bộ giáo dục v đo tạo viện khoa học x hội việt nam
viện nh nớc v pháp luật Nguyễn anh đức điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động
xuất khẩu, nhập khẩu ở việt nam
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 62.38.50.01
Tóm tắt luận án tiến sĩ luật học
Hp ti: Hi trng Vin Nh nc v Phỏp lut,
27 Trn Xuõn Son, H Ni
Vo hi 08 gi 30 ngy 23 thỏng 08 nm 2008 Cú th tỡm hi
u lun ỏn ti:
Th vin Quc gia v Th vin Vin Nh nc v Phỏp lut
Danh mục các công trình của tác giả đ đợc
công bố liên quan đến đề ti luận án 1. Nguyn Anh c (2008), Phỏp lut v cỏc cụng c iu tit
hot ng xut khu, nhp khu. Tp chớ Nh nc v Phỏp
lut (tr50-57), s 2(238) nm 2008.
2. Nguyn Anh c (2008), Mt s vn v ro cn thng
mi trỏ hỡnh. Tp chớ Tũa ỏn nhõn dõn, s 2 (tr27-29), thỏng 1
nm 2008.
quốc tế và các thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết.
Những phân tích trên đây là c
ơ sở cho tôi chọn đề tài: "Điều chỉnh
pháp luật đối với hoạt động XNK ở Việt Nam hiện nay" để làm luận án
tiến sỹ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài:
Hoạt động XNK được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu,
đặc biệt là kinh tế học và luật học. Ngày nay, trên thế giới, hoạt động XNK
được quan tâm nghiên cứu ở tất cả các quốc gia vì b
ản thân các hoạt động này
có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của từng nền kinh tế, của
khu vực và của thế giới.
Trong kinh tế học, các công trình về các vấn đề liên quan đến XNK
là rất đồ sộ với nhiều hình thức như chuyên khảo, giáo trình, bài tạp
chí…trong đó có nhiều mức độ đề cập đến vấn đề XNK, chẳng hạn dưới góc
2
độ vĩ mô là các chính sách kinh tế của một quốc gia hoặc dưới góc độ vi mô là
các hành vi XNK của các chủ thể kinh doanh trong các nền kinh tế.
Dưới góc độ luật học, các nhà nghiên cứu luật học các nước cũng đã
đề cập đến vấn đề pháp luật điều chỉnh quan hệ XNK với các mức độ khác
nhau. Chẳng hạn, về pháp luật điều chỉnh vấn đề địa vị pháp lý củ
a các chủ
thể kinh doanh XNK, pháp luật về thuế XNK, pháp luật về chống bán phá giá,
pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh đã được nhiều tác giả quan tâm
nghiên cứu dưới nhiều hình thức khác nhau như các sách chuyên khảo, sách
tham khảo, các luận án, các bộ tập hợp tập quán thương mại quốc tế. Có thể
kể ra đây một số công trình khoa học tiêu biểu như: Kinh tế học của Paul
Sammuelson, William D. Nordralls, NXB Thống kê, Incoterms 1990,
phí không chính thức để cho công việc của mình được trôi chảy hơn.
Ngoài ra, bản thân các doanh nghiệp cũng chưa ý thức hết được
những quyền và nghĩa vụ pháp lý cũng như các lợi thế (bao gồm cả
những lợi thế so sánh) của mình.
3. Nhữ
ng đổi mới trong cơ chế, chính sách quản lý xuất
khẩu, mở cửa thị trường cũng như những chính sách nhằm mở rộng
quyền kinh doanh cho các doanh nghiệp đã góp phần hoàn thiện môi
trường pháp lý và cơ chế chính sách liên quan đến kinh doanh xuất
khẩu, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho hoạt động đầu tư sản xuất
và xuất khẩu phát triển, khuyến khích sự tham gia ngày càng rộng rãi
của nhiều doanh nghiệp vào hoạt động xu
ất khẩu. Bên cạnh đó, hoạt
động cải cách thủ tục hành chính có nhiều chuyển biến tích cực, giúp
cho các doanh nghiệp giảm nhẹ gánh nặng về thời gian, chi phí, nâng
cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị
trường.
