LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian tìm hiểu và nghiên cứu , đề tài của chúng em đã hoàn
thành . Tuy có nhiều cố gắng , song với thời gian có hạn & lượng kiện thức còn
hạn chế - nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót . Chúng em mong nhận
được sự chỉ bảo của các thầy cô và sự góp ý của các bạn để đạt kết quả tốt hơn
trong những lần nghiên cứu sau .
Chúng em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Thầy giáo TS. Nguyễn Hồi
Loan – người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ chúng em trong quá trình nghiên cứu .
Chúng em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới thầy Trần Thành Nam
cung các Thầy Cô trong khoa đã dạy bảo chúng em học tập và giúp đỡ chúng em
hoàn thành báo cáo này .
Chúng em cũng chân thành cảm ơn Ban giám hiệu va học sinh các trường
Quang Trung, Trần Phú, Đinh Tiên Hoàng đã nhiệt tình giúp đỡ trong quá trình
thu số liệu thực tế để hoàn chỉnh báo cáo .
Các tác giả : Trần Ngọc Ánh
Đỗ Minh Phương
Nguyễn Thanh Huyền
MỤC LỤC
NỘI DUNG TRANG
Phần I: Những vấn đề chung 02
I. Lí do chon đề tài 02
II. Đối tượng- khách thể- phạm vi nghiên cứu 03
III. Mục đích- nhiệm vụ nghiên cứu 04
IV. Phương pháp nghiên cứu 04
V. Giả thuyết nghiên cứu 04
VI. Kế hoạch nghiên cứu 05
Phần II: Nội dung chính 06
Chương I: Cơ sở lí luận 06
A. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 06
I. Lịch sử nghiên cứu thái độ 06
phá thai ở tuổi vị thành niên (VTN ) ngày càng cao…( Theo thống kê của tổ chức
Y tế thế giới thì ở Việt Nam, số lần sinh của các bà mẹ tuổi dưới 19 chiếm 15%
tổng số lần sinh trong cả nước và 30% tổng số lần nạo phá thai ở những em gái
chưa kết hôn. )
Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm tới việc giáo dục giới tính trong lứa tuổi
VTN , đây là việc làm rất cần thiết trong công tác giáo dục toàn diện thế hệ trẻ
(bên cạnh việc giáo dục về văn hoá…) để đáp ứng sự kỳ vọng của xã hội, đó là
đào tạo thế hệ vừa có tri thức khoa học, vừa có sức khoẻ… phục vụ nhu cầu xây
dựng và bảo vệ tổ quốc .
Trên thế giới cũng như ở nước ta , những vấn đề liên quan đến SKSSVTN
đang nổi cộm lên và là mối quan tâm lớn của cộng đồng , của xã hội bởi hai lý do
sau:
- Bối cảnh xã hội hiện đại có nhiều nguy cơ đe doạ đến SKSSVTN
- GDSKSS vừa đem lại lợi ích, vừa phát huy được tiềm năng của chính cá
nhân đó.
Từ những thực tế nói trên, chúng ta thấy sự quan tâm đến giáo dục và bảo
vệ SKSSVTN đã trở thành một vấn đề cấp bách, không chỉ là nhiệm vụ của ngành
y tế mà là của toàn xã hội. Nó thực sự cần thiết trong giáo dục toàn diện, kiểm
soát dân số và bảo vệ con người. Nhận thức được vấn đề trên , chúng tôi tiến hành
đi sâu tìm hiểu vấn đề GDSKSSVTN - một trong những vấn đề cốt yếu của giáo
dục giới tính (GDGT) nói riêng và giáo dục con người nói chung .
3
Hiện nay, một số trường phổ thông đã áp dụng GDSKSSVTN trong nhà
trường dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau. Có rất nhiều tổ chức xã hội
với những hoạt động đoàn thể đã quan tâm tới vấn đề đó và triển khai các hoạt
động giáo dục. Phần lớn xoay quanh nghiên cứu về cơ sở hình thành và những
hiểu biết cần thiết thiết về giới tính, những yếu tố và mức độ ảnh hưởng của môi
trường xã hội tới sự phát triển của thế hệ trẻ, từ đó đưa ra những cảnh báo, những
nguy cơ có thể xảy ra và đề xuất những giải pháp cần thiết để cải thiện tình hình.
