sinh xã hội; nhiều TCT đã chuyển sang mô hình kinh doanh đa
ngành, đa lĩnh vực; việc phát triển một số TCT thành tập đoàn kinh
doanh đang đợc tích cực triển khai v.v
Bên cạnh đó, có thể thấy những hạn chế, yếu kém nh: quyết định
thành lập các TCT mang tính hành chính hơn là lôgic kinh tế; mối
quan hệ TCT - đơn vị thành viên và giữa các đơn vị thành viên với
nhau vừa cứng nhắc, gò bó, vừa lỏng lẻo; vai trò điều phối, hợp tác của
TCT cha rõ, thiếu sự gắn kết giữa các doanh nghiệp thành viên; mô
hình tổ chức quản lý TCT tuy đã đợc điều chỉnh nhiều lần nhng vẫn
còn những bất cập, hạn chế.

nhiều bất cập; quyền lợi và nghĩa vụ của cổ đông trong công ty cổ
phần cha đợc phát huy.
- Nguyên nhân của hạn chế: Luận án phân tích các nguyên nhân cơ
bản sau: 1, Do CPH DNNN là vấn đề phức tạp nên trong quá trình
triển khai, sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nớc có nhiều sự thay đổi, bổ
sung; 2, Do nhận thức của các ngành, các cấp, của lãnh đạo doanh
nghiệp và ngời lao động cũng nh của công chúng nhìn chung cha
đầy đủ, đúng đắn về chủ trơng CPH; 3, Do tâm lý lo sợ mất quyền,
mất lợi ích của các cơ quan chủ quản, của lãnh đạo DNNN và tâm lý
sợ mất việc làm của ngời lao động; 4, Do sự yếu kém của môi trờng
thị trờng nh thị trờng chứng khoán cha phát triển, sự hạn chế kiến
thức về công ty cổ phần; 5, Do thiếu môi trờng bình đẳng thật sự giữa 15 các loại hình doanh nghiệp; 6, Do bất cập của các văn bản pháp luật về
CPH v.v
2.3. Thực trạng kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm
pháp luật trong qlnn đối với dnnn
2.3.1. Những kết quả đạt đợc
Hoạt động kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật đối với
DNNN trong những năm qua đã có những kết quả sau: 1, Đã từng
bớc hoàn thiện các văn bản pháp luật về thanh tra, xử lý vi phạm pháp
luật; 2, Ngành thanh tra đã tiến hành triển khai hàng năm hàng ngàn
cuộc thanh tra doanh nghiệp, trong đó có các DNNN, phát hiện sai
phạm về kinh tế trị giá hàng ngàn tỉ đồng; 3, Thanh tra Chính phủ đã
tập trung thanh tra những lĩnh vực nổi cộm trong khu vực DNNN thời
gian qua, đặc biệt là vấn đề quản lý đầu t xây dựng, sử dụng đất đai,

nhiều trờng hợp còn lúng túng, gò bó; hiệu quả còn thấp so với kế
hoạch, yêu cầu đặt ra. Hoạt động kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm
pháp luật còn kém hiệu lực, hiệu quả; tình trạng vừa chồng chéo, vừa
buông lỏng quản lý vẫn còn diễn ra khá phổ biến.
- Những hạn chế, yếu kém trên có nhiều nguyên nhân, cả chủ quan
lẫn khách quan, nh nhận thức cha đúng về vị trí, vai trò của DNNN;
quan niệm về sở hữu và cách thực thực hiện quyền chủ sở hữu đối với
vốn và tài sản của Nhà nớc tại các DNNN còn gò bó, cứng nhắc; sự
bất cập lớn về năng lực, trình độ, đạo đức của đội ngũ cán bộ v.v
Chơng 3
Quan điểm v giải pháp đổi mới quản lý nh nớc
bằng pháp luật đối với dNNN ở việt nam hiện nay

3.1. Yêu cầu khách quan đổi mới QLNN bằng pháp luật
đối với DNNN
Luận án khẳng định đổi mới QLNN bằng pháp luật đối với DNNN
là một tất yếu khách quan, thể hiện trên những vấn đề sau: Một là, do
yêu cầu của quá trình xây dựng Nhà nớc pháp quyền với việc nâng
cao hiệu lực, hiệu quả QLNN bằng pháp luật đối với nền kinh tế nói
chung, các DNNN nói riêng; Hai là, do sự bất cập giữa vị trí, vai trò và 17 thực trạng của hệ thống DNNN mà nguyên nhân chủ yếu là từ sự yếu
kém của QLNN bằng pháp luật đối với khu vực doanh nghiệp này; Ba
là, do thực trạng của hoạt động QLNN bằng pháp luật đối với DNNN
đang còn những tồn tại, bất cập cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện; Bốn
là, do yêu cầu của quá trình hội nhập khu vực và quốc tế của nền kinh


