Thống nhất pháp luật về đăng ký bất động sản ở việt nam - Pdf 10

Thống nhất pháp luật về đăng ký bất động sản
ở Việt Nam

Trần Ngọc Tú

Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật kinh tế; Mã số: 60 38 50
Ngƣời hƣớng dẫn: TS. Nguyễn Thúy Hiền
Năm bảo vệ: 2007

Abstract: Trình bày cơ sở lý luận, các tiền đề về kinh tế xã hội (KTXH) cho việc
thống nhất pháp luật về đăng ký bất động sản (ĐKBĐS) của Việt Nam trong điều kiện
duy trì chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Phân tích, đánh giá pháp luật về ĐKBĐS tại
Việt Nam qua các thời kỳ cũng nhƣ nêu lên thực trạng về tính thống nhất của pháp
luật về ĐKBĐS hiện hành. So sánh pháp luật và thực trạng hoạt động ĐKBĐS của
một số quốc gia có điều kiện KTXH gần gũi với Việt Nam, qua đó rút ra những kinh
nghiệm bổ ích. Kiến nghị một số phƣơng hƣớng và giải pháp nhƣ: cần ban hành một
đạo luật chung điều chỉnh tổng thể, đồng bộ, thống nhất công tác ĐKBĐS theo một
tiêu chí duy nhất là thẩm quyền theo địa hạt; tách bạch hoạt động ĐKBĐS với hoạt
động quản lý về mặt hiện trạng, kỹ thuật của BĐS, đồng thời xây dựng cơ chế phối
hợp, trao đổi thông tin giữa những cơ quan thực hiện chức năng này; hình thành một
hệ thống hồ sơ pháp lý thống nhất và duy nhất đối với mọi loại BĐS do một cơ quan
quản lý để đáp ứng yêu cầu và phát triển của thị trƣờng BĐS; hạn chế sự can thiệp của
các cơ quan hành chính vào thủ tục xác lập quyền dân sự về BĐS của ngƣời dân nhằm
thống nhất pháp luật về ĐKBĐS tại Việt Nam.

Keywords: Bất động sản; Luật kinh tế; Pháp luật Việt Nam; Đăng ký bất động sản

Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc thực hiện đề tài

tham gia giao dịch dân sự, kinh tế liên quan đến bất động sản. Thời điểm đăng ký là căn cứ để
xác định thứ tự ƣu tiên giữa các bên có quyền trong trƣờng hợp bất động sản là đối tƣợng của
nhiều giao dịch trên thị trƣờng bất động sản.
Tuy nhiên, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đăng ký bất động sản chƣa đầy đủ,
toàn diện, trong khi các quy định chƣa rõ ràng, đồng bộ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 48
Luật Đất đai năm 2003 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004), chủ sở hữu tài sản gắn liền
với đất "phải đăng ký quyền sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật về đăng ký bất động
sản" nhƣng hiện chƣa có Luật Đăng ký bất động sản, do vậy mới chỉ có quy định về đăng ký
đất đai theo Luật Đất đai, đăng ký quyền sở hữu nhà ở theo Luật Nhà ở năm 2005, đăng ký
quyền sở hữu công trình xây dựng theo Nghị định số 95/2005/NĐ-CP ngày 15/7/2005 của
Chính phủ về việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây
dựng. Nhìn chung, các quy định về đăng ký chƣa bao quát hết những vấn đề cần thiết, chƣa
bảo đảm các thông tin pháp lý phục vụ cho các loại bất động sản khi tham gia vào thị trƣờng.
Trong khi đó, các tài sản gắn liền với đất khác hiện vẫn chƣa có quy định về đăng ký.
Tổ chức và hoạt động đăng ký bất động sản còn nhiều vướng mắc, cụ thể như: các cơ
quan đăng ký bất động sản tổ chức phân tán, thẩm quyền bị chia cắt theo địa giới hành
chính, hoạt động đăng ký bất động sản triển khai chậm (ví dụ: cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị theo
Nghị định số 60/NĐ-CP mới đạt khoảng 25%); nhiều loại bất động sản chưa được tổ chức
đăng ký trên thực tế (công trình xây dựng…).
Về mặt lý luận: Bổ sung và làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến việc thống nhất
pháp luật về đăng ký bất động sản. Hiện nay, trong nền khoa học pháp lý của chúng ta còn
tồn tại không ít khoảng trống, cũng như những vấn đề chưa rõ ràng về đăng ký và giao dịch