Học sinh phổ thông ( hspt ) là đối tượng trực tiếp cần được giáo dục về vấn
2.1. Nghiên cứu lý luận: Tìm hiểu về lịch sử vấn đề nghiên cứu, các tài
liệu và khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận cho
đề tài.
2.2. Nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát 150 học sinh PTTH để tìm hiểu thái
độ của các em khi được giáo dục SKSSVTN qua bảng hỏi và phỏng vấn sâu, từ
đó phân tích kết quả điều tra để đưa ra kết luận và những kiến nghị nhằm nâng
cao thái độ tích cực của các em cũng như nâng cao hiệu quả của vấn đề giáo dục
SKSSVTN.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1. Nghiên cứu tài liệu: Sử dụng các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên
cứu (giáo trình, sách, báo, khoá luận…) để xây dựng cơ sở lý luận, phân tích kết
quả của đề tài nghiên cứu.
2. Điều tra bằng bảng hỏi (Ankét): Là phương pháp nghiên cứu chính để
thu thập số liệu thực tế cho đề tài nghiên cứu bằng hệ thống các câu hỏi đóng và
câu hỏi mở.
3. Phương pháp phỏng vấn sâu: Kết hợp với phương pháp Ankét để bổ
sung, làm rõ những vấn đề mà bảng hỏi chưa làm rõ được.
4. Phương pháp thống kê toán học. Sử dụng chương trình SPSS để xử lý
số liệu điều tra.
5
V. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU .
Học sinh có nhiều thái độ khác nhau, đa số đều có thái độ tích cực trên cơ
sở nhận thức được tầm quan trọng của việc tìm hiểu về SKSSVTN. Tuy nhiên,
hiệu quả của việc áp dụng những hiểu biết về SKSS chưa cao, dẫn tới nhiều
trường hợp đáng tiếc xảy ra.
VI. KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU.
1. Thời gian nghiên cứu:
- Từ 11/8/2003 - 31/8/2003: Tiếp cận đề tàI và lập kế hoạch nghiên cứu.
- Từ 1/9/2003 - 15/9/2003: Soạn thảo đề cương tổng quát.
- Từ 16/9/2003 - 31/12/2003: Tiếp cận chi tiết vấn đề bằng các phương
(1, tr 138). Yêu cầu được đưa ra là nghiên cứu thái độ ở các cấp cá nhân và xã
hội. Chính từ nghiên cứu này mà bùng nổ các cuộc chiến tranh khác nhau khi
nghiên cứu thái độ.
- Thời kỳ 1940 - cuối 1950: Nét nổi bật trong nghiên cứu thái độ thời kỳ
này là sự hoài nghi vai trò của thái độ trong việc chi phối hành vi. Kết luận của La
piere đã đặt cơ sở cho chủ nghĩa hoài nghi và khiến cho sự quan tâm của các nhà
tâm lý học đối với vấn đề thái độ xã hội bị giảm sút (1, tr 320).
7
- Thời kỳ cuối 1950 - nay: Đây là thời kỳ phục hồi, tái phát triển trở lại,
xuất hiện nhiều ý tưởng, quan điểm mới nhưng cũng kèm theo thực trạng khoa
học (1, tr 318). Thái độ đã có vị trí xứng đáng trong tâm lý học xã hội. Đặc điểm
mới của thời kỳ này là việc xuất hiện các thang thái độ như “phương pháp”,
“đường ống giả vờ” của edward joner và harold sigall (1971) cho phép đo thái độ
một cách chính xác.
Bên cạnh đó, các nhà tâm lý học cũng đưa ra những lý thuyết lý giải mối
quan hệ giữa thái độ và hành vi “bất đồng nhận thức” (thuyết tự bào chữa- 1957),
leon festinger cho rằng “bất đồng nhận thức diễn ra khi thái độ mâu thuẫn với
hành vi tự nhiên, sự căng thẳng giữa các hành vi và thái độ đó được chúng ta làm
giảm bớt bằng cách tự bào chữa cho suy nghĩ chứ không phải hành động của
mình” (1, tr 333).