Tuy nhiên, việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động XNK là
một chặng đường không dễ dàng. Pháp luật liên quan đến hoạt động
XNK có thể được xem có tính hệ thống với rấ
t nhiều văn bản, từ luật
cho đến các nghị định, thông tư, liên quan đến hàng loạt các vấn đề
22
Pháp luật điều chỉnh hoạt động XNK của Việt Nam đang ở
trong giai đoạn cần có những bước phát triển nhanh chóng để theo
kịp với môi trường pháp lý và thông lệ kinh doanh quốc tế. Hoạt
động XNK thuộc sự điều chỉnh của nhiều lĩnh vực pháp luật, vì vậy
sự phối hợp đồng bộ và hiệu quả giữa các cơ quan quản lý nhà nước
có liên quan trên cơ
2002; “Giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên WTO” của PGS.TS.
Hoàng Ngọc Thiết, NXB Chính trị Quốc gia năm 2004; “Chuyên khảo Luật
kinh tế” của PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa, NXB Đại học Quốc gia Hà N
ội,
2004 Các công trình này nhìn chung đã đạt được những kết quả quan trọng
thể hiện trên những điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, đã nghiên cứu những kinh nghiệm nước ngoài
trong vấn đề xây dựng một hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về các
vấn đề pháp lý trên.
Thứ hai, đã hình thành một hệ thống các vấn đề lý luận trong
việc xây dựng và áp d
ụng pháp luật đối với Việt Nam về các vấn đề
pháp lý nêu trên.
Thứ ba, đã có những đánh giá nhất định về thực trạng pháp luật, thực
trạng áp dụng pháp luật trong các lĩnh vực cụ thể như lĩnh vực địa vị pháp lý
của các thủ thể tham gia kinh doanh, trong đó có các chủ thể kinh doanh
XNK; pháp luật về thuế XNK; pháp luật về tự vệ trong hoạt động XNK; pháp
luật về
giải quyết tranh chấp kinh doanh có yếu tố nước ngoài….
Thứ tư, đã đề xuất được nhiều kiến nghị, giải pháp có ý nghĩa, có giá
trị thực tiễn và giá trị tham khảo nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt
Nam phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, từ trước đến nay ở Việt Nam chưa có công trình khoa
họ
c nào đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống chế định pháp luật
điều chỉnh hoạt động XNK, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách
toàn diện và hệ thống về cơ sở lý luận về điều chỉnh pháp luật đối với hoạt
động XNK ở Việt Nam hiện nay, thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với các
4
đồi với hoạt động XNK như là môi trường pháp lý chung cho các hoạt động
này được diễn ra có hiệu quả, có định h
ướng và điều tiết của Nhà nước nhằm
21
KẾT LUẬN
1. Hoạt động XNK có một vai trò, vị trí quan trọng đối với
bất kỳ một nền kinh tế nào, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Cũng chính vì vậy mà hoạt động XNK cần thiết phải được điều chỉnh
bằng pháp luật. Điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động XNK là quá
trình Nhà nước sử dụng pháp luật để tác động đế
n các quan hệ XNK
nhằm đạt được những mục đích nhất định. Điều chỉnh pháp luật đối
với hoạt động XNK là một cơ chế phức tạp chịu sự tác động của
nhiều yếu tố bao gồm cả khách quan và chủ quan.