3
liên quan đến bất động sản trong điều kiện nền kinh tế thị trường. Liên quan đến việc thống
nhất pháp luật đăng ký bất động sản, còn tồn tại một số vấn đề cần được làm rõ như: Các
nguyên tắc về đăng ký bất động sản; khái niệm đăng ký bất động sản; các tiền đề kinh tế xã
hội để thống nhất pháp luật về đăng ký bất động sản Bên cạnh đó, trong điều kiện chúng
ta thừa nhận chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai, cần phân tích so sánh giữa chế độ

việc thống nhất pháp luật hiện hành về đăng ký bất động sản của Việt Nam trên quan điểm hài
hòa các điều kiện về kinh tế - xã hội và xu hƣớng hội nhập.
Nhiệm vụ:
Với mục đích nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài đƣợc xác định là:
Thứ nhất, làm rõ cơ sở khoa học lý luận, các tiền đề kinh tế - xã hội cho việc thống nhất

4
pháp luật về đăng ký bất động sản của Việt Nam trong điều kiện duy trì chế độ sở hữu toàn
dân về đất đai.
Thứ hai, phân tích, đánh giá pháp luật đăng ký bất động sản tại Việt Nam qua các thời kỳ,
cũng nhƣ thực trạng về tính thống nhất của pháp luật về đăng ký bất động sản hiện hành.
Thứ ba, so sánh pháp luật và thực trạng hoạt động đăng ký bất động sản của một số quốc
gia có điều kiện kinh tế - xã hội gần gũi với Việt Nam, qua đó đúc rút những kinh nghiệm bổ
ích làm cơ sở để đƣa ra các giải pháp thống nhất pháp luật về đăng ký bất động sản nƣớc ta,
bảo đảm tính hội nhập quốc tế.
Thứ tư, kiến nghị phƣơng hƣớng cơ bản nhằm thống nhất pháp luật về đăng ký bất động
sản của Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Với mục đích và nội dung nghiên cứu khá rộng, tổng quát của đề tài, trong giới hạn về
quy mô và thời gian cho phép của một luận văn thạc sĩ luật học, ngƣời nghiên cứu chỉ tập trung
nghiên cứu các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động đăng ký bất động sản ở Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài đƣợc thực hiện trên cơ sở phƣơng pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa
Mác - Lênin và các phƣơng pháp nghiên cứu sau đây:
- Phƣơng pháp duy vật lịch sử: Tiến hành nghiên cứu trên cơ sở quá trình hình thành, phát
triển của pháp luật đăng ký bất động sản Việt Nam.
- Phƣơng pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: Đây là các phƣơng pháp quan trọng và đƣợc
sử dụng chủ yếu trong quá trình thực hiện luận văn.
- Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn: Sƣu tầm và phân tích các vụ việc thực tiễn có liên
quan để làm rõ thực trạng về tính thống nhất của pháp luật đăng ký bất động sản.