Cũng nghiên cứu về mối quan hệ giữa thái độ và hành vi, allan wicher
(1969) sau khi nghiên cứu tổng kết các vấn đề đã đưa ra kết luận: “Thái độ của
con người hình như chẳng dự báo gì hành vi của họ” (1, tr 327).
shikhirep cho rằng, đặc điểm của thực trạng nghiên cứu thái độ ngày nay ở
phương tây là có nhiều công trình và phương pháp nghiên cứu thái độ nhưng lại
bế tắc về phương pháp luận trong việc lý giải các số liệu thực nghiệm (2, tr 9).
2. Nghiên cứu thái độ trong tâm lý học Liên Xô (cũ).
Thái độ trong tâm lý học Liên Xô chịu sự chi phối rất lớn vào nền tảng tâm
lý học hoạt động của A.N.Lêonchiep, thuyết tâm thế của P.N.Uznatre, thuyết định
vị của Iadov và thuyết thái độ nhân cách của Miaxiev.
nhất định, nhiều người thường có những phản ứng tức thì, tiếp nhận dễ dàng hay
khó khăn, đồng tình hay chống đối như đã có sẵn, nhưng cơ cấu tâm lý tạo ra định
hướng cho việc ứng phó. Từ những thái độ sẵn có, tri giác về đối tượng cũng như
tri thức bị chi phối, về vận động thì thái độ gắn liền với tư thế” (4, tr 356). Ta thấy
9
quan điểm: thái độ đối với một đối tượng nào đó sẽ chi phối hoạt động của họ với
đối tượng ấy.
Trong cuốn “sổ tay tâm lý học xã hội” của William Mc Guice thì “thái độ
và sự thay đổi thái độ vẫn là một trong những đề tài được nghiên cứu nhiều nhất
trong tâm lý học xã hội. Sự cố gắng của các nhà tâm lý học trong nghiên cứu về
thái độ nhằm hiểu rõ, dự đoán, kiểm soát và thay đổi hành vi của con người đã
mang lại rất nhiều kết quả”. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, thái độ là một khái
niệm tâm lý học khó xác định một cách chính xác. Vì vậy, mặc dù được nghiên
cứu nhiều nhưng còn gây nhiều tranh cãi (5, tr 317).
II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC SKSSVTN.
Chưa bao giờ GDGT, đặc biệt là GDSKSS được quan tâm nhiều như hiện
nay trên phạm vi toàn thế giới, nhất là sau 2 hội nghị quốc tế ở Cairo 1994 (dân số
và phát triển) và Bắc Kinh 1995 (diễn đàn phụ nữ) vì xã hội đã nhận thấy những
nguy cơ hiển nhiên của việc không coi trọng đúng mức ý nghĩa giáo dục và phòng
ngừa của bộ môn khoa học này, đặc biệt là những nước đang phải đối phó với
những vấn đề hành vi xã hội và hành vi tính dục của vị thành niên
ở một số nước trên thế giới vấn đề này đã trở thành môn học cụ thể trong
nhà trường. Giáo dục mối quan hệ nhân văn và có trách nhiệm giữa nam và nữ
(Nam Tư cũ)
- Giáo dục đời sống gia đình (Thái Lan)
- Vệ sinh tình dục (Thuỵ Điển)
Ở Thái Lan, vào giữa những năm 70, hoạt động tình dục ở thanh thiếu niên
tăng mạnh, vấn đề này làm đau đầu chính phủ ở thời kỳ đó. Trên 60% thiếu niên
nam quan hệ tình dục với bạn gái hoặc gái điếm. Chính phủ Thái Lan đã chấp
nhận triển khai chương trình giáo dục về SKSSVTN ở trường học.
Mỹ là W.L.Thomas và F.Znanieki vào năm 1918: “Thái độ là trạng thái tinh thần
của cá nhân đối với giá trị” (1, tr 318). Đến năm 1935, G.W.Allport cho rằng:
11
“Thái độ là trạng thái sẵn sàng về tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua
kinh nghiệm, sử dụng sự điều chỉnh mọi ảnh hưởng năng động trong phản ứng
của cá nhân với tất cả các khách thể và tình huống mà nó có mối quan hệ”.
T.Newcomb lại đưa ra định nghĩa: “Thái độ là thường hướng hoạt động
nhận thức, tư duy, cảm nhận của chủ thể với khách thể liên quan” (1, tr 319).
Theo đó, ông cho rằng thái độ nhận định đối với khách thể sẽ quy định sự sẵn
sàng phản ứng của chủ thể.