Đối với Việt Nam, căn cứ vào đặc điểm cụ thể, đặc thù của
đất nước, Các yếu t
ố khách quan bao gồm: yêu cầu mở rộng thị
trường cho hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu của các quốc gia khác; yêu
cầu của các tổ chức quốc tế và khu vực trong việc mở cửa thị trường
và áp dụng các chính sách điều chỉnh pháp luật chung trong phạm vi
các quốc gia thành viên; yêu cầu của quá trình chuyên môn hóa và
phân công sản xuất quốc tế; sức ép về thị trường từ Trung Quốc, thị
trường của các n
ước ASEAN cũng có thể xem là một điểm đặc thù
có tác động đến việc xây dựng chính sách và pháp luật XNK của Việt
Nam. Các yếu tố chủ quan bao gồm: đặc điểm tình hình chính trị,
kinh tế-xã hội Việt Nam thời kỳ trước khi tiến hành công cuộc đổi
mới toàn diện kinh tế xã hội; nhận thức về vai trò, tính chất của hoạt
động XNK; năng lực sản xuất trong nước còn thấ
- Tăng cường các biện pháp quản lý chặt chẽ đối với hoạt động
XNK đi kèm với các biện pháp xử lý nghiêm khắc và kịp thời các hành vi vi
phạm pháp luật về XNK. Cần tổ chức kênh thông tin về các danh sách các
doanh nghiệp vi phạm quy định pháp luật trong hoạt động XNK và áp dụng
các biện pháp chế tài nghiêm khắc hơn đối với các doanh nghiệp tái phạm.
5
đạt được những mục tiêu mà Nhà nước và xã hội đề ra. Trên cơ sở đánh giá
thực trạng của điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động XNK, luận án đề xuất
các kiến nghị, giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực và hiệu quả của điều chỉnh
pháp luật đối với hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu.
4. Phương pháp nghiên c
ứu của luận án
Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu luận án này là Chủ nghĩa duy
vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước về XNK.
Để giải quyết đề tài này, tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp
nghiên cứu như: phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp
phân tích tư liệu, phương pháp thố
ng kê, phương pháp so sánh, phương pháp
hệ thống hóa, phương pháp tổng hợp, phương pháp lịch sử.
5. Những điểm mới của luận án
Với việc nghiên cứu và đánh giá điều chỉnh pháp luật đối với các
hoạt động XNK ở Việt Nam hiện nay, luận án có những điểm mới sau đây:
- Luận án góp phần xây dựng được hệ thống cơ sở lý luận cho v
ấn đề
điều chỉnh pháp luật đối với các hoạt động XNK ở Việt Nam hiện
nay.
- Luận án nghiên cứu một cách hệ thống và tương đối toàn diện thực
trạng pháp luật về XNK và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam hiện nay; thực
- Giảm thiểu những biện pháp quản lý mang tính chất hành chính của
nhà nước như việc cấp phép để nhập khẩu và sử dụng nhiều h
ơn những biện
pháp phù hợp với những qui luật của kinh tế thị trường;
- Tổ chức kênh đối thoại về xây dựng thể chế giữa Bộ Công Thương,
các Bộ quản lý chuyên ngành, các doanh nghiệp để tiếp thu, chọn lọc những
vấn đề cấp thiết tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để ban
hành theo thẩm quyền hoặc trình các cấp có thẩm quyền ban hành các văn
bản quy phạm pháp luật phù hợp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho
doanh nghiệp;
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống các tiêu chuẩn về quy cách và chất
lượng sản phẩm cho phù hợp với chuẩn mực quốc tế, tăng cường công tác
kiểm tra giám sát hàng hoá trên thị trường. Hệ thống kiểm tra chất lượng này
không chỉ giúp ngăn chặn nhập khẩu hàng hóa kém chất lượng, bảo vệ quyền
18
3.3.2. Giải pháp cụ thể
Luận án tập trung đề xuất các giải pháp cụ thể như sau:
Về giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý:
- Tổ chức hệ thống hóa pháp luật theo lĩnh vực XNK, phân tích, so
sánh đối chiếu với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, loại bỏ
những văn bản đã hết hiệu lực;
- Xây dựng v
ăn bản quy phạm pháp luật để nội luật hóa các điều ước
quốc tế, thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam về quyền kinh doanh
XNK, quyền phân phối cho các nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài theo lộ trình cam kết.