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
CỦA VIỆC THỐNG NHẤT PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ
BẤT ĐỘNG SẢN Ở VIỆT NAM
1.1. Khái quát chung pháp luật về đăng ký bất động sản
1.1.1. Khái niệm bất động sản
Căn cứ vào tính chất không di dời đƣợc của tài sản, pháp luật có sự phân chia tài sản
thành động sản và bất động sản. Đây là sự phân loại phổ biến và cơ bản nhất.
Pháp luật Việt Nam không có sự phân biệt quyền tài sản thành các quyền đối vật và
quyền đối nhân nhƣ một số nƣớc trên thế giới. Song, nếu hiểu quyền đối vật nhƣ trong khoa
học pháp lý nói chung thì Việt Nam có một số quyền đối vật đối với bất động sản nhƣ sau:
quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề, quyền cầm cố,
quyền thế chấp và một số quyền khác.
1.1.2. Đăng ký bất động sản
Hệ thống đăng ký quyền về bất động sản đƣợc hình thành trên cơ sở hệ thống đăng ký
Torrens.
Tại Việt Nam, việc đăng ký đối với bất động sản đã đƣợc pháp luật đề cập ngay khi
nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa mới đƣợc thành lập. Cho đến thời kỳ đổi mới, trƣớc yêu
cầu thực tiễn về sự hình thành và phát triển thị trƣờng bất động sản, hệ thống pháp luật về
bất động sản nói chung và đăng ký bất động sản nói riêng mới dần hình thành và liên tục
đƣợc bổ sung hoàn thiện. Tuy nhiên, những nội dung về đăng ký bất động sản trong pháp
luật vẫn có xu hƣớng nhằm mục đích chính là thực hiện chức năng quản lý Nhà nƣớc đối
với bất động sản.
Trong quy định của pháp luật hiện nay, thuật ngữ "đăng ký bất động sản" chƣa đƣợc sử
dụng.

6
1.1.3. Các hệ thống đăng ký bất động sản
Hệ thống đăng ký để xác lập quyền. Trong hệ thống này, chính việc đăng ký, chứ không
phải giao dịch hay sự kiện pháp lý, tạo ra quyền. Các giao dịch, sự kiện pháp lý chỉ là điều
kiện cần cho việc xác lập quyền. Còn việc đăng ký là điều kiện đủ, thiết lập một bằng chứng

năng đối với bất động sản thông qua cơ chế đăng ký bất động sản, ghi nhận trong sổ sách
thì sẽ làm cản trở việc tiếp cận tín dụng.
Bằng một hệ thống đăng ký bất động sản thống nhất, Nhà nƣớc tác động vào thị trƣờng,
hƣớng dẫn thị trƣờng, một cách trực tiếp có hiệu quả theo hƣớng hạn chế sự lòng vòng,

7
thúc đẩy hạch toán kinh tế, giảm bớt chi phí, giảm giá thành trong hoạt động kinh doanh bất
động sản.
1.3.2. Chính sách pháp luật- cơ sở để hoàn thiện hệ thống pháp luật về đăng ký bất
động sản
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định một trong
những mục tiêu tổng quát của Chiến lược 10 năm (2001-2010) là "thể chế kinh tế thị trƣờng
định hƣớng xã hội chủ nghĩa đƣợc hình thành về cơ bản". Để thực hiện mục tiêu này, một
trong những nhiệm vụ quan trọng là phải "hình thành và phát triển thị trƣờng bất động sản,
bao gồm cả quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; từng bƣớc mở thị trƣờng bất động
sản cho ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài và ngƣời nƣớc ngoài tham gia đầu tƣ".
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X một lần nữa đã chỉ ra: "Phát triển thị
trường bất động sản, bao gồm thị trường quyền sử dụng đất và bất động sản gắn liền với đất;
bảo đảm quyền sử dụng đất chuyển thành hàng hóa một cách thuận lợi, làm cho đất đai thực
sự trở thành nguồn vốn cho phát triển, thị trường bất động sản trong nước có sức cạnh tranh
so với thị trường khu vực, có sức hấp dẫn các nhà đầu tư. Nhà nước vừa quản lý tốt thị
trường bất động sản, vừa là nhà đầu tư bất động sản lớn nhất. Hoàn thiện hệ thống luật pháp
về kinh doanh bất động sản".
1.4. Pháp luật đăng ký bất động sản trong lịch sử
1.4.1. Pháp luật đăng ký bất động sản thời kỳ phong kiến
- Pháp luật đăng ký bất động sản thời Lê (thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII).
- Pháp luật dân sự thời Nguyễn (từ năm 1802 đến năm 1945).
1.4.2. Pháp luật đăng ký bất động sản thời kỳ Pháp thuộc
1.4.3. Pháp luật đăng ký bất động sản từ năm 1945 đến trước năm 2003
- Giai đoạn 1945- 1975.