R.Martens thì định nghĩa: “Thái độ là xu hướng thường xuyên đối với các
tình huống xã hội, nó biểu thị sự thống nhất của ý nghĩ, tình cảm và hoạt động;
thái độ của con người có mối quan hệ chặt chẽ với hành vi bởi thái độ được xác
định bằng tính thống nhất bên trong (9, tr 16). Ông khẳng định thái độ là một cấu
trúc có hệ thống, thái độ được biểu hiện ra hành vi và thể hiện cho những ý nghĩ,
tình cảm bên trong của con người.
Miaxiev lại điều tra khái niệm thái độ dưới góc độ tâm lý học nhân cách:
“Thái độ là nòng cốt của nhân cách, là điều kiện khách quan bên trong của hệ
thống các hành vi của con người”.
Qua các khái niệm trên, ta thấy rõ các tác giả đều khẳng định khía cạnh tâm
lý cá nhân trong thái độ. Họ đều có chung quan điểm cho rằng thái độ là cái rất
riêng của cá nhân như là sự sẵn sàng ổn định của cá nhân hay là cơ thể. Những
thực sự thì thái độ không chỉ đề cập đến khía cạnh cá nhân, mà phải được xem xét
trong mối quan hệ với những yếu tố khác mang tính chất phức tạp và đa dạng của
xã hội, thậm chí ngay trong mỗi cá nhân đã bao hàm yếu tố xã hội.
Trong từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), cho rằng: “Thái độ là tổng
thể nói chung những biểu hiện ra bên ngoài (nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động)
có ý nghĩa, tình cảm của cá nhân đối với con người hay sự việc nào đó; là cách
nghĩ, cách nhìn, cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề…” (6,
tr 356).
ngoài.
- Thái độ luôn luôn phát triển trong sự phụ thuộc và tồn tại xã hội có thực
- Thái độ cần được coi như các hệ thống chức năng, xem xét về mặt sinh lý
học thần kinh.
3. Chức năng của thái độ.
Chúng ta có khả năng ứng xử trong các tình huống tâm lý khác nhau theo
công thức nhất định, phần nhờ kiểu mẫu thái độ xã hội mà chúng ta có. Nó có vai
trò rất lớn trong đời sống tâm lý, thái độ hình thành nhằm thoả mãn nhu cầu nào
đó của con người. Các nghiên cứu này cho rằng thái độ có những chức năng sau:
- Chức năng : Thể hiện ở việc chúng ta biết ứng xử như thế nào trong các
tình huống khác nhau một cách phù hợp để tiết kiệm thời gian và công sức.
- Chức năng thích nghi: Chúng ta thường sống trong nhóm nhất định, áp
lực của nhóm là rất lớn, làm chúng ta có xu hướng thoả hiệp hoặc a dua. Thái độ
giúp cá nhân hướng tới đối tượng, nhằm đạt mục đích bằng thái độ được mọi
người ủng hộ và chấp nhận.
- Chức năng biểu hiện: Là phương tiện giúp con người giải toả những ức
chế nội tâm và thể hiện mình như một nhân cách.
- Chức năng tự bảo vệ: Trong tình huống xung đột nội tâm, cá nhân thường
tìm cách tự bào chữa, tìm lý do giải thích để hợp lý hoá hành vi của mình. Điều
này dẫn tới sự thay đổi thái độ tương ứng. Thái độ mới giúp chúng ta tránh những
xung đột mới có thể xảy ra.
4. Cấu trúc của thái độ
Năm 1842, M.Smith đưa ra 3 thành phần trong cấu trúc thái độ . Cấu trúc
của thái độ bao hàm 3 mặt : nhận thức- Xúc cảm, tình cảm-Hành vi
Nhận thức : là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm của Xã hội loài
người, tuy nhiên nó không chỉ đơn thuần là sự tiếp nhận tri thức mà còn là cả quá
trình nhận biết khấm phá bản chất vấn đề. Nhận thức chính là sự hiểu biết của con
14
người về đối tượng cảu thái độ, cho dù sự hiểu biết đó là đúng hay sai, có tương
ứng hay không. Điều đó có nghĩa là khi một sự vật hiện tượng, một tình huống tác
học sinh phổ thông khi được giáo dục SKSSVTN trong nhà trường thì phải thông
qua nhận thức, xúc cảm - tình cảm và hành động của các em đó.