- Đối với các mặt hàng XNK được điều hành theo cơ chế riêng,
Chính phủ cần ban hành định hướng chung đối với hoạt độ
ng quản lý, giao
và phát triển của hoạt động XNK, các nguyên nhân, điều kiện hình thành và
phát triển của hoạt động XNK. Đó là sự hình thành, phát triển của tầng lớp
thương nhân, lợi thế so sánh của các quốc gia và sự phát triển của khoa h
ọc,
kỹ thuật.
1.1.2. Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của hoạt động XNK và
quan hệ xuất khẩu và nhập khẩu
Luận án đưa ra khái niệm về XNK một cách khái quát nhất là: xuất
khẩu và nhập khẩu là hai mặt chủ yếu của quá trình trao đổi hàng hoá giữa
quốc gia này với quốc gia khác thông qua các hoạt động mua và bán. Trong
một nền kinh tế hoạt động xuất khẩu và hoạt
động nhập khẩu luôn gắn liền và
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Luận án phân tích các đặc điểm của hoạt động xuất khẩu và nhập
khẩu, bao gồm các đặc điểm về chủ thể, nguồn luật điều chỉnh, đối tượng của
hoạt động XNK, đồng tiền thanh toán. Các đặc điểm đặc trưng này sẽ tác
động và chi phối đ
iều chỉnh pháp luật đối với hoạt động XNK của mỗi quốc
gia.
1.2. Điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động XNK và những yếu tố
ảnh hưởng đến điều chỉnh pháp luật hoạt động XNK
1.2.1. Tác động của hoạt động XNK đến sản xuất, kinh doanh và sự
cần thiết điều chỉnh hoạt động XNK bằng pháp luật
8
Luận án chứng minh sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật đối với
hoạt động XNK căn cứ vào những tác động cả về tích cực và tiêu cực của hoạt
động XNK. Chính vì vậy, quốc gia nào cũng phải quan tâm điều chỉnh pháp
luật đối với hoạt động XNK nhằm đạt được những mục tiêu đề ra.
Điều chỉnh pháp luật đối v
Chương 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ TĂNG CƯỜNG ĐIỀU
CHỈNH PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM3.1. Nhu cầu hoàn thiện pháp luật và tăng cường điều chỉnh pháp luật
đối với hoạt động XNK ở Việt Nam hiện nay
Luận án xác định nhu cầu hoàn thiện pháp luật và tăng cường điều
chỉnh pháp luật đối với hoạt động XNK ở Việt Nam bao gồm nhu cầu nội tại
của nền kinh tế theo đó cải cách kinh tế đặt ra nhu cầu phải hoàn thiệ
n pháp
luật và tăng cường điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động XNK; và nhu cầu
từ việc hội nhập kinh tế quốc tế và những yêu cầu của nó đối với việc hoàn
thiện pháp luật và đối với tăng cường điều chỉnh pháp luật hoạt động XNK ở
Việt Nam hiện nay.
3.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật và tăng cường điề
u chỉnh
đối với hoạt động XNK ở Việt Nam hiện nay
Luận án đã xác định các phương hướng hoàn thiện pháp luật và tăng
cường điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động XNK là: hoàn thiện theo đúng
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về hoạt động XNK; đảm bảo tính
đồng bộ, thống nhất giữa pháp luật điều chỉnh hoạt độ
ng XNK với hệ thống
pháp luật ở Việt Nam; đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất giữa pháp luật
điều chỉnh hoạt động XNK với các tập quán quốc tế và điều ước quốc
tế Việt Nam đã tham gia ký kết.
3.3. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và tăng cường điều chỉnh
pháp luật đối với hoạt động XNK ở Việt Nam hiện nay
3.3.1.