đối với DNNN; 2, tách bạch rõ ràng chức năng QLNN với chức năng
chủ sở hữu đối với DNNN; 3, tách biệt quyền sở hữu và các quyền về
quản trị kinh doanh, quản trị nội bộ trong DNNN; 4, tách quyền và
nghĩa vụ của chủ sở hữu với việc thực hiện các nghĩa vụ xã hội của
doanh nghiệp.
- Về hình thức pháp lý, có thể xây dựng Luật về thực hiện quyền và
nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nớc tại DNNN (hoặc Luật Sử dụng vốn
Nhà nớc đầu t vào kinh doanh theo tinh thần Nghị quyết Trung ơng
3 (Khóa IX). Văn bản Luật này sẽ thay thế các văn bản dới luật về
những vấn đề liên quan đến thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở
hữu nhà nớc đã ban hành. Ngoài ra, văn bản này cũng quy định
những vấn đề liên quan đến hoạt động giám sát, đánh giá hoạt động
của các chủ thể tham gia thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu
nhà nớc.
- Về nội dung, văn bản pháp luật về thực hiện quyền và nghĩa vụ
của chủ sở hữu nhà nớc đối với DNNN cần điều chỉnh những vấn đề
cơ bản sau: 1, tổ chức, cá nhân thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nớc;
2, cơ chế thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nớc; 3, cơ chế giám sát
thực hiện quyền của chủ sở hữu nhà nớc của các cá nhân, tổ chức
đợc phân công, phân cấp hoặc uỷ quyền.
Ngoài việc pháp điển hóa các quy định đã có, văn bản pháp luật về
quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nớc đối với DNNN cần điều
chỉnh thêm những vấn đề sau:
Một, quy định cụ thể sự tham gia của Quốc hội trong việc thực hiện
quyền chủ sở hữu đối với DNNN, nh: Quốc hội quy định khung
chính sách đối với DNNN; giới hạn tỷ lệ vốn nhà nớc đầu t vào kinh
doanh; điều chỉnh phạm vi thành lập mới DNNN (đối với doanh
nghiệp 100% vốn Nhà nớc); giám sát các tổ chức, cá nhân đại diện
chủ sở hữu nhà nớc đối với DNNN v.v

quả, về kiểm tra, kiểm soát ). Bên cạnh đó, cần hoàn thiện cơ chế xây 20 dựng pháp luật theo hớng áp dụng cơ chế phản biện để tránh hiện
tợng "ẩn" lợi ích cục bộ trong văn bản pháp luật. Ngoài ra, cần coi
trọng sự tham gia của DNNN vào quy trình chuẩn bị, soạn thảo, thông
qua pháp luật; sử dụng các chuyên gia sâu về lĩnh vực DNNN v.v
3.3.2. Đổi mới hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật
3.3.2.1. Đẩy mạnh công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục
pháp luật
- Việc phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật đối với DNNN
cần tiến hành với nhiều nội dung, phù hợp với từng đối tợng khác
nhau (cán bộ lãnh đạo, quản lý DNNN; cán bộ chuyên môn; công
nhân viên chức; ngời lao động )
- Hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong QLNN đối với
DNNN có thể tiến hành bằng nhiều hình thức khác nhau; các hình thức
này cần linh hoạt và có sự bổ sung lẫn nhau.
- Cần nâng cao năng lực, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị -
xã hội, các câu lạc bộ pháp chế doanh nghiệp, các cơ quan bảo vệ pháp
luật v.v Đồng thời cần củng cố, kiện toàn các tổ chức xã hội - nghề
nghiệp nh các câu lạc bộ DNNN.
- Trong hoạt động đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý DNNN, cần chú
trọng chơng trình đào tạo về kiến thức pháp luật về DNNN.
3.3.2.2. Đổi mới tổ chức, hoạt động của các cơ quan QLNN
Thứ nhất, về thể chế: tiếp tục đổi mới thể chế và thủ tục hành chính,
tập trung trớc hết vào xóa bỏ những quy định mang nặng tính hành
chính, bao cấp; bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo

pháp sau:
- Xác định rõ ràng hệ thống giám sát cũng nh cơ quan có trách
nhiệm giám sát đối với việc tuân thủ pháp luật của DNNN, của các cơ
quan chức năng trong QLNN đối với hệ thống DNNN.
- Hạn chế, tiến tới xóa bỏ tình trạng chồng chéo, trùng lắp trong
hoạt động kiểm tra, thanh tra DNNN; cần có sự phối hợp để có chơng
trình, kế hoạch thích hợp nhất; cần sửa đổi những quy định bất hợp lý,
nh: về thời gian thanh tra, về thẩm quyền ra quyết định của các cơ
quan tiến hành hoạt động kiểm tra, thanh tra 22 - Tiếp tục hoàn thiện tổ chức và hoạt động của hệ thống thanh tra;
phân biệt rõ giữa vị trí, chức năng của cơ quan thanh tra theo cấp hành
chính và cơ quan thanh tra theo lĩnh vực; phân định rõ chức năng,
nhiệm vụ và phơng thức phối hợp giữa các cơ quan thuộc hệ thống
thanh tra với các cơ quan nhà nớc khác có chức năng kiểm tra, giám
sát DNNN (chức năng giám sát của Quốc hội, của các cơ quan kiểm
toán v.v )
- Sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật theo hớng: việc giao
quyền hạn phải gắn với trách nhiệm. Xử lý kịp thời, công khai những
vi phạm pháp luật; chú trọng công tác giáo dục đạo đức, phẩm chất
chính trị, t cách của đội ngũ cán bộ, thanh tra viên cũng nh quan
tâm đến đời sống của họ; hoàn thiện pháp luật về các cơ quan bảo vệ
pháp luật, nhất là các cơ quan tài phán để hoạt động của các cơ quan
này có hiệu lực, hiệu quả.
Kết luận chơng 3:
Để đổi mới QLNN bằng pháp luật đối với DNNN đáp ứng yêu cầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status