5. Các yếu tố quyết định đến sự hình thành và phát triển thái độ:
Một số ý kiến cho rằng thái độ là bẩm sinh (VD: Thích khoái cảm hơn đau
đớn). Tuy nhiên, đa số các nhà Tâm lý học đều cho rằng phần lớn thái độ dược
hình thành trong quá trình phát triển nhân cách. Có rất nhiều yếu tố quyết định đối
với sự hình thành và phát triển thái độ, trong đó có 4 yếu tố cơ bản sau đây:
5.1. Thái độ của cá nhân hình thành trong quá trình thoả mãn nhu cầu
Con người hình thành và phát triển các thái độ nhằm thoả mãn các nhu cầu
của mình. Người ta sẽ hình thành thái độ tích cực với khách thể có lợi, tiêu cực
với các khách thể có hại trên con đường đạt tới mục đích nào đó để thoả mãn các
nhu cầu với khách thể có lợi, tiêu cực với các khách thể có hại cho họ trên con
đường đạt tới mục đích nào đó để thoả mãn các nhu cầu nhất định của họ. Thực tế
thái độ có thể phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau do đó có các nhu cầu khác
nhau có thể hình thành trên một thái độ.
5.2. Thái độ của cá nhân được hình thành trong quá trình lĩnh hội các
thông tin
Các thông tin mới thường hình thành nên các thái độ: phù hợp, hài hoà với
các thái độ có liên quan đã tồn tại trước đó (theo Cartwright, D , & Hanary, F :
of Herder’s theory). Tuy nhiên không phải thái đô nào cũng phản ánh đúng thực
tế, ví dụ: thái độ thành kiến, khuôn mẫu, mê tín dị đoan, ảo tưởng , những kiểu
thái độ không có tính hợp lí, thiếu thông tin hoặc thông tin sai lệch (do cố tình
hoặc cố ý). Các loại thông tin này còn nguy hiểm hơn là không có thông tin.
16
Thông thường với mọi người những thông tin chính thức qua các phương tiện
thông tin đại chúng có ảnh hưởng rất lớn tới việc hình thành thái độ của cá nhân,
nhóm.
5.3. Giao tiếp nhóm là một trong những yếu tố quyết định quá trình hình
thành thái độ của cá nhân
Mỗi cá nhân là thành viên của nhiều nhóm khác nhau. Thái độ của các
đựng khi đi đến quyết định này còn đáng quan tâm nhiều hơn nữa và một lần nữa
chứng minh sự cần thiết phải sớm giáo dục giới tính - một trách nhiệm của người
lớn với lứa tuổi vị thành niên. Trong một cuộc điều tra ở Việt Nam về thái độ của
thanh thiếu niên với vấn đề quan hệ tình dục cho thấy: 18% vị thành niên trong độ
tuổi 15 - 18 cho rằng ở tuổi họ, chuyện quan hệ tình dục không có gì quan trọng
miễn là cả hai cùng chấp nhân; 30% cho rằng tình yêu không thể thiếu yếu tố tình
dục (theo báo Giáo dục và Thời đại, số 52, năm 1996). Nhiều em còn coi chuyện
quan hệ tình dục là tất nhiên và bình thường nên đã bước vào quá sớm và quá dạn
dĩ đối với việc nạo thai. Điều tra của Đoàn thanh niên cho biết nhiều em không
biết mình có thai sau khi quan hệ tình dục, đến khi thai lớn mới biết. Điều tra ở
Thái Bình (1993) thấy 1/3 số trường hợp nạo thai muộn ở bệnh viện tỉnh là thanh
thiếu niên.
2. Những nguy cơ dễ xảy ra khi vị thành niên quan hệ tình dục sớm.
*. Mang thai và sinh đẻ sớm:
Những cô gái trẻ lỡ mang thai thường phải đối diện với nhiều sự lựa chọn
khắc nghiệt: giữ thai buộc bạn trai phải cưới hay phá thai để tránh tai tiếng và khó
khăn. Những thai nghén ở các bạn gái trẻ thường dễ bị đẻ non và tỉ lệ tử vong cao.
Nguy cơ cho thai nhi của các cô gái trẻ còn do bệnh của bạn tình đem lại (nhất là
HIV), do họ tìm mọi cách phá thai bằng thứ thuốc có hại, nên tăng tỉ lệ dị tật của
18
thai, tăng tỉ lệ tử vong của trẻ có mẹ quá trẻ, lớn hơn 30% so với trẻ có mẹ lớn
tuổi.