Giải pháp chung
vai trò vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển của nền
kinh tế nói chung, của các hoạt động XNK nói riêng. Điều này thể hiện mối quan
hệ chặt chẽ giữa chính sách và pháp luật điều chỉnh hoạt động XNK.
1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến chính sách và pháp luật XNK và
những b
ước phát triển của pháp luật điều chỉnh hoạt động
XNK của Việt Nam
1.3.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến chính sách và pháp luật điều chỉnh
hoạt động XNK của Việt Nam
Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách và pháp luật XNK bao gồm
các yếu tố khách quan và chủ quan.
Những yếu tố khách quan cơ bản bao gồm: Thứ nhất, yêu cầu mở
rộ
ng thị trường cho hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu của các quốc gia khác. Thứ
hai, yêu cầu của các tổ chức quốc tế và khu vực trong việc mở cửa thị trường
và áp dụng các chính sách điều chỉnh pháp luật chung trong phạm vi các quốc
gia thành viên. Thứ ba, yêu cầu của quá trình chuyên môn hóa và phân công
10
sản xuất quốc tế. Thứ tư, sức ép về thị trường từ Trung Quốc, thị trường của
các nước ASEAN cũng có thể xem là một điểm đặc thù có tác động đến việc
xây dựng chính sách và pháp luật XNK của Việt Nam.
Những yếu tố chủ quan cơ bản bao gồm : Thứ nhất, đặc điểm tình
hình chính trị, kinh tế-xã hội Việt Nam thời k
ỳ trước khi tiến hành công cuộc
đổi mới toàn diện kinh tế xã hội. Thứ hai, nhận thức về vai trò và tính chất của
hoạt động XNK của cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam chưa thực sự phù
hợp với bản chất của quan hệ này. Thứ ba, năng lực sản xuất trong nước còn
thấp kém, năng lực cạnh tranh yếu cũng là một yếu tố được tính toán, cân
nhắc trong việc xây dựng chính sách và pháp luật đối với hoạt động XNK.
này, thể hiện ở một s
ố khía cạnh sau đây:
- Tồn tại những tiêu cực phát sinh trong quá trình doanh nghiệp
XNK thực hiện thủ tục hải quan;
- Những tiêu cực phát sinh trong quá trình cấp hạn ngạch, trong đó
các doanh nghiệp buộc phải có những chi phí không chính thức, thậm chí phải
đưa hối lộ để được cấp hạn ngạch;
- Tâm lý xin cho vẫn còn ảnh hưởng ở nhiều cơ quan, cán bộ quản lý
hoạt động nhà nước về XNK.
- Nhiều cán b
ộ quản lý nhà nước, đặc biệt là ở các địa phương, có
trình độ nhận thức pháp lý còn yếu, chưa bắt kịp với các yêu cầu trong điều
kiện mới để có thể hỗ trợ cho các doanh nghiệp kinh doanh XNK phát triển.
Mặt khác, ý thức pháp luật của những người kinh doanh XNK của
Việt Nam cũng còn nhiều vấn đề cần bàn. Ý thức pháp luật của nhiều doanh
nghiệp kinh doanh XNK tại Việt Nam hiện nay còn
ở mức thấp, xuất hiện xu
hướng chạy theo lợi nhuận trước mắt, lợi nhuận bằng mọi giá mà không chú
trọng chiến lược phát triển lâu dài, gây ảnh hưởng đến uy tín của các doanh
nghiệp khác Những vi phạm chủ yếu trong lĩnh vực XNK ở Việt Nam hiện
14
hạn như WTO. Việc hiểu rõ và nắm bắt cơ chế giải quyết tranh chấp trong
WTO cũng là một vấn đề chưa được các doanh nghiệp và cơ quan quản lý
nhà nước xem xét đúng mức.