mình đối với đất.
1.5.5. Một số nhận xét, đánh giá về pháp luật đăng ký bất động sản các nƣớc trên
Ở các nƣớc theo nền kinh tế thị trƣờng, vấn đề đăng ký bất động sản chủ yếu là nhằm
công khai hóa các quyền liên quan đến bất động sản, phục vụ cho hoạt động của thị trƣờng bất
động sản và các giao dịch khác liên quan đến bất động sản.
Nhiều nƣớc đã chuyển từ quá trình đăng ký chứng thƣ sang đăng ký các quyền. Cho đến,
nay hầu hết các nƣớc đều thực hiện việc đăng ký quyền đối với bất động sản.
Pháp luật đăng ký bất động sản của hầu hết các nƣớc cũng đều quy định về việc đăng ký
hiện trạng bất động sản, trong đó có các quy định rất cụ thể về các quy tắc mô tả chi tiết, rõ
ràng và chính xác hiện trạng bất động sản trong Sổ đăng ký.

Chương 2
THỰC TRẠNG VỀ TÍNH THỐNG NHẤT CỦA PHÁP LUẬT ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG
SẢN Ở VIỆT NAM
2.1. Pháp luật đăng ký bất động sản hiện hành
Pháp luật về đăng ký bất động sản Việt Nam phân chia thành những quy định riêng theo
từng đối tƣợng bất động sản nhƣ: nhà ở, công trình xây dựng, rừng sản xuất là rừng trồng.
2.1.1. Pháp luật về đăng ký đất đai
Xuất phát từ chế độ Nhà nƣớc thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với đất đai, Luật Đất
đai năm 2003 đã không đƣa ra khái niệm "đăng ký đất đai" nhƣ các quy định của pháp luật
trƣớc đó mà chỉ có khái niệm "đăng ký quyền sử dụng đất". Tuy nhiên, dƣới góc độ khoa học
pháp lý thì hoạt động đăng ký đất đai đƣợc hiểu bao gồm đăng ký hiện trạng đất đai và đăng
ký quyền sử dụng đất. Trong đó, đăng ký hiện trạng đất đai là một trong những nội dung quản
lý nhà nƣớc về đất đai đƣợc quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật Đất đai 2003.

9
Theo quy định hiện hành, thì đăng ký lần đầu về hiện trạng đất đƣợc thực hiện đồng thời
với đăng ký để đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất là chứng thƣ pháp lý của nhà nƣớc nhằm ghi nhận quyền của ngƣời sử dụng đất.
2.1.2. Pháp luật về đăng ký quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng

xác lập quyền và giao dịch đối với từng loại bất động sản (nhà, đất, các công trình xây dựng
khác…). Sự phân tán của quy định pháp luật về đăng ký bất động sản đã dẫn đến sự chồng
chéo, không thống nhất.
Khi tham gia thị trƣờng về bất động sản, công trình xây dựng, nhà ở và đất thƣờng có mối
quan hệ mật thiết nhƣng quy định hiện hành đã tách biệt thậm chí thành 3 loại BĐS này theo

10
3 cơ chế quản lý, 3 cơ chế đăng ký, 3 hệ thống pháp luật điều chỉnh theo 3 trình tự, thủ tục
đăng ký.
Không chỉ thiếu thống nhất, quy định về đăng ký bất động sản cũng chƣa đầy đủ. Ví dụ
nhƣ trƣờng hợp bất động sản đã bị hạn chế quyền sử dụng do việc xác lập quyền địa dịch theo
thỏa thuận. Nhƣng thỏa thuận đó không đƣợc ghi nhận, đƣa vào "lý lịch" của bất động sản nên
chủ sở hữu tiếp theo của bất động sản thƣờng không chấp nhận những hạn chế đó, dẫn đến
tranh chấp.
2.2.2. Sự phân tán của cơ quan đăng ký bất động sản:
Đặc điểm nổi bật của hệ thống cơ quan đăng ký bất động sản ở nƣớc ta là sự phân tán
của cơ quan đăng ký. Đặc điểm này phù hợp với tƣ duy coi đăng ký bất động sản là một nội
dung của hoạt động quản lý nhà nƣớc đối với bất động sản, đồng nhất hoạt động đăng ký bất
động sản với việc Nhà nƣớc công nhận quyền về bất động sản.
2.3. Ảnh hƣởng của sự phân tán pháp luật về đăng ký bất động sản trong thực tiễn
2.3.1. Công tác đăng ký bất động sản
Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, tiến độ cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất rất chậm, trong khi đây là đối tƣợng chủ yếu của giao dịch trên thị trƣờng bất động
sản.
Ba năm sau khi Luật Đất đai ra đời, Luật Nhà ở có hiệu lực ngày 1/7/2006 đã nối lại việc
cấp "sổ hồng". Giải pháp đƣa ra đối với những "sổ đỏ" theo Nghị định 181/2004/NĐ-CP là
nếu nhà đất đã có "sổ đỏ" thì đƣợc cấp thêm một "sổ hồng" (Nghị định 90/2006/NĐ-CP),
hoặc ngƣời dân có thể chuyển từ "sổ đỏ" sang "sổ hồng" để có một giấy duy nhất. Đứng dƣới
góc độ hành chính, chỉ chƣa đến 3 năm đƣợc cấp, một số "sổ đỏ" đã bị lỗi thời. Tính riêng ở
Thành phố Hồ Chí Minh đã có hơn 100.000 căn nhà vƣớng vào trƣờng hợp này. Nếu chỉ lấy

sản ở Việt Nam
Việc thống nhất pháp luật về đăng ký bất động sản cần đạt đƣợc những yêu cầu về lý luận
và thực tiễn cơ bản sau đây:
Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về đăng ký bất động sản, đảm bảo sự đồng bộ, tính khả
thi của các quy định có liên quan trong Bộ luật dân sự, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật
Kinh doanh bất động sản, Luật Nhà ở. Đây là mục tiêu hết sức quan trọng bởi vì nhƣ đã
phân tích ở trên, pháp luật hiện hành về đăng ký bất động sản quy định tản mạn tại nhiều
văn bản với sự chia cắt về thẩm quyền đăng ký và sự không thống nhất trong quy trình
đăng ký.
Thứ hai, xây dựng cơ chế quản lý nhà nƣớc về đăng ký bất động sản, mô hình cơ quan
đăng ký và xây dựng trình tự, thủ tục đăng ký bất động sản đơn giản, khoa học nhằm đảm
bảo hoạt động đăng ký đƣợc thông suốt, nhanh chóng và tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ
chức.
Thứ ba, các quy định về đăng ký bất động sản phải nhằm góp phần đảm bảo sự an
toàn pháp lý cho các bên khi tham gia giao dịch về bất động sản; góp phần bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, chủ sử dụng bất động sản và cá nhân, tổ chức có liên
quan.
Thứ tƣ, pháp luật về đăng ký bất động sản phải đáp ứng mục tiêu có đầy đủ thông tin về
bất động sản để cung cấp cho mọi cá nhân, tổ chức có nhu cầu tìm hiểu.
Thứ năm, tạo điều kiện để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc đối với thị trƣờng bất
động sản; lập lại trật tự quản lý các giao dịch về bất động sản, tránh tình trạng giao dịch
ngầm, vì cơ quan nhà nƣớc có đƣợc những thông tin quan trọng giúp cho việc hoạch định
chính sách quản lý và phát triển thị trƣờng bất động sản. Đồng thời, thực hiện đổi mới về quản
lý nhà nƣớc và cơ quan đăng ký theo các yêu cầu của cải cách hành chính.

12
Thứ sáu, khắc phục tình trạng pháp luật về đăng ký bất động sản còn phân tán, thiếu
thống nhất, không đồng bộ và nhiều Luật cùng điều chỉnh về một vấn đề. Từ đó, góp phần
hoàn thiện pháp luật về đăng ký bất động sản của nƣớc ta.
3.2. Phƣơng hƣớng và giải pháp thống nhất pháp luật về đăng ký bất động sản ở việt nam

đối với bất động sản cho một ngƣời, nhƣng quyền đó lại bị bác bỏ bởi Tòa án sau đó, thì những
thiệt hại mà ngƣời thứ ba phải gánh chịu do việc xác lập quyền không đúng sẽ do ai bồi
thƣờng?
3.2.6. Xác định thẩm quyền đăng ký bất động sản theo một tiêu chí duy nhất là thẩm
quyền theo địa hạt

13
Việc xây dựng mô hình cơ quan đăng ký bất động sản cần đƣợc phân tích, xem xét ở mức
độ tập trung hóa thẩm quyền đăng ký bất động sản: đăng ký tập trung các quyền, giao dịch
liên quan đến bất động sản trên cơ sở tách biệt với các hoạt động đăng ký mang tính kỹ thuật
liên quan đến bất động sản đó.
Cơ quan đăng ký bất động sản sẽ thực hiện việc ghi nhận về chế độ pháp lý của bất động
sản một cách tập trung, thống nhất đối với mọi bất động sản. Còn việc ghi nhận mang tính kỹ
thuật về hiện trạng của từng loại bất động sản sẽ do các cơ quan quản lý chuyên ngành thực
hiện nhằm phục vụ yêu cầu quản lý nhà nƣớc đối với loại bất động sản đó.

KẾT LUẬN
1. Quá trình nghiên cứu và phân tích đã cho thấy bản chất của việc đăng ký bất động sản
là thống nhất. Đó là sự gắn kết chặt chẽ giữa hai hoạt động đăng ký hiện trạng và đăng ký các
quyền với chung một mục đích xác lập hiện trạng, lý lịch bất động sản và công khai hóa các
thông tin phục vụ cho thị trƣờng bất động sản.
2. Việc phân chia các quy định về đăng ký bất động sản nằm rải rác ở nhiều văn bản khác
nhau, điều chỉnh những loại bất động sản khác nhau, theo những nguyên tắc khác nhau đã tạo
ra những mâu thuẫn, bất cập và thiếu thống nhất trong bản thân hệ thống. Đó là nguyên nhân
cơ bản dẫn đến những khó khăn và lúng túng trong quá trình thực thi, làm giảm hiệu quả điều
chỉnh của pháp luật.
Sự thiếu thống nhất của pháp luật về đăng ký bất động sản còn tạo ra một môi trƣờng
pháp lý thiếu minh bạch, hạn chế sự phát triển của các giao dịch, kìm hãm thị trƣờng chính
thức dẫn đến ngƣời dân lựa chọn các giao dịch ngầm mang nhiều rủi ro.
Thực trạng của pháp luật về đăng ký bất động sản đòi hỏi phải có những giải pháp giải