*. Nạo thai không an toàn:
Nạo thai không an toàn nghĩa là khi thủ thuật này không được thực hiện bởi
những người không được trang bị đầy đủ kĩ năng và tại cơ sở không có điều kiện
tốt, nên rất nguy hiểm cho sức khoẻ, thậm chí đe doạ tính mạng. Theo tạp chí
SKSS (1998), ước tính nạo thai ở tuổi 15 - 19 ít nhất cũng có khoảng 5 triệu ca
trong tổng số ước đoán là 50 triệu ca phá thai hàng năm (tức là chiếm 10% không
an toàn).
*. Các bệnh lây truyền qua đường tình dục: là hậu quả của hành vi tình dục
sao? Liệu họ có thể trưởng thành một cách bình thường?
II. KHÁI NIỆM HỌC SINH PHỔ THÔNG TRUNG HỌC.
1. Quan niệm về lứa tuổi.
Trong các lĩnh vực nghiên cứu, có rất nhiều quan điểm khác nhau về lứa
tuổi như sau:
- Quan điểm sinh vật: coi yếu tố dầu tiên để xác định lứa tuổi là sự tiến hoá
của cơ thể. Các quá trình sinh vật của sự trưởng thành quyết định mọi cái
khác.
- Quan điểm xã hội học: các nhà xã hội học chú ý hết sức đến tính xã hội hoá
và coi mức độ xã hội hoá của cá thể là tiêu chí quyết định sự phát triển.
- Quan điểm phân tâm học: các nhà phân tâm học quan tâm nhiều đến tính
dục, coi nó là nhân tố chi phối sự phát triển của lứa tuổi này.
- Quan điểm tâm lí học: các nhà lí luận tâm lí học tập trung vào quy luật tiến
hoá của tâm lí, ý thức là cái cơ bản quy định sự phát triển.
20
Ta biết rằng học sinh PTTH nằm trong độ tuổi 15 - 18. Có rất nhiều cách
gọi tên giai đoạn lứa tuổi này như:
+ Tuổi vị thành niên (Vũ Dũng - tâm lí học tuổi vị thành niên trên tạp chí
tâm lí học số 4 (8 -1998)).
+ Tuổi chưa thành niên (luật dân sự, điều 119; luật lao động, điều 1; nghị
định 141/HĐBT 13-11-1986).
+ Tuổi khủng hoảng, tuổi bất trị (tâm lí học phát triển).
2. Đặc điểm tâm - sinh lí lứa tuổi.
Bất cứ một con người nào để đánh giá một cách chính xác đều phải xem xét
cả hai mặt nội dung và hình thức. Và trong sự phát triển con người, hai yếu tố tâm
lí và sl không thể tách rời, đặc biệt là giai đoạn có nhiều biến chuyển mà được
Xoll (Mĩ) so sánh với “thời kĩ lãng mạn” trong lịch sử loài người, đó là lứa tuổi vị
thành niên, mà học sinh phổ thông th thuộc giai đoạn lứa tuổi này.
*. Về mặt sinh lí: học sinh phổ thông th phát triển cơ thể rất nhanh cả về
chiều cao và cân nặng (xương, cơ, trọng lượng). Đồng thời có sự phát triển khá
Tuổi vị thành niên và tuổi tuổi được coi là người lớn được quan niệm khác nhau ở
mỗi nền văn hoá và mỗi thời đại. Nhưng có một thực tế là tuổi trẻ hiện nay chịu
nhiều ảnh hưởng xã hội bên ngoài, chúng nhìn vào bạn bè hơn là nhìn vào cha mẹ
để hình thành các giá trị, hoài bão và các kiểu hành vi Tuổi này cũng bắt đầu
tuổi yêu đương và tình yêu học trò phát triển nhẹ nhàng, hồn nhiên vì thiếu hiểu
biết về sinh lí sinh sảng và kĩ năng sống nên các em dễ vấp phải nhiều sự cố tới
sức khoẻ. Tình dục giờ đây cũng được nhìn nhận như một thực thể sức khoẻ và
con người cần được đảm bảo những quyền về tình dục. Thời đại ngày nay còn đặc
trưng là sự gia tăng sức ép dân số gây cản trở cho sự phát triển của xã hội và nâng
22
cao chất lượng dân số, xuất hiện đại dịch AIDS, các căn bệnh xã hội và nạn ma
tuý - nỗi lo cho con em và thế hệ mai sau của toàn nhân loại. Do đó, cách tiếp cận
những vấn đề của thanh thiếu niên không thể không tính đến bối cảnh này.