2.2. Cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động XNK của Việt
Nam hiện nay
2.2.1 Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực hoạt động
XNK
Luận án phân tích khái quát hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước
hiện nay
2.1.1. Địa vị pháp lý của các chủ thể kinh doanh XNK ở Việt Nam
Qua phân tích thực trạng địa vị pháp lý của các chủ thể kinh doanh
XNK ở Việt Nam hiện nay, luận án nhận xét: Việc ghi nhận và bảo vệ quyền
kinh doanh XNK của các doanh nghiệp ở Việt Nam là cả một quá trình lâu dài
với xu thế là quyền này ngày càng được mở r
ộng, phù hợp với các chuẩn mực
của thế giới. Tuy nhiên, pháp luật của Việt Nam về vấn đề này cũng còn những
quy định cần phải sửa đổi, bổ sung hoặc cần phải có những hướng dẫn cụ thể để
áp dụng một cách thống nhất. Luận án tập trung phân tích các vấn đề cơ bản sau:
- Quy định thương nhân Việt Nam không có vốn đầu tư trực tiế
p của
nước ngoài được xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa không phụ thuộc vào ngành
nghề đăng ký kinh doanh chưa có những hướng dẫn thi hành cụ thể dẫn đến
việc áp dụng không thống nhất ở các địa phương. Trên thực tế, khi làm thủ
tục hải quan, cơ quan hải quan vẫn yêu cầu doanh nghiệp phải có đăng ký
kinh doanh đối với hoạt động XNK loại hàng hóa mà doanh nghiệp thực hiện
XNK.
- Một điểm mới của Luật Thương mại 2005 là việc công nhận các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập tại Việt Nam theo
pháp luật Việt Nam là thương nhân và là chủ thể của các hoạt động thương
mại, bao gồm hoạt động XNK. Tuy nhiên, theo quy định tại Nghị định
12/2006/NĐ-CP, quyền kinh doanh XNK có sự phân biệt giữa thương nhân
Việt Nam không có vốn đầu tư trực ti
ếp của nước ngoài và thương nhân có
vốn đầu tư nước ngoài, công ty và chi nhánh công ty nước ngoài tại Việt
Nam.
12
- Không giống như doanh nghiệp trong nước, quyền kinh doanh
13
nhập khẩu. Công tác xây dựng, ban hành và áp dụng các biện pháp phi thuế
tại thị trường nội địa chưa được chú ý đúng mức.
2.1.3. Pháp luật về tự vệ trong hoạt động XNK
Luận án đánh giá những quy định của Việt Nam về áp dụng các biện
pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu phù hợp với các quy định của WTO
trong Hiệp định về các biện pháp tự vệ và nhận xét:
- Việc rà soát lại toàn bộ các luật lệ và thủ tục liên quan đến tự vệ
hiện có ở cả cấp độ quốc gia và khu vực là bước đi cần thiết đầu tiên trong quá
trình đảm bảo tuân thủ đầy đủ các yêu cầu của Điều XIX của GATT và Hiệp
định Tự vệ.
- Các doanh nghiệp của Việt Nam cũng như cơ quan quản lý nhà nước
Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm trong vi
ệc áp dụng các biện pháp tự vệ đối
với hàng nhập khẩu vào Việt Nam.
2.1.4. Pháp luật về thanh toán trong hoạt động XNK
Hiện nay, các phương thức thanh toán phổ biến trên thế giới trong
lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế đã được pháp luật Việt Nam quy định cho
phép các thương nhân Việt Nam được áp dụng trong hoạt động XNK, bao
gồm: thanh toán bằng thư tín dụng (L/C), thanh toán nhờ thu, ủy nhiệm chi,
thanh toán bằng hối phiếu, Các t
ập quán quốc tế về thanh toán trong giao
dịch mua bán hàng hóa quốc tế cũng được pháp luật Việt Nam thừa nhận và
cho phép áp dụng như UCP 500.
2.1.5. Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong hoạt động XNK ở Việt
Nam.
Luận án đã phân tích các hình thức giải quyết tranh chấp trong hoạt
động XNK bao gồm thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án. Luận án cũng
nhận xét rằng hệ thống cơ quan giải quyết tranh chấ