BTNMT-BNV ngày 31/12 hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức
của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, Hà Nội.
5. Bộ Tƣ pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng (2003), Thông tư liên tịch số
03/2003/TTLT/BTP-BTNMT ngày 04/07 hướng dẫn về trình tự, thủ tục đăng ký và
cung cấp thông tin về thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền
với đất, Hà Nội.
6. Bộ Tƣ pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng (2005), Thông tư liên tịch số
03/2006/TTLT/BTP-BTNMT ngày 13/6 sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông
tư liên tịch số 05/2005/TTLT/BTP-BTNMT ngày 16/6/2005 của Bộ Tư pháp và Bộ
Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng
quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, Hà Nội.
7. Bộ Tƣ pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng (2005), Thông tư liên tịch số
05/2005/TTLT-BTP-BTNMT ngày 16/6 về hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo
lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, Hà Nội.
8. Bộ Tƣ pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng (2006), Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-
BTP-BTNMT ngày 13/6 hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực
hiện quyền của người sử dụng đất, Hà Nội.
9. Bộ Tƣ pháp, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng và Ngân hàng Nhà nƣớc
(2007), Thông tư liên tịch số 05/2007/TTLT-BTP-BXD-BTNMT-NHNN ngày 21/5

15
hướng dẫn một số nội dung về đăng ký thế chấp nhà ở, Hà Nội.
10. Bộ Xây dựng (2006), Thông tư số 05/2006/TT-BXD ngày 6/9 hướng dẫn thực hiện Nghị
định 90/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành Luật Nhà ở, Hà Nội.
11. Chính phủ (2004), Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10 hướng dẫn thi hành Luật Đất
đai, Hà Nội.
12. Chính phủ (2005), Nghị định số 95/2005/NĐ-CP ngày 15/7 về việc cấp giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng, Hà Nội.
13. Chính phủ (2006), Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3 về thi hành Luật Bảo vệ và

29. Hoàng Xuân Liêm (1998), "Luật so sánh và vấn đề nhất thể hóa pháp luật", Nhà nước và
pháp luật, (7).
30. Nguyễn Văn Luyện (1999), "Luận cứ khoa học của việc xây dựng pháp luật kinh tế ở
Việt Nam", Nhà nước và pháp luật, (10).
31. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 37, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
32. Đinh Thị Mai Phƣơng (2005), Thống nhất luật hợp đồng ở Việt Nam, Nxb Tƣ pháp, Hà
Nội.
33. Đặng Trƣờng Sơn (2007), "Pháp luật về đăng ký bất động sản trong điều kiện nền kinh tế
thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa", Kỷ yếu Hội thảo: Pháp luật về đăng ký
bất động sản, ngày 10/1, Hà Nội.
34. Nguyễn Đăng Sơn (2007), "Đăng ký bất động sản", Kỷ yếu Hội thảo: Pháp luật về đăng
ký bất động sản, ngày 10/1, Hà Nội.
35. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (2005), Thuật ngữ pháp luật dân sự, số chuyên đề về Bộ luật
Dân sự, Hà Nội.
36. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (2006), Số chuyên đề về bất động sản, Hà Nội.
37. Nguyễn Khánh Thắng (2006), "Một số bất cập và kiến nghị liên quan đến việc đăng ký
thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất", Ngân hàng,
(5).
38. Thông tin Khoa học pháp lý (2006), Chuyên đề đăng ký quyền sử dụng đất ở Việt Nam và
hệ thống đăng ký bất động sản của một số nước trên thế giới, (3+4).
39. Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (2001), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội.

17
40. Trần Đông Tùng (2006), "Mô hình cơ quan đăng ký bất động sản- kinh nghiệm quốc tế và
vấn đề của Việt Nam", Tham luận tại Hội thảo: Pháp luật đăng ký bất động sản, do
Ủy ban Pháp luật của Quốc hội tổ chức năm 2006, Quảng Ninh.
41. Đào Trí Úc (2001), "Những nội dung cơ bản của khái niệm hệ thống pháp luật nƣớc ta và
các nguyên tắc lập pháp", Nghiên cứu lập pháp, (10).
42. Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status