Như vậy, đặc trưng tâm lí và môi trường sống là những yếu tố quy định
đời sống xã hội chi phối đến nhiều mặt cuộc sống của con người mà theo chúng
tôi, nó ảnh hưởng lớn tới một vấn đề nào đó. Vì thế, khi nghiên cứu thái độ của
các em không thể bỏ qua đời sống tình cảm, đặc trưng tâm lí lứa tuổi của chúng
và đặc biệt là hoàng cảnh chúng sống có tác động về mặt tâm lí ra sao. Nắm rõ
được điều này, chúng ta như có một chiếc chìa khoá để mở cánh cửa đi vào tìm
hiểu các khía cạnh trong thái độ của các em để có những đánh giá xuất sắc nhất.
II. KHÁI NIỆM GIÁO DỤC SKSSVTN.
Giáo dục SKSSVTN là một chủ đề giáo dục lớn trong nhiều năm qua nhằm
thúc đẩy cuộc vận động kế hoạch hoá gia đình, phòng chống lây nhiễm
HIV/AIDS. Giáo dục SKSSVTN là nội dung lớn và rất quan trọng trong giáo dục
giới tính. Để có cái nhìn sâu hơn về thuật ngữ này, trước hết ta đi vào tìm hiểu về
khái niệm giáo dục giới tính.
1. Giáo dục giới tính là gì.
- Theo Đào Xuân Dũng (trung tâm nghiên cứu giới và gia đình): giáo dục
giới tính là môn học nhằm chuẩn bị cho thanh thiếu niên những hiểu biết để bước
vào đời, để biết ứng xử với nhau và với mọi người một cách tôn trong và có trách
khu vực và trên thế giới. Ngoài vấn đề giáo dục SKSS nằm trong giáo dục chính
24
thức thuộc công tác giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, thì giáo dục SKSS là thực sự
cần thiết trong chiến lược kiểm soát dân số và bảo vệ sức khoẻ con người.
Mối quan tâm lớn của xã hội đối với SKSSVTN nói chung đã được xác
định rõ qua bốn tiêu chí sau:
+ Những hiểu biết về sự phát triển tính dục.
+ Quan hệ tình dục sớm, dẫn tới nạo phá thai không an toàn và chấn thương
tâm lí.
+ Các bệnh có nguy cơ lây nhiễm qua đường tình dục.
+ Công tác kế hoạch hoá gia đình và phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS.
Sở dĩ, giáo dục SKSS được cộng đồng hết sức quan tâm vì hai lí do sau:
*. Bối cảnh xã hội hiện đại có nhiều nguy cơ đe doạ SKSS của vị thành
niên.
Đất nước đang trên đà phát triển, nhiều hoàn cảnh cám dỗ và tiêu cực ảnh
hưởng xấu đến sự phát triển của vị thành niên (đua đòi hưởng thụ, xa rời truyền
thống văn hoá dân tộc ), sự đe doạ thường trực của nguy cơ lây nhiễm
HIV/AIDS mà vị thành niên chưa ý thức được đầy đủ; sự cần thiết phải khống chế
gia tăng dân số mà vị thành niên cần phải được giáo dục để có thể nhập cuộc có
hiệu quả. Những nỗ lực của xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo vệ
giống nòi và nếp sống có văn hoá càng đòi hỏi quan tâm đến SKSS. Những điều
tra, kiểm soát ở nước ta trong những năm gần đây về hành vi tình dục vị thành
niên đã cung cấp những thông tin đáng lo ngại: tỉ lệ nạo phá thai tăng, mang thai
và sinh đẻ sớm với những biến chứng tức thì và lâu dài của những động thái này.
Nếu vị thành niên hành động sai lệch với giá trị văn hoá và đạo đức thì sẽ ảnh
hưởng đến nhiều mặt của đời sống như sức khoẻ, đạo đức, phong tục tập quán,
chất lượng nòi giống, kiểm soát dân số và mối quan hệ nam nữ lành mạnh